In bài viết

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/8/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/8/2026.

05/08/2026 19:50
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/8/2026- Ảnh 1.

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026 – 2027

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 5/8/2026 về thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2026 - 2027.

Chỉ thị nêu: Thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, toàn ngành Giáo dục có nhiều nỗ lực trong việc hoàn thiện thể chế, chính sách về giáo dục và đào tạo; đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nhất là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh chuyển đổi số; chuẩn bị đội ngũ nhà giáo, trường lớp, sách giáo khoa, các điều kiện cho năm học mới. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng thiếu trường, thiếu lớp, thiếu cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, đặc biệt là tại địa bàn tăng dân số nhanh; thừa, thiếu giáo viên cục bộ còn diễn ra ở nhiều địa phương; tình trạng bạo lực học đường diễn biến phức tạp; việc tổ chức thi tốt nghiệp trung học phổ thông tại một số địa phương còn chưa nghiêm túc, ảnh hưởng tiêu cực tới toàn ngành Giáo dục.

Trên cơ sở phát huy những kết quả đạt được, nhằm tạo chuyển biến rõ nét, thực chất trong năm học mới 2026 - 2027 theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW và chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan liên quan; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương thức quản lý giáo dục, chuyển mạnh từ tư duy "quản lý giáo dục" sang "quản trị phát triển giáo dục"; tập trung khắc phục triệt để những hạn chế, bất cập, khó khăn, vướng mắc; tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Khắc phục bệnh thành tích trong dạy, học

Trong đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan, các địa phương tiếp tục rà soát, hoàn thiện đồng bộ thể chế, chính sách, pháp luật về giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW; kịp thời phát hiện, sửa đổi, bổ sung, thay thế các quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn, không còn phù hợp, bảo đảm không để khoảng trống pháp lý trong quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Xây dựng bộ chỉ số theo dõi, giám sát việc thực hiện các mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo.

Tăng cường kỷ cương, nâng cao trách nhiệm thực thi nhiệm vụ; xây dựng văn hóa trung thực, liêm chính, thực chất; có giải pháp cụ thể để khắc phục bệnh thành tích trong dạy, học và kiểm tra, đánh giá; không chạy theo tỉ lệ lên lớp, tỉ lệ tốt nghiệp, bảo đảm đánh giá thực chất năng lực người học.

Hướng dẫn các địa phương tiếp tục rà soát, sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên công lập theo hướng hình thành cơ sở giáo dục có quy mô lớn gắn với cơ cấu lại mạng lưới trường lớp, tổ chức bộ máy, đội ngũ nhân sự; rà soát, giải thể các điểm trường lẻ không đạt tiêu chuẩn cơ sở vật chất tối thiểu ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tập trung hình thành các trường nội trú, bán trú tại điểm trường chính. Hướng dẫn cụ thể về phương thức quản trị, quy mô của cơ sở giáo dục ngay sau khi ổn định việc sắp xếp; rà soát, hoàn thiện các quy định về phân cấp, thẩm quyền, nhiệm vụ quản lý nhà nước của cấp tỉnh, cấp xã. Nghiên cứu cơ chế thí điểm mô hình quản trị đối với hệ thống trường công, trường tư trên cùng một địa bàn.

Triển khai phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi và thực hiện giáo dục bắt buộc trung học cơ sở; tổ chức thực hiện thí điểm Chương trình giáo dục mầm non mới. Triển khai hiệu quả một bộ sách giáo khoa giáo dục phổ thông thống nhất trong cả nước, bảo đảm cung ứng đầy đủ sách giáo khoa trước ngày 15 tháng 8 năm 2026. Tăng cường dạy và học ngoại ngữ, dạy ngôn ngữ của các nước láng giềng, từng bước đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Đẩy nhanh lộ trình tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, tăng cường giáo dục STEM/STEAM, kỹ năng số, giáo dục thể chất và thể thao trường học, nghệ thuật, hướng nghiệp và các hoạt động phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.

Tăng cường phòng, chống gian lận trong các kỳ thi

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá, bảo đảm thực chất, hiệu quả; giảm áp lực thi cử; chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trường học; tăng cường phòng, chống gian lận trong các kỳ thi, nhất là trong Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông, xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định. Chỉ đạo, hướng dẫn địa phương rà soát, cắt giảm các kỳ thi, cuộc thi không cần thiết; giảm áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh.

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ hướng dẫn các địa phương cơ cấu lại đội ngũ theo hướng tăng giáo viên trực tiếp giảng dạy; hoàn thành rà soát, sắp xếp lại đội ngũ giáo viên, tuyển dụng đủ giáo viên theo quy định ngay từ đầu năm học 2026 - 2027. Chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị quyết liên quan đến số lượng cấp phó của các cơ sở giáo dục, hướng dẫn cụ thể việc cơ cấu lại vị trí việc làm và các nội dung cần thiết khác khi thực hiện sắp xếp theo trình tự, thủ tục rút gọn, bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định.

Nghiên cứu, đề xuất chính sách thu hút nhà giáo, nhất là giáo viên các môn học đặc thù và công tác ở vùng khó khăn; sửa đổi quy định về định mức, chế độ làm việc của giáo viên phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo; khẩn trương sửa đổi, hoàn thiện các tiêu chí, tiêu chuẩn, định mức về trường chuẩn quốc gia, cơ sở vật chất, trường, lớp học phù hợp với yêu cầu đổi mới, điều kiện thực tế của từng vùng, miền, địa phương. Hướng dẫn các địa phương đầu tư xây dựng trường, lớp học kiên cố; bổ sung phòng học, phòng học bộ môn, thư viện, phòng chức năng, nhà tập, sân tập thể dục thể thao và thiết bị thí nghiệm, thực hành, STEM/STEAM, công nghệ thông tin; ưu tiên bố trí nguồn lực để học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được tiếp cận bình đẳng với giáo dục có chất lượng; thu hẹp khoảng cách về điều kiện học tập giữa các vùng, miền và giữa các trường.

Hoàn thành sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập; khuyến khích phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục, đào tạo nghề tại doanh nghiệp; tập trung phát triển các trường cao đẳng đào tạo nhân lực kỹ năng nghề cao, trường chất lượng cao, trường đạt chuẩn quốc tế.

Xây dựng và triển khai Chiến lược phát triển giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao, nhất là trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đối số. Hoàn thành sắp xếp, tái cấu trúc hệ thống cơ sở giáo dục đại học công lập; khuyến khích phát triển các cơ sở giáo dục đại học tư thục; tập trung đầu tư phát triển các trường đại học trọng điểm, đại học tinh hoa, trung tâm đào tạo, nghiên cứu xuất sắc.

Phòng, chống bạo lực học đường

Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, kỹ năng số, văn hóa ứng xử, tinh thần trách nhiệm, khát vọng cống hiến và ý thức chấp hành pháp luật cho học sinh, sinh viên; nâng cao chất lượng giáo dục quốc phòng và an ninh trong các cơ sở giáo dục; tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ Tổ quốc trong học sinh, sinh viên. Nâng cao hiệu quả công tác tư vấn tâm lý, sức khỏe học đường, thể thao trường học; hướng dẫn các địa phương tổ chức bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hợp lý, an toàn thực phẩm. Xây dựng văn hóa học đường theo hướng toàn diện, thiết thực trên nền tảng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, kỷ cương, nhân văn; phòng, chống bạo lực học đường, tệ nạn xã hội và các nguy cơ trên môi trường mạng; chú trọng trang bị cho học sinh năng lực tự bảo vệ bản thân, khả năng nhận diện và chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa; kiểm soát phù hợp việc sử dụng mạng xã hội, điện thoại thông minh và trí tuệ nhân tạo đối với trẻ em vị thành niên. Tăng cường trách nhiệm của chính quyền các cấp và cha mẹ học sinh trong tổ chức thực hiện.

Tập trung chuyển đổi số toàn diện trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; xây dựng hệ sinh thái giáo dục số thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát trong quản trị, tổ chức dạy và học, kiểm tra đánh giá phù hợp với từng cấp học, trình độ đào tạo, điều kiện vùng, miền, địa phương. Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, cơ sở dữ liệu giáo dục quốc gia, nhất là cơ sở dữ liệu về học bạ, văn bằng chứng chỉ; bảo đảm dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống, liên thông, thống nhất, dùng chung" và kết nối thông suốt với hệ thống các cơ sở dữ liệu quốc gia. Đẩy mạnh quản trị, điều hành trên môi trường số; giảm tối đa hồ sơ giấy, thủ tục hành chính liên quan; phát triển các nền tảng học tập số dùng chung.

Chấm dứt tình trạng "xã trắng" không có người phụ trách giáo dục

Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các địa phương xây dựng cơ chế quản lý biên chế giáo viên theo hướng linh hoạt, sát thực tiễn, gắn với quy mô học sinh, lớp học, đặc thù vùng miền; sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục theo quy mô dân số, quy hoạch đô thị, nhu cầu nhân lực của địa phương, của vùng và của cả nước; phân cấp giao tổng biên chế cho địa phương tự chủ tuyển dụng và sử dụng dựa trên định mức thực tế học sinh/lớp.

Khẩn trương tổng hợp, báo cáo thực trạng đội ngũ công chức quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo cấp xã và đề xuất phương án xử lý; rà soát, bố trí nhân sự hợp lý, nâng tỷ lệ công chức quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có trình độ chuyên môn, bảo đảm cấp xã có người đủ năng lực tham mưu, quản lý lĩnh vực giáo dục và đào tạo, chấm dứt tình trạng "xã trắng" không có người phụ trách giáo dục trong năm 2026.

Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan liên quan, các địa phương xây dựng phương án quản lý sử dụng điện thoại thông minh, mạng xã hội trong trường học phù hợp với từng cấp học; bảo đảm hạn chế rủi ro, ngăn chặn bạo lực học đường từ mạng xã hội, kiểm soát các nội dung độc hại trên không gian mạng có thể tác động tới học sinh; chỉ đạo công an các địa phương phối hợp chặt chẽ với ngành Giáo dục trong phòng ngừa, phát hiện sớm, đấu tranh, xử lý kịp thời hành vi bạo lực học đường, mua bán, sử dụng thuốc lá điện tử, ma túy, xâm hại trẻ em, các tệ nạn xã hội khác trong và xung quanh trường học; bảo đảm an ninh, an toàn giao thông, an toàn trên không gian mạng cho học sinh, sinh viên.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tập trung chỉ đạo các sở, ban, ngành trực thuộc, Ủy ban nhân dân các xã, phường, đặc khu trên địa bàn, các đơn vị liên quan tập trung, ưu tiên cao nhất việc chuẩn bị năm học mới 2026 - 2027, bảo đảm đủ giáo viên, đủ cơ sở vật chất, đủ trường, đủ lớp, đủ sách giáo khoa, thiết bị dạy học. Chủ động bố trí ngân sách địa phương và huy động nguồn lực hợp pháp khác để hỗ trợ người học, giáo viên ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiếu số, miền núi, biên giới, hải đảo, khu công nghiệp, khu chế xuất; bố trí kinh phí hỗ trợ bữa ăn bán trú, thiết bị học tập, đồ dùng học tập, trường lớp bán trú, nội trú, phương tiện đi lại cho học sinh và nhà công vụ cho giáo viên.

Thực hiện sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý đúng quy định, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Nội vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo; bảo đảm quyền học tập và cơ hội tiếp cận giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho học sinh đến trường, không làm phát sinh rào cản địa lý và chi phí. Kịp thời giải quyết chế độ, chính sách đối với viên chức, nhân viên, người lao động chịu tác động của việc sắp xếp, việc bảo lưu phụ cấp lãnh đạo quản lý cơ sở giáo dục theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ.

Rà soát, hoàn thiện quy hoạch các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên trên địa bàn; ưu tiên bố trí nguồn lực xây dựng đồng bộ các trường học, cơ sở giáo dục tương thích với quy mô dân số, bảo đảm đủ trường, đủ lớp theo quy định; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về quỹ đất, thủ tục đầu tư xây dựng trường học tại địa bàn có sự gia tăng dân số cơ học, đô thị lớn, khu công nghiệp, vùng khó khăn, biên giới, hải đảo; chuyển đổi, tận dụng các công trình, trụ sở dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính, cơ quan, đơn vị thành cơ sở giáo dục, y tế theo quy định.

Điều chuyển, giảm biên chế viên chức quản lý giáo dục và nhân viên hỗ trợ giáo dục, tăng biên chế viên chức giảng dạy trực tiếp, nhất là đối với các cơ sở giáo dục thực hiện sắp xếp lại; bảo đảm mỗi xã có công chức quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có trình độ chuyên môn và hạn chế kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực ngoài giáo dục. Thực hiện điều động, thuyên chuyển giáo viên để khắc phục thừa, thiếu cục bộ; tổ chức tuyển dụng, sử dụng hiệu quả số biên chế được giao, bảo đảm tập trung, công khai, minh bạch.

Thực hiện nghiêm các quy định về kiểm tra, đánh giá; khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục, bảo đảm đánh giá thực chất năng lực người học; xử lý nghiêm việc báo cáo không đúng thực tế. Tăng cường phòng, chống gian lận trong thi cử, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, nhất là trong tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2027 trên địa bàn; tập trung khắc phục hiệu quả những hạn chế, bất cập; chú trọng phòng ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi gian lận. Người đứng đầu các cấp chính quyền địa phương, cơ sở giáo dục, cơ quan chức năng, cơ quan có liên quan chịu trách nhiệm bảo đảm công tác kiểm tra, đánh giá, thi cử công bằng, trung thực, minh bạch, khách quan, hiệu quả theo quy định.

Chống lạm thu

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương rà soát kỹ, đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá, thi cử, tuyển sinh đầu cấp theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; giảm các kỳ thi, cuộc thi không cần thiết; giảm áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh. Thực hiện công khai, minh bạch các khoản thu theo quy định; công khai số điện thoại tiếp nhận phản ánh về lạm thu, dạy thêm, học thêm trái quy định; xử lý nghiêm người đứng đầu cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý trực tiếp nếu để xảy ra lạm thu, ép buộc hoặc gợi ý học thêm trái quy định, gây áp lực đối với học sinh và cha mẹ học sinh.

Tăng cường tư vấn tâm lý học đường, vệ sinh an toàn thực phẩm, sức khỏe tâm lý học sinh; giám sát an toàn trường học, phòng, chống bạo lực học đường, thuốc lá điện tử, ma túy học đường và các tệ nạn xã hội khác; chỉ đạo các lực lượng công an, y tế, đoàn thể, nhà trường, gia đình phối hợp chặt chẽ trong phòng ngừa, phát hiện sớm, xử lý kịp thời các nguy cơ mất an toàn trong và xung quanh trường.

Các tỉnh, thành phố có các xã biên giới đất liền ưu tiên cao nhất các nguồn lực tập trung xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp, bảo đảm tiến độ, chất lượng theo quy định, trong đó các công trình xây dựng đợt 1 (khởi công năm 2025) hoàn thành trước ngày 30 tháng 8 năm 2026; có phương án cụ thể, thiết thực để vận hành nhà trường khi đi vào hoạt động; chịu trách nhiệm trước Trung ương, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong trường hợp chậm tiến độ, không bảo đảm chất lượng, phát sinh lãng phí, tiêu cực.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/8/2026- Ảnh 2.

Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới 

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 208/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

Mục tiêu của Chương trình nhằm bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và sự nỗ lực, chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và từng người dân.

Cụ thể hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tại Kết luận số 75-KL/TW và Chương trình hành động số 31-CTr/TW; tạo chuyển biến rõ rệt trong quản trị môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, các-bon thấp. Chương trình hành động của Chính phủ là căn cứ để các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện, bảo đảm đồng bộ và hiệu quả.

Triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo nguyên tắc rõ việc, rõ cơ quan chủ trì, rõ cơ quan phối hợp, rõ thời hạn, rõ sản phẩm và rõ nguồn lực; mỗi nhiệm vụ chỉ giao một cơ quan chủ trì, bảo đảm có thể kiểm tra, đo lường và gắn với trách nhiệm. Kế thừa, lồng ghép các chương trình, kế hoạch, đề án đang triển khai...

9 Giải pháp trọng tâm

Chương trình đưa ra 9 giải pháp thực hiện gồm: 1- Tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, huy động sự tham gia của toàn xã hội trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; 2- Hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi; 3- Huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; 4- Giải quyết các vấn đề bức xúc về môi trường; phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường; 5- Bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và sử dụng hiệu quả tài nguyên; 6- Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai; 7- Đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp, tăng cường quản lý phát thải khí nhà kính; 8- Phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực; 9- Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế.

Tập trung giải quyết tình trạng ô nhiễm không khí tại thành phố và đô thị lớn

Trong đó, Chương trình triển khai khắc phục ô nhiễm và quản lý chất lượng môi trường không khí, tập trung giải quyết tình trạng ô nhiễm không khí tại Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn; giải quyết tình trạng ô nhiễm nước tại các lưu vực sông, kênh, mương, hồ và đoạn sông ưu tiên; đẩy nhanh đầu tư hạ tầng thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt đô thị, cụm công nghiệp, làng nghề; kiểm soát tổng thải lượng chất ô nhiễm tại những khu vực nhạy cảm, áp lực môi trường lớn phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường.

Nâng cao hiệu quả phân loại chất thải rắn sinh hoạt phục vụ phát triển kinh tế tuần hoàn; đầu tư đồng bộ thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý kết hợp thu hồi năng lượng; giảm tỷ lệ chất thải chôn lấp trực tiếp; thúc đẩy trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu và thị trường vật liệu thứ cấp.

Chủ động nhận diện và quản lý các chất thải mới phát sinh từ quá trình chuyển đổi xanh; kiểm soát nhập khẩu công nghệ, thiết bị lạc hậu, tiêu hao nhiều tài nguyên và có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

Đẩy mạnh xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề gắn với bảo tồn, phát triển ngành nghề nông thôn theo hướng xanh, tuần hoàn và bền vững. Tập trung xử lý ô nhiễm tại các khu vực khai thác - chế biến khoáng sản, khu vực tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật và các điểm nóng ô nhiễm khác.

Phát triển các đô thị chống chịu với biến đổi khí hậu

Đồng thời, rà soát, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật công trình có xét đến yêu cầu ứng phó với biến đổi khí hậu; thực hiện giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu.

Chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng có khả năng chống chịu cao với bão, lũ, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn và các tác động do biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Phát triển các đô thị chống chịu với biến đổi khí hậu, tập trung giải quyết ngập úng do mưa lớn cực đoan, triều cường ở các đô thị lớn.

Phát triển các mô hình nông nghiệp thông minh, giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đầu tư xây dựng lực lượng, phương tiện đủ khả năng ứng phó, khắc phục kịp thời thiệt hại khi có thiên tai xảy ra; triển khai các giải pháp thích ứng đặc thù theo vùng, dựa vào tự nhiên, hệ sinh thái, cộng đồng cho các khu vực có nguy cơ cao tại các khu vực trung du, miền núi phía Bắc, duyên hải miền Trung, đồng bằng sông Cửu Long; quy hoạch lại các khu dân cư, thực hiện di dân khỏi các vùng rủi ro cao, kết hợp với bảo đảm sinh kế và nâng cao chất lượng chăm sóc y tế cho người dân...

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/8/2026- Ảnh 3.

Quy định chi tiết về điều kiện, trình tự, thủ tục cấp phép thành lập Sở giao dịch hàng hóa

Chính phủ ban hành Nghị định số 302/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.

Nghị định này quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa, bao gồm:

1. Hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.

2. Điều kiện thành lập Sở giao dịch hàng hóa, quyền hạn, trách nhiệm của Sở giao dịch hàng hóa và việc phê duyệt Điều lệ hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa.

3. Điều kiện hoạt động của thương nhân môi giới mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.

4. Các biện pháp quản lý trong trường hợp khẩn cấp.

5. Quyền hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở nước ngoài

Nghị định này áp dụng đối với Sở giao dịch hàng hóa và các tổ chức, cá nhân khác liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hóa.

Điều kiện thành lập Sở giao dịch hàng hóa

Doanh nghiệp đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa phải đáp ứng các điều kiện sau:

1. Là doanh nghiệp thành lập tại Việt Nam, trường hợp là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổng tỷ lệ vốn góp của các nhà đầu tư nước ngoài không được quá 49%.

2. Vốn điều lệ từ 1.500 tỷ đồng trở lên.

3. Có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành an toàn, ổn định và bảo mật, bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Nền tảng giao dịch điện tử bảo đảm hoạt động thông suốt, an toàn, có khả năng xử lý và lưu trữ dữ liệu giao dịch, sửa lệnh, hủy lệnh, kết quả khớp lệnh theo thời gian thực;

b) Có khả năng kết nối, trao đổi dữ liệu với Trung tâm thanh toán bù trừ nhằm bảo đảm hoạt động ký quỹ, thanh toán bù trừ và quản lý rủi ro trong giao dịch được thực hiện chính xác, kịp thời;

c) Hệ thống giám sát giao dịch có khả năng theo dõi, phát hiện, cảnh báo và lưu giữ dữ liệu phục vụ công tác quản lý, giám sát hoạt động giao dịch hàng hóa;

d) Yêu cầu về an ninh mạng, an ninh thông tin mạng, an ninh dữ liệu và dự phòng bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật và khả năng khôi phục hệ thống khi xảy ra sự cố;

đ) Có khả năng kết nối với thành viên và cơ quan quản lý nhà nước bảo đảm tính mở, an toàn, đồng bộ và cung cấp dữ liệu chính xác, minh bạch.

4. Có mô hình, tổ chức hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa và có giải pháp, lộ trình niêm yết hàng hóa sản xuất tại Việt Nam.

5. Có Dự thảo Điều lệ hoạt động đáp ứng quy định tại Điều 13 Nghị định này.

Hồ sơ đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa

Nghị định quy định hồ sơ đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa bao gồm:

1. Văn bản đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa theo Mẫu 01.GĐN quy định tại Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

2. Báo cáo mô tả hệ thống công nghệ thông tin và các tài liệu chứng minh đáp ứng điều kiện về hệ thống công nghệ thông tin theo quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định này.

3. Đề án giải trình về mô hình, tổ chức hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa và giải pháp, lộ trình niêm yết hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trong thời gian 05 năm.

4. Dự thảo Điều lệ hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa phù hợp với quy định tại Điều 13 Nghị định này.

Bộ Công Thương hướng dẫn chi tiết quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này.

Cấp giấy phép thành lập Sở giao dịch hàng hóa

Bộ Công Thương là cơ quan tiếp nhận hồ sơ và chịu trách nhiệm thẩm tra các điều kiện và hồ sơ đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa theo quy định tại Nghị định này.

Trong quá trình thẩm tra, Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Nghị định này để đánh giá hồ sơ đề nghị thành lập Sở giao dịch hàng hóa. Thời hạn trả lời bằng văn bản không quá 07 ngày làm việc.

Trình tự cấp Giấy phép thành lập Sở giao dịch hàng hóa

Doanh nghiệp nộp 01 bộ hồ sơ về Bộ Công Thương theo một trong ba cách: gửi trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính, thành phần hồ sơ là bản chính hoặc bản sao; trường hợp nộp hồ sơ qua Cổng dịch vụ công quốc gia, thành phần hồ sơ là bản điện tử theo quy định của pháp luật.

Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ, trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ của doanh nghiệp, Bộ Công Thương có văn bản yêu cầu doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung; trong vòng 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản, doanh nghiệp có trách nhiệm bổ sung hồ sơ gửi Bộ Công Thương.

Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Bộ Công Thương có trách nhiệm thẩm tra, cấp Giấy phép thành lập Sở giao dịch hàng hóa và phê chuẩn Điều lệ hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa trong trường hợp đáp ứng đủ điều kiện theo quy định. Trường hợp từ chối cấp Giấy phép, Bộ Công Thương trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/9/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/8/2026- Ảnh 4.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 28/2019/NĐ-CP ngày 20/3/2019 của Chính phủ quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Quân đội nhân dân 

Chính phủ ban hành Nghị định số 305/2026/NĐ-CP ngày 03/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 28/2019/NĐ-CP ngày 20/3/2019 của Chính phủ quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo trong Quân đội nhân dân.

Cụ thể, Nghị định số 305/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 1 (về phạm vi điều chỉnh), Điều 2 (về đối tượng áp dụng) của Nghị định số 28/2019/NĐ-CP theo hướng bổ sung thêm 3 nhóm đối tượng gồm: Người làm việc trong tổ chức cơ yếu trong Ban Cơ yếu Chính phủ thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; công chức quốc phòng và lao động hợp đồng thuộc Bộ Quốc phòng.

Theo Bộ Quốc phòng, việc bổ sung 3 nhóm đối tượng này nhằm đảm bảo phù hợp với Hiến pháp, thống nhất với pháp luật hiện hành và phù hợp thực tiễn giải quyết tố cáo trong Quân đội nhân dân.

Bổ sung thẩm quyền giải quyết trong trường hợp tố cáo nhiều quân nhân có chức vụ khác nhau

Bên cạnh đó, Nghị định số 305/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 7,8,9 vào sau khoản 6 Điều 5 theo hướng xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo trong các trường hợp tố cáo nhiều quân nhân có chức vụ khác nhau, trong đó có ít nhất 01 người là chỉ huy; trường hợp tố cáo nhiều quân nhân thuộc nhiều đơn vị khác nhau và thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo. Cụ thể như sau:

"7. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của nhiều quân nhân, người làm việc trong tổ chức cơ yếu, công chức quốc phòng, công nhân và viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng thuộc Bộ Quốc phòng, trong đó có ít nhất 01 người là chỉ huy về cùng một nội dung tố cáo được xử lý như sau:

a) Trường hợp những người bị tố cáo cùng cơ quan, đơn vị thì do người đứng đầu về hành chính quân sự của cơ quan, đơn vị cấp trên trực tiếp của người chỉ huy bị tố cáo giải quyết;

b) Trường hợp những người bị tố cáo không cùng cơ quan, đơn vị thì do người đứng đầu về hành chính quân sự của cơ quan, đơn vị cấp trên trực tiếp của người chỉ huy bị tố cáo chủ trì, giải quyết; người đứng đầu về hành chính quân sự của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quản lý người bị tố cáo khác phối hợp giải quyết;

c) Trường hợp những người bị tố cáo có từ 02 người trở lên là chỉ huy cơ quan, đơn vị khác nhau thuộc một cơ quan, đơn vị là cấp dưới trực tiếp của Bộ Quốc phòng thì do người đứng đầu về hành chính quân sự của cơ quan, đơn vị cấp dưới trực tiếp của Bộ Quốc phòng giải quyết hoặc xác định thẩm quyền giải quyết.

8. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của nhiều quân nhân, người làm việc trong tổ chức cơ yếu, công chức quốc phòng, công nhân và viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng thuộc Bộ Quốc phòng trực thuộc nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau được xử lý như sau:

a) Trường hợp cơ quan, đơn vị của những người bị tố cáo đều trực thuộc một cơ quan, đơn vị cấp trên trực tiếp quản lý thì do người đứng đầu về hành chính quân sự của cơ quan, đơn vị cấp trên đó giải quyết;

b) Trường hợp những người bị tố cáo trực thuộc nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau thì do người đứng đầu về hành chính quân sự cấp trên trực tiếp của các cơ quan, đơn vị nơi những người bị tố cáo đang công tác chủ trì giải quyết; người đứng đầu về hành chính quân sự của các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quản lý những người bị tố cáo phối hợp giải quyết;

Trường hợp không xác định được cơ quan, đơn vị cấp trên trực tiếp của các cơ quan, đơn vị nơi những người bị tố cáo đang công tác, thì người đứng đầu về hành chính quân sự của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quản lý một trong những người bị tố cáo nhận được đơn tố cáo chủ trì giải quyết; người đứng đầu về hành chính quân sự của các cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quản lý người bị tố cáo khác phối hợp giải quyết.

9. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, quân nhân, người làm việc trong tổ chức cơ yếu, công chức quốc phòng, công nhân và viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng thuộc Bộ Quốc phòng tại thời điểm có hành vi vi phạm thuộc quyền quản lý của mình mà không thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều này.".

Bổ sung trách nhiệm của người giải quyết tố cáo

Đặc biệt, Nghị định số 305/2026/NĐ-CP cũng bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 17 về trách nhiệm của Chánh Thanh tra các cấp theo hướng quy trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo và các quy định thời hạn cơ quan thanh tra cùng cấp hoặc cơ quan tham mưu về công tác quản lý và giải quyết tố cáo phải báo cáo kết quả theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận nội dung tố cáo cho người có thẩm quyền, tránh tình trạng treo vụ việc, không giải quyết dứt điểm. Cụ thể như sau:

"4. Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc hoặc giao cơ quan thanh tra cùng cấp hoặc giao cơ quan, đơn vị tham mưu về công tác quản lý và giải quyết tố cáo theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận nội dung tố cáo.

Cơ quan thanh tra cùng cấp hoặc cơ quan, đơn vị tham mưu về công tác quản lý và giải quyết tố cáo có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận nội dung tố cáo, định kỳ hàng tháng báo cáo với người giải quyết tố cáo về kết quả theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận nội dung tố cáo.".

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17/9/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/8/2026- Ảnh 5.

Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao 

Chính phủ ban hành Nghị định số 306/2026/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao. 

 Chức năng, nhiệm vụ của Bộ Ngoại giao

Nghị định nêu rõ, Bộ Ngoại giao là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng thống nhất quản lý nhà nước về đối ngoại trong hệ thống chính trị, gồm: Công tác ngoại giao nhà nước, biên giới, lãnh thổ quốc gia, công tác về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, công tác lãnh sự, bảo hộ công dân, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, quản lý các cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài (cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) và hoạt động của các cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Ngoại giao theo quy định của pháp luật.

Bộ Ngoại giao có chức năng tham mưu định hướng chiến lược, giúp việc trực tiếp, thường xuyên cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực hiện thống nhất quản lý trong hệ thống chính trị về công tác đối ngoại; tổ chức triển khai đường lối, chủ trương, chính sách và các hoạt động đối ngoại Đảng, đối ngoại của Quốc hội và Nhà nước; giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo công tác đối ngoại nhân dân, đối ngoại tại địa phương theo quy định.

Về công tác đối ngoại đa phương và các vấn đề quốc tế, Bộ Ngoại giao có nhiệm vụ nghiên cứu, dự báo, tham mưu xây dựng và triển khai chủ trương, chính sách, chiến lược, chương trình, kế hoạch về đối ngoại đa phương và xử lý các vấn đề chính trị đối ngoại liên quan đến các vấn đề quốc tế có tính chất liên ngành; thực hiện chức năng đầu mối quốc gia, chủ trì, điều phối, phối hợp tham mưu nội dung, lập trường, phương án tham gia của Việt Nam tại các cơ chế, thể chế, diễn đàn đa phương và trong xử lý các vấn đề quốc tế thông qua các hoạt động đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và ngoại giao nghị viện theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cấp có thẩm quyền; thực hiện nhiệm vụ cơ quan thường trực hoặc tham gia các cơ chế, thể chế, diễn đàn liên quan đến lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ...

Về công tác ngoại giao kinh tế, thực hiện chức năng đầu mối quốc gia, chủ trì, điều phối, phối hợp tham mưu nội dung, lập trường, phương án tham gia của Việt Nam tại các cơ chế, thể chế, diễn đàn và sáng kiến về hợp tác và liên kết kinh tế thông qua các hoạt động ngoại giao nhà nước theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cấp có thẩm quyền; tham gia các ủy ban quốc gia, đoàn đàm phán Chính phủ, ban chỉ đạo liên ngành liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế theo phân công.

Nghiên cứu, dự báo và thông tin về các vấn đề kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế và tác động đến Việt Nam; phối hợp tham mưu, xây dựng chủ trương, chính sách phục vụ điều hành kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, xử lý các vấn đề nảy sinh liên quan đến kinh tế đối ngoại và vận động chính trị, ngoại giao hỗ trợ các hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cấp có thẩm quyền; triển khai công tác ngoại giao kinh tế thuộc phạm vi chức năng của Bộ Ngoại giao và hỗ trợ các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp xây dựng và triển khai hoạt động ngoại giao kinh tế, ngoại giao chuyên ngành, kết nối, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác kinh tế quốc tế theo quy định...

Về công tác ngoại giao văn hóa, xây dựng cơ sở pháp lý, chính sách, chiến lược về công tác ngoại giao văn hóa; tham mưu, xử lý các vấn đề liên quan đến ngoại giao văn hóa theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; xây dựng và triển khai các chương trình, hoạt động ngoại giao văn hóa trong và ngoài nước thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Ngoại giao và thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam.

Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao nghiên cứu, tổng hợp tình hình, đề xuất và thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về người Việt Nam ở nước ngoài; thực hiện công tác đại đoàn kết dân tộc đối với người Việt Nam ở nước ngoài, chăm lo, tạo điều kiện thu hút nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài; tổ chức, hỗ trợ, tư vấn, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài trong các mối liên hệ với trong nước và ngược lại, đóng góp vào sự phát triển đất nước.

Hỗ trợ người Việt Nam ở nước ngoài ổn định cuộc sống, hòa nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ tiếng Việt và truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.

Về biên giới, lãnh thổ quốc gia, Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có liên quan và các địa phương theo quy định đề xuất chủ trương, chính sách, chiến lược, biện pháp và thực hiện nghiên cứu, tổng hợp, đánh giá tình hình biên giới, lãnh thổ quốc gia trên đất liền, hải đảo, các vùng trời, vùng biển của Việt Nam; giải quyết tranh chấp pháp lý về biên giới, lãnh thổ; đấu tranh bảo vệ biên giới, toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên đất liền, hải đảo, các vùng trời, vùng biển của Việt Nam; tham mưu, đề xuất xác định biên giới quốc gia, phạm vi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên đất liền, hải đảo, các vùng trời, vùng biển của Việt Nam.

Tham mưu, đề xuất và tổ chức đàm phán hoạch định biên giới, lãnh thổ quốc gia; phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền; xác định phạm vi và phân định ranh giới các vùng trời, vùng biển của Việt Nam với các nước láng giềng liên quan; ký kết, hợp tác và tổ chức triển khai thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến biên giới, lãnh thổ quốc gia với các nước liên quan; yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan, địa phương có liên quan báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về công tác quản lý, bảo vệ biên giới...

Về quản lý cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và thành viên của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài theo quy định; tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức, biên chế của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài;

Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và thành viên của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài theo quy định; tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tổ chức, biên chế của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài...

Cơ cấu tổ chức

Bộ Ngoại giao có 21 tổ chức hành chính giúp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm: Vụ Châu Âu; Vụ Châu Mỹ; Vụ Đông Bắc Á; Vụ Đông Nam Á - Nam Á - Nam Thái Bình Dương; Vụ Trung Đông - Châu Phi; Vụ Chính sách đối ngoại; Vụ Ngoại giao kinh tế; Vụ ASEAN; Vụ Ngoại giao đa phương và các vấn đề quốc tế; Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế; Vụ Thông tin Báo chí; Vụ Tổ chức Cán bộ; Văn phòng Bộ; Cục Cơ yếu - Công nghệ thông tin; Cục Lãnh sự; Cục Lễ tân Nhà nước và Phiên dịch đối ngoại; Cục Ngoại vụ và Ngoại giao văn hoá; Cục Quản trị Tài vụ; Sở Ngoại vụ Thành phố Hồ Chí Minh; Ủy ban Biên giới quốc gia; Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.

Học viện Ngoại giao; Báo Thế giới và Việt Nam là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Ngoại giao.

Ngoài ra, cơ cấu tổ chức của Bộ Ngoại giao còn có các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Đây là các cơ quan được Chính phủ thành lập và do Bộ Ngoại giao trực tiếp quản lý.

Ủy ban Biên giới quốc gia là Cục loại 1. Các Vụ: Tổ chức cán bộ, Luật pháp và Điều ước quốc tế, Châu Âu, Châu Mỹ, Đông Bắc Á, Đông Nam Á - Nam Á - Nam Thái Bình Dương được tổ chức 03 phòng; Vụ Trung Đông - Châu Phi được tổ chức 02 phòng.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/8/2026- Ảnh 6.

Quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp về chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp và Quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp 

Chính phủ ban hành Nghị định số 308/2026/NĐ-CP ngày 5/8/2026 quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục nghề nghiệp về chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp và Quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp.

Nghị định này quy định chi tiết về chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp; đối tượng, nguồn trích lập, mức trích lập, nhiệm vụ chi của Quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp theo quy định tại khoản 4 Điều 32 và khoản 2 Điều 35 Luật Giáo dục nghề nghiệp.

Khuyến khích doanh nghiệp hợp tác với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề

Về chính sách hỗ trợ, Nghị định quy định doanh nghiệp được khuyến khích hợp tác với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp để thực hiện các hoạt động sau đây:

a) Hợp tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, cập nhật công nghệ mới phục vụ hoạt động đào tạo;

b) Tham gia xây dựng, rà soát, đề xuất cập nhật danh mục ngành, nghề đào tạo; chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, giáo trình, học liệu số, phương pháp đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp, thị trường lao động và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội;

c) Đầu tư, tài trợ, chia sẻ, khai thác, sử dụng chung cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, nền tảng số, học liệu số và các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo;

d) Tổ chức đào tạo, đặt hàng đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng nghề gắn với nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động;

đ) Tiếp nhận nhà giáo, học sinh, sinh viên đến tham quan, thực hành, thực tập tại doanh nghiệp; cử chuyên gia, người lao động có trình độ chuyên môn tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực hành, thực tập, bồi dưỡng nhà giáo và cập nhật công nghệ mới;

e) Tham gia đánh giá kết quả học tập, đánh giá kỹ năng nghề, đánh giá chuẩn đầu ra và các hoạt động bảo đảm, kiểm định chất lượng đào tạo;

g) Hỗ trợ ươm tạo ý tưởng khởi nghiệp, hỗ trợ tư vấn, cố vấn, chia sẻ kinh nghiệm cho học sinh, sinh viên trong hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; cấp học bổng, hỗ trợ chi phí đào tạo cho người học;

h) Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, kỹ năng xanh, kỹ năng nghề mới; đào tạo, hướng dẫn chuyển đổi nghề nghiệp, nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững;

i) Triển khai các hoạt động hợp tác đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, thị trường lao động và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Đồng thời, doanh nghiệp hợp tác với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được hưởng các chính sách hỗ trợ, ưu đãi theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và pháp luật có liên quan.

Hỗ trợ kinh phí đào tạo cho doanh nghiệp trong trường hợp đào tạo trình độ sơ cấp cho người yếu thế; đào tạo các ngành, nghề ưu tiên hoặc khó xã hội hóa

Nhà nước hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp cho người yếu thế thực hiện theo đối tượng quy định tại Điều 2 Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg ngày 28 tháng 9 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng, khoản 3 Điều 15 Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 03 tháng 9 năm 2025 của Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, Điều 25 Nghị định số 338/2025/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm, các quy định về giáo dục nghề nghiệp, việc làm và pháp luật có liên quan.

Đồng thời, hỗ trợ đào tạo các ngành, nghề ưu tiên hoặc khó xã hội hóa thông qua việc người lao động của doanh nghiệp được đào tạo miễn phí tại các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Cụ thể, việc hỗ trợ đào tạo (không bao gồm tiền ăn, sinh hoạt phí, tiền đi lại) đối với người lao động thuộc ngành, nghề ưu tiên hoặc khó xã hội hóa thực hiện theo quy định tại Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2019 của Chính phủ quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên và Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu và pháp luật có liên quan về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu.

Tôn vinh, khen thưởng doanh nghiệp có đóng góp tiêu biểu

Nghị định quy định doanh nghiệp có đóng góp tiêu biểu cho hoạt động giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề được xét tôn vinh, khen thưởng. Doanh nghiệp hằng năm có trích lập Quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp và sử dụng tối thiểu hết 70% quỹ hằng năm cho hoạt động giáo dục, đào tạo là một trong những tiêu chí được Nhà nước xem xét tôn vinh, khen thưởng.

Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ hướng dẫn tiêu chí, tiêu chuẩn doanh nghiệp được tôn vinh, khen thưởng theo thẩm quyền.

Căn cứ hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan, tổ chức trung ương, địa phương quyết định việc tổ chức xét tôn vinh và trao tặng danh hiệu, giải thưởng.

Hình thức, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xét tôn vinh, khen thưởng thực hiện theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/8/2026- Ảnh 7.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và cổng Dịch vụ công quốc gia 

Chính phủ ban hành Nghị định 309/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 118/2025/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và cổng Dịch vụ công quốc gia, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 367/2025/NĐ-CP.

Theo quy định mới tại Nghị định 309/2026/NĐ-CP, Cổng Dịch vụ công quốc gia là cổng tích hợp thông tin và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, tình hình giải quyết, kết quả giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) thống nhất toàn quốc; kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với các hệ thống thông tin giải quyết TTHC; cung cấp các dịch vụ số phục vụ người dân, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Khuyến khích triển khai ki-ốt thông minh tại Trung tâm Phục vụ hành chính công

Nhằm cụ thể hóa nguyên tắc chuyển đổi số, cắt giảm TTHC cho người dân, doanh nghiệp nhờ khai thác dữ liệu đã được số hóa, kết nối, chia sẻ dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, bảo đảm thúc đẩy chuyển đổi số một cách toàn diện, giảm phiền hà, tạo thuận lợi tối đa cho tổ chức, cá nhân trong thực hiện TTHC; đảm bảo thực hiện nguyên tắc người dân chỉ phải cung cấp thông tin, dữ liệu một lần và nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc khai thác dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu sẵn có để giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân, Nghị định 309/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 2a, 2b sau khoản 2 Điều 4 quy định về nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông như sau:

"2a. Cơ quan tiếp nhận, giải quyết TTHC có trách nhiệm khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu để thay thế thành phần hồ sơ giải quyết TTHC; không yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thành phần hồ sơ giải quyết TTHC mà các thông tin trong thành phần hồ sơ đã có dữ liệu trong các cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu công bố, kết nối chia sẻ theo quy định. Trường hợp không khai thác được dữ liệu do sự cố, thảm họa hoặc thông tin chưa chính xác để giải quyết TTHC thì cơ quan tiếp nhận, giải quyết TTHC được yêu cầu tổ chức, cá nhân bổ sung thông tin, giấy tờ cần thiết theo quy định.".

"2b. Khuyến khích cơ quan, tổ chức triển khai ki-ốt thông minh tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả, Trung tâm Phục vụ hành chính công, Điểm tiếp nhận và trả kết quả để hỗ trợ tổ chức, cá nhân tiếp cận, thực hiện TTHC, dịch vụ công trực tuyến; đảm bảo việc sử dụng ki-ốt thông minh không làm thay đổi thẩm quyền, trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết, trả kết quả TTHC của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.".

Thay đổi một số quy định về tổ chức Bộ phận Một cửa ở cấp bộ, cấp tỉnh

Nghị định 309/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 7 tổ chức Bộ phận Một cửa tại cấp bộ như sau:

"b) Đối với cơ quan của trung ương được tổ chức theo hệ thống ngành dọc tại địa phương, người đứng đầu cơ quan ngành dọc quyết định tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả.

Trường hợp người đứng đầu cơ quan ngành dọc không tổ chức Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả tại cơ quan mình thì bố trí cán bộ, công chức, viên chức đến Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã nơi có cơ quan ngành dọc đặt trụ sở để tiếp nhận, giải quyết TTHC;".

Đồng thời, Nghị định 309/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 7 tổ chức Bộ phận Một cửa tại cấp tỉnh như sau:

"b) Tại các thành phố, căn cứ đặc thù về quản lý dân cư, điều kiện hạ tầng số, đánh giá mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tại thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh là tổ chức hành chính trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố (sau đây gọi là Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp) và quyết định số lượng Chi nhánh, Điểm tiếp nhận và trả kết quả trực thuộc Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp để thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi địa phương.

Trường hợp không lựa chọn mô hình này, Ủy ban nhân dân thành phố quyết định thành lập Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh theo quy định tại điểm a khoản này;".

Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã có không quá 02 Phó Giám đốc

Ngoài ra, Nghị định 309/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 2 Điều 10 quy định người làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh như sau:

"c) Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công một cấp có công chức, viên chức, nhân viên thuộc quản lý của Trung tâm để thực hiện nhiệm vụ; cán bộ, công chức, viên chức do các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cơ quan thuộc ngành dọc (nếu có) cử đến; nhân sự của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính công ích, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ để thực hiện công việc hỗ trợ theo hợp đồng lao động được ký kết.".

Đối với người làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã, Nghị định 309/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 10 như sau:

"3. Tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã

a) Lãnh đạo Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã gồm Giám đốc tương đương Trưởng phòng, không quá 02 Phó Giám đốc tương đương Phó Trưởng phòng thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã giúp Giám đốc thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ cụ thể do Giám đốc phân công và chịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ được phân công;

b) Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp xã có công chức, nhân viên thuộc quản lý của Trung tâm; công chức, viên chức của các phòng chuyên môn; cơ quan thuộc ngành dọc (nếu có) cử đến thực hiện nhiệm vụ; nhân sự của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính công ích, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ để thực hiện công việc hỗ trợ theo hợp đồng lao động được ký kết.".

Nghị định 309/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 8 năm 2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/8/2026- Ảnh 8.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử

Chính phủ ban hành Nghị định số 310/2026/NĐ-CP ngày 5/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 8 tháng 4 năm 2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 68/2024/NĐ-CP, Nghị định số 69/2024/NĐ-CP và Nghị định số 118/2025/NĐ-CP.

Cơ quan giải quyết thủ tục hành chính

Theo quy định mới, các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính gồm:

a) Bộ, cơ quan ngang bộ; cục, vụ thuộc bộ, cơ quan ngang bộ; cơ quan đại diện ngoại giao, đại diện lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết thủ tục hành chính và tham gia vào quá trình giải quyết thủ tục hành chính;

b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã; các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã; các ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết thủ tục hành chính;

c) Các cơ quan khác theo quy định của pháp luật.

Tài khoản giao dịch điện tử để giải quyết thủ tục hành chính

Nghị định số 310/2026/NĐ-CP quy định tài khoản giao dịch điện tử để giải quyết thủ tục hành chính (tài khoản giao dịch điện tử) là danh tính điện tử của cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân do hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập để đăng nhập vào Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính khi thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.

Quy trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử

Nghị định số 310/2026/NĐ-CP quy định quy trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử như sau:

1. Cổng Dịch vụ công quốc gia tiếp nhận yêu cầu, kiểm tra tự động về mặt kỹ thuật. Nếu hồ sơ đã đủ các thành phần và bảo đảm về mặt kỹ thuật thì phản hồi tự động xác nhận tổ chức, cá nhân đã gửi thành công và thông báo về thời điểm hệ thống tiếp nhận hồ sơ.

2. Cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận hồ sơ đăng nhập Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính và kiểm tra hồ sơ điện tử tổ chức, cá nhân gửi đến. Nội dung kiểm tra hồ sơ bao gồm:

a) Kiểm tra tính chính xác của thông tin tại mẫu đơn, tờ khai thông qua việc khai thác thông tin, dữ liệu tại các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đã sẵn sàng kết nối, chia sẻ thông tin cho Cổng dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính;

b) Kiểm tra thông tin chữ ký số hoặc chữ ký điện tử để đảm bảo tính xác thực, tính hợp lệ, chính xác, nguyên vẹn đối với các thành phần hồ sơ được đăng tải, dẫn nguồn, các thành phần hồ sơ theo yêu cầu chứng thực điện tử; việc kiểm tra chữ ký số hoặc chữ ký điện tử được thực hiện theo quy định của Luật Giao dịch điện tử.

c) Tra cứu, khai thác thông tin về thành phần hồ sơ của thủ tục hành chính trong các cơ sở dữ liệu được cơ quan chủ quản cơ sở dữ liệu công bố để không yêu cầu cung cấp thành phần hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính.

3. Sau khi kiểm tra, nếu bảo đảm các điều kiện để tiếp nhận, cán bộ, công chức, viên chức tiếp nhận và xử lý hồ sơ theo quy trình quy định tại Chương III Nghị định số 118/2025/NĐ-CP và các quy định của pháp luật có liên quan.

4. Những thông tin, thành phần hồ sơ được nêu tại mục 2 ở trên sau khi được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và ghi nhận tính chính xác được lưu giữ tại Kho quản lý dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân tại Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính.

5. Việc tiếp nhận, giải quyết đối với thủ tục hành chính cung cấp dịch vụ công trực tuyến chủ động được thực hiện theo quy định Luật Chuyển đổi số, Luật Dữ liệu và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các Luật này.

Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 5/8/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/8/2026- Ảnh 9.

Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2050

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 1487/QĐ-TTg ngày 05/8/2026 phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch chung Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2050.

Theo điều chỉnh phê duyệt, phạm vi lập Điều chỉnh Quy hoạch chung Khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2050 gồm toàn bộ diện tích Khu kinh tế Vũng Áng được phê duyệt theo Quyết định số 1076/QĐ-TTg ngày 20/8/2007 (toàn bộ ranh giới các phường Vũng Áng, Hoành Sơn và một phần diện tích phường Sông Trí, Hải Ninh, tỉnh Hà Tĩnh), có tổng diện tích: 22.781 ha.

Khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế và bảo đảm cơ hội cho các hoạt động phát triển trong Khu kinh tế Vũng Áng

Mục tiêu điều chỉnh quy hoạch nhằm định hướng phân bố không gian phát triển hợp lý, khai thác tốt các tiềm năng, lợi thế và bảo đảm cơ hội cho các hoạt động phát triển trong Khu kinh tế Vũng Áng; kế thừa các định hướng còn phù hợp tại Quy hoạch chung đã được phê duyệt trước đây.

Tạo động lực phát triển đột phá về kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tĩnh; có hệ thống cơ sở kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại; không gian kiến trúc cảnh quan, đô thị văn minh, tiên tiến, thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng đất đai hiệu quả. Đồng thời, làm cơ sở pháp lý để quản lý xây dựng theo quy hoạch, bảo đảm các mục tiêu phát triển bền vững.

Quyết định đưa ra các chỉ tiêu dự báo phát triển và các chỉ tiêu quy hoạch như sau:

Về quy mô dân số: Dự báo đến năm 2030 là khoảng 181.000 người; đến năm 2050 là khoảng 249.000 người.

Về quy mô sử dụng đất xây dựng: Đến năm 2030: 13.139 ha, chiếm 58% diện tích tự nhiên của Khu kinh tế Vũng Áng. Đến năm 2050: 14.785 ha, chiếm 65% diện tích tự nhiên của Khu kinh tế Vũng Áng.

Định hướng phát triển Khu kinh tế Vũng Áng theo mô hình khu kinh tế ven biển tổng hợp, đa ngành, đa chức năng

Theo phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch gồm các nội dung chính sau: Định hướng phát triển không gian Khu kinh tế (bao gồm: mô hình, cấu trúc phát triển, định hướng phát triển các khu vực chức năng chính, tổ chức hệ thống trung tâm, hệ thống công viên cây xanh, định hướng không gian kiến trúc cảnh quan); quy hoạch sử dụng đất; quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật (chuẩn bị kỹ thuật, giao thông, cấp nước, thoát nước thải và vệ sinh môi trường, cấp điện, viễn thông, hạ tầng số, yêu cầu về bảo vệ môi trường).

Về định hướng phát triển không gian Khu kinh tế, Quyết định nêu rõ: Khu kinh tế Vũng Áng được phát triển theo mô hình khu kinh tế ven biển tổng hợp, đa ngành, đa chức năng; lấy công nghiệp, cảng biển và dịch vụ logistics làm động lực phát triển; phát triển đồng bộ hệ thống đô thị, dịch vụ, hạ tầng xã hội và không gian sinh thái.

Cấu trúc không gian được tổ chức theo nguyên tắc: Phát triển tập trung các khu công nghiệp, cảng biển và logistics; phát triển các đô thị, dịch vụ gắn với nhu cầu của khu kinh tế; bảo tồn không gian sinh thái, cảnh quan tự nhiên; kết nối đồng bộ bằng hệ thống hạ tầng kỹ thuật và giao thông.

Các khu vực chức năng được tổ chức phù hợp với mô hình và cấu trúc phát triển của Khu kinh tế Vũng Áng, bảo đảm phát huy lợi thế về công nghiệp, cảng biển, dịch vụ logistics, sử dụng hiệu quả tài nguyên, đất đai, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Các khu vực chức năng chính được định hướng như sau:

Khu công nghiệp và cảng biển: Phát triển các khu công nghiệp tập trung gắn với hệ thống cảng biển Vũng Áng, Sơn Dương; hình thành các khu công nghiệp luyện kim, năng lượng, chế biến, chế tạo, tái chế, xử lý chất thải rắn và công nghiệp hỗ trợ.

Khu logistics và dịch vụ hậu cần cảng: Phát triển gắn với hệ thống cảng biển Vũng Áng và Sơn Dương, bảo đảm kết nối đồng bộ với mạng lưới giao thông đối ngoại, hình thành trung tâm logistics của khu vực.

Khu đô thị và trung tâm dịch vụ: Bố trí tại khu vực Sông Trí, khu vực Hồ Tàu Voi và các khu vực phía Tây các khu công nghiệp, dọc các trục giao thông chính, đồng thời phát triển các khu đô thị mới, đô thị đa chức năng kết hợp nhà ở, thương mại - dịch vụ, không gian công cộng và cảnh quan mặt nước nhằm đáp ứng nhu cầu ở, dịch vụ và hạ tầng xã hội cho người lao động và chuyên gia.

Khu du lịch và dịch vụ biển: Phát triển các khu du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái và dịch vụ ven biển trên cơ sở khai thác hợp lý tiềm năng, lợi thế cảnh quan, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và thích ứng với biến đổi khí hậu; tập trung tại khu vực Hải Ninh - Hoành Sơn và các bãi biển có điều kiện thuận lợi.

Không gian sinh thái, cây xanh và mặt nước: Bảo tồn các khu vực sinh thái tự nhiên; ưu tiên phát triển tại khu vực núi phía Tây của khu kinh tế, dọc các sông, hồ, ven biển và các hành lang sinh thái, kết hợp bảo tồn cảnh quan tự nhiên, hình thành hệ thống công viên, cây xanh cách ly và không gian mở.

Các khu đầu mối hạ tầng kỹ thuật: Phát triển, bố trí phân tán theo yêu cầu của từng hệ thống hạ tầng, ưu tiên gần các khu công nghiệp và các đầu mối giao thông để bảo đảm cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải, chất thải rắn và các công trình đầu mối khác phục vụ toàn Khu kinh tế.

Bên cạnh đó, Quyết định cũng đưa ra các định hướng tổ chức hệ thống trung tâm theo mô hình đa trung tâm, bảo đảm phù hợp với tính chất của khu kinh tế tổng hợp đa ngành, đa chức năng. Hệ thống công viên cây xanh được tổ chức theo mạng lưới, gắn không gian tự nhiên, sông, hồ, ven biển với không gian các khu đô thị, khu dân cư. Đồng thời, định hướng không gian kiến trúc cảnh quan chú trọng tạo dựng không gian tương tác giữa các khu vực xây dựng hiện hữu và các khu đô thị và khu chức năng đô thị mới thông qua các không gian mở công cộng và công trình dịch vụ công cộng...

5 nhóm dự án được ưu tiên triển khai đầu tư trong giai đoạn đến năm 2030

Quyết định cũng nêu rõ: Để tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu và định hướng phát triển Khu kinh tế Vũng Áng đến năm 2050, ưu tiên triển khai các nhóm dự án đầu tư trong giai đoạn đến năm 2030 như sau:

- Các dự án trọng điểm, động lực nhằm thực hiện các mục tiêu, chiến lược phát triển Khu kinh tế Vũng Áng.

- Các dự án có tính lan tỏa, tạo động lực thu hút đầu tư, thúc đẩy hình thành và phát triển các dự án, khu chức năng khác trong Khu kinh tế.

- Các dự án chỉnh trang, cải tạo, nâng cấp chất lượng đô thị và hoàn thiện hệ thống hạ tầng xã hội tại các đô thị hiện hữu.

- Các dự án đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật khung, hạ tầng giao thông và các công trình đầu mối, bảo đảm kết nối đồng bộ giữa các khu chức năng trong Khu kinh tế Vũng Áng.

- Các dự án công trình bảo vệ môi trường, hạ tầng xã hội và thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm phát triển bền vững.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (5/8/2026).

Bổ nhiệm 2 Thứ trưởng Bộ Ngoại giao 

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã ký các Quyết định về việc điều động, bổ nhiệm giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

Cụ thể, tại Quyết định số 1428/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ điều động, bổ nhiệm ông Nguyễn Hoàng Long, Thứ trưởng Bộ Công Thương giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

Đồng thời, tại Quyết định số 1431/QĐ-TTg, Thủ tướng điều động, bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Hoàng Vân, Phó Bí thư Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao./.