Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 3/8/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 3/8/2026.

Nghị định số 300/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 13 Nghị định 170/2025/NĐ-CP về đối tượng, tiêu chuẩn, điều kiện tiếp nhận vào làm công chức.
Sửa quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức
Chính phủ ban hành Nghị định số 300/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.
Đối tượng, tiêu chuẩn, điều kiện tiếp nhận vào làm công chức
Trong đó, Nghị định số 300/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 13 Nghị định 170/2025/NĐ-CP về đối tượng, tiêu chuẩn, điều kiện tiếp nhận vào làm công chức.
1. Đối tượng
Theo quy định mới, căn cứ vào nhu cầu sử dụng nhân lực đáp ứng được ngay yêu cầu công việc, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng xem xét, tiếp nhận vào làm công chức đối với các đối tượng sau:
a) Chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, doanh nhân tiêu biểu, xuất sắc đang công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị ngoài khu vực công lập theo chính sách thu hút đối với người có tài năng;
b) Viên chức;
c) Người hưởng lương trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, tổ chức cơ yếu mà không phải là công chức;
d) Người đang giữ chức vụ, chức danh lãnh đạo, quản lý từ cấp phòng trở lên tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết;
đ) Người đã từng là cán bộ, công chức sau đó được cấp có thẩm quyền quyết định chuyển đến làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mà không phải là cán bộ, công chức;
e) Người được tuyển dụng theo chỉ tiêu biên chế được cấp có thẩm quyền giao làm việc trong các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ;
g) Đội viên Đề án thí điểm tuyển chọn trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn, miền núi giai đoạn 2013 - 2020, sau khi kết thúc Đề án tiếp tục ký hợp đồng lao động làm việc tại xã.
2. Tiêu chuẩn, điều kiện tiếp nhận:
Căn cứ vào tỷ lệ công chức cần bố trí theo từng vị trí việc làm đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong cơ quan sử dụng công chức, chỉ tiêu biên chế được giao và yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng quyết định tiếp nhận vào làm công chức đối với các trường hợp quy định tại 1 ở trên nếu đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện sau:
a) Đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện đăng ký dự tuyển công chức quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15;
b) Không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 19 Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15 hoặc đang trong thời hạn xử lý kỷ luật, đang trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật, đang trong thời gian thực hiện các quy định liên quan đến kỷ luật theo quy định của Đảng, của pháp luật;
c) Trường hợp quy định tại điểm a mục 1 phải có kết quả, sản phẩm, công trình, sáng kiến hoặc giải pháp khoa học được ứng dụng thực tế, đem lại hiệu quả rõ rệt, phù hợp và đáp ứng ngay yêu cầu của vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận; là người có uy tín được cộng đồng khoa học, cơ quan quản lý chuyên ngành công nhận;
d) Trường hợp quy định tại các điểm b, c, d, e và điểm g mục 1 ở trên phải có đủ 05 năm công tác trở lên làm công việc có yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận.
Thời gian công tác quy định tại điểm này là thời gian liên tục trước khi tiếp nhận làm công việc ở trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp (không tính thời gian tập sự, thử việc, nếu có), có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và được xếp lương tương ứng với công việc ở vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận. Riêng đối với trường hợp quy định tại điểm d và điểm g mục 1 không yêu cầu bắt buộc phải xếp lương tương ứng.
Trường hợp có thời gian công tác ở các vị trí việc làm quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g mục 1 hoặc ở vị trí việc làm cán bộ, công chức cấp xã theo quy định tại Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 (được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 52/2019/QH14) thì được cộng dồn nếu bảo đảm đáp ứng yêu cầu tại điểm này.
Công việc có yêu cầu trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với công việc ở vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận là công việc gắn với chuyên ngành đào tạo, có yêu cầu sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn phù hợp với bản mô tả công việc và khung năng lực của vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận;
Trường hợp quy định tại điểm đ mục 1 phải có văn bản của cấp có thẩm quyền quyết định chuyển đến làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác theo yêu cầu nhiệm vụ và không phải đáp ứng yêu cầu về thời gian công tác 05 năm quy định tại điểm d mục 2.
Xếp lương đối với người được tuyển dụng, tiếp nhận vào làm công chức
Nghị định số 300/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 20 về xếp lương đối với người được tuyển dụng, tiếp nhận vào làm công chức như sau:
Người được tuyển dụng, tiếp nhận vào vị trí việc làm xếp ngạch công chức nào thì được xếp hưởng mức lương khởi điểm của ngạch đó, trừ trường hợp quy định ở dưới:
Trường hợp người được tuyển dụng vào làm công chức đã có thời gian công tác theo đúng quy định của pháp luật phù hợp với yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm được tuyển dụng, có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (nếu không liên tục mà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần hoặc chưa hưởng chế độ phục viên, xuất ngũ thì được cộng dồn), được bố trí làm công việc theo đúng chuyên môn, nghiệp vụ trước đây đã đảm nhiệm thì người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng căn cứ thời gian công tác đó để xem xét, quyết định xếp vào bậc lương phù hợp ở ngạch công chức tương ứng theo vị trí việc làm được tuyển dụng.
Trường hợp người được tiếp nhận vào làm công chức có thời gian công tác theo đúng quy định của pháp luật, có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc (nếu không liên tục mà chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần hoặc chưa hưởng chế độ phục viên, xuất ngũ thì được cộng dồn), làm công việc phù hợp với yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí việc làm được tiếp nhận thì thời gian công tác đó được tính làm căn cứ xếp lương ở ngạch công chức tương ứng theo vị trí việc làm được tiếp nhận.
Bộ Nội vụ hướng dẫn việc xếp lương đối với các trường hợp quy định ở trên.
Xếp lương ở ngạch công chức tương ứng với vị trí việc làm
Bên cạnh đó, Nghị định 300/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 24 về xếp lương ở ngạch công chức tương ứng với vị trí việc làm như sau:
Công chức khi thay đổi vị trí việc làm mới thì được xếp lương ở ngạch tương ứng với vị trí việc làm đó. Thời gian hưởng lương ở ngạch công chức tương đương hoặc cao hơn ngạch hiện giữ được tính làm căn cứ xếp lương ở ngạch công chức tương ứng với vị trí việc làm mới.
Xếp lương đối với trường hợp được bổ nhiệm, bố trí vào vị trí việc làm có ngạch công chức xếp theo thứ bậc về chuyên môn, nghiệp vụ cao hơn ngạch hiện giữ:
Căn cứ vào hệ số lương cộng phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đang hưởng để xếp vào hệ số lương bằng hoặc cao hơn gần nhất ở ngạch tương ứng với vị trí việc làm mới;
Trường hợp có tổng hệ số lương cộng phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đang hưởng ở ngạch hiện giữ lớn hơn hệ số lương ở bậc cuối cùng của ngạch tương ứng với vị trí việc làm mới thì xếp vào hệ số lương ở bậc cuối cùng ở ngạch tương ứng với vị trí việc làm mới và được hưởng thêm hệ số chênh lệch bảo lưu cho bằng tổng hệ số lương cộng phụ cấp thâm niên vượt khung đang hưởng.
Xếp lương đối với trường hợp được bổ nhiệm, bố trí vào vị trí việc làm có ngạch công chức cùng thứ bậc chuyên môn, nghiệp vụ với ngạch hiện giữ:
Trường hợp ngạch hiện giữ và ngạch tương ứng với vị trí việc làm mới có cùng hệ số bậc lương thì xếp ngang bậc lương và % phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đang hưởng ở ngạch hiện giữ;
Trường hợp ngạch tương ứng với vị trí việc làm mới có hệ số lương cùng bậc cao hơn ngạch hiện giữ thì căn cứ vào hệ số lương cộng phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đang hưởng để xếp vào hệ số lương bằng hoặc cao hơn gần nhất ở ngạch tương ứng với vị trí việc làm mới;
Trường hợp ngạch tương ứng với vị trí việc làm mới có hệ số lương cùng bậc thấp hơn ngạch hiện giữ thì xếp ngang bậc lương và % phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đang hưởng ở ngạch hiện giữ sang ngạch tương ứng với vị trí việc làm mới và được hưởng thêm hệ số chênh lệch bảo lưu cho bằng hệ số lương (kể cả phụ cấp thâm niên vượt khung, nếu có) đang hưởng.
Xếp lương đối với trường hợp được bổ nhiệm, bố trí vào vị trí việc làm có ngạch công chức xếp theo thứ bậc về chuyên môn, nghiệp vụ thấp hơn ngạch hiện giữ:
Trường hợp công chức không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo kết quả theo dõi, đánh giá thường xuyên hoặc xếp loại chất lượng không hoàn thành nhiệm vụ theo kết quả đánh giá, xếp loại hằng năm thì căn cứ vào bậc lương đã giữ ở ngạch thấp hơn tương ứng với vị trí việc làm mới và thời gian hưởng lương ở ngạch cao hơn so với ngạch tương ứng với vị trí việc làm mới để xêp lương ở vị trí việc làm mới;
Trường hợp công chức có đơn tự nguyện thay đổi vị trí việc làm và được cấp có thẩm quyền đồng ý thì xếp lương theo quy định ở trên và được hưởng thêm hệ số chênh lệch bảo lưu cho bằng hệ số lương (kể cả phụ cấp thâm niên vượt khung, nếu có) đang hưởng.
Tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm
Ngoài ra, Nghị định 300/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 29 về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm như sau:
1. Bảo đảm tiêu chuẩn chung theo quy định của Đảng, của pháp luật và tiêu chuẩn cụ thể của chức vụ, chức danh bổ nhiệm theo quy định của cấp có thẩm quyền.
2. Đối với nhân sự từ nguồn tại chỗ phải được quy hoạch vào chức vụ, chức danh bổ nhiệm hoặc được quy hoạch chức vụ, chức danh tương đương trở lên. Đối với nhân sự nguồn từ nơi khác phải được quy hoạch chức vụ, chức danh tương đương trở lên. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, quyết định trên cơ sở rà soát, đánh giá toàn diện về nguồn nhân sự trong quy hoạch, thành tích, sản phẩm, kết quả cụ thể và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị được thành lập mới hoặc do chia tách, hợp nhất, sáp nhập, tổ chức lại hình thành cơ quan, tổ chức, đơn vị mới mà chưa thực hiện việc phê duyệt quy hoạch thì cấp có thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, quyết định.
3. Trường hợp được bổ nhiệm giữ chức vụ cao hơn phải có thời gian giữ chức vụ đang đảm nhiệm liền kề hoặc chức vụ, chức danh tương đương liền kề với chức vụ dự kiến bổ nhiệm ít nhất là 01 năm (12 tháng), nếu không liên tục thì được cộng dồn (chỉ cộng dồn đối với thời gian giữ chức vụ tương đương).
Trường hợp trước khi bổ nhiệm đã có thời gian giữ chức vụ, chức danh được xác định là chức vụ, chức danh cao hơn, bằng, tương đương hoặc thấp hơn liền kề chức vụ dự kiến bổ nhiệm thì thời gian đó được tính vào thời gian giữ chức vụ, chức danh tương đương để cộng dồn; không áp dụng đối với trường hợp thôi giữ chức vụ do bị xử lý kỷ luật.
Trường hợp đặc biệt chưa bảo đảm thời gian giữ chức vụ, chức danh thấp hơn liền kề thì cấp có thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, quyết định trên cơ sở đánh giá khách quan thành tích, sản phẩm, kết quả cụ thể.
4. Có hồ sơ, lý lịch cá nhân, bản kê khai tài sản, thu nhập đầy đủ, rõ ràng và được cơ quan chức năng có thẩm quyền thẩm định, xác minh.
5. Được cấp có thẩm quyền nhận xét, đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong 03 năm gần nhất.
6. Có kinh nghiệm công tác, kinh nghiệm quản lý, điều hành, thành tích, kết quả và sản phẩm cụ thể phù hợp với vị trí dự kiến bổ nhiệm; trường hợp bổ nhiệm nhân sự nguồn từ nơi khác thì thành tích, kết quả, sản phẩm cụ thể phải bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của chức vụ, chức danh dự kiến bổ nhiệm.
7. Điều kiện về tuổi bổ nhiệm:
a) Công chức được đề nghị bổ nhiệm lần đầu giữ chức vụ quản lý hoặc được đề nghị bổ nhiệm giữ chức vụ cao hơn thì phải đủ tuổi để công tác trọn thời hạn bổ nhiệm. Thời điểm tính tuổi bổ nhiệm thực hiện theo quy định của cấp có thẩm quyền. Trường hợp đặc biệt không đủ tuổi để công tác trọn thời hạn bổ nhiệm thì cấp có thẩm quyền bổ nhiệm xem xét, quyết định trên cơ sở đánh giá khách quan thành tích, sản phẩm, kết quả cụ thể;
b) Công chức được bổ nhiệm giữ chức vụ mới tương đương hoặc thấp hơn chức vụ, chức danh hiện đảm nhiệm thì không tính điều kiện về tuổi bổ nhiệm theo quy định tại điểm a mục này
8. Đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ và chức trách được giao.
9. Không thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Bị cấm đảm nhiệm chức vụ theo quy định của Đảng và của pháp luật;
b) Đang trong thời hạn xử lý kỷ luật;
c) Đang trong thời gian thi hành quyết định kỷ luật theo quy định của cấp có thẩm quyền;
d) Đang trong thời gian giải quyết tố cáo (đã có quyết định thành lập đoàn giải quyết tố cáo), giải quyết khiếu nại kỷ luật, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc đang bị kiến nghị xử lý vi phạm theo kết luận thanh tra, kiểm toán; đang bị tạm đình chỉ công tác;
đ) Đang bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;
e) Thuộc trường hợp khác chưa xem xét bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
10. Các điều kiện khác theo quy định của cấp có thẩm quyền.
Nghị định 300/2026/NĐ-CP này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/8/2026.
Sửa quy định về quản lý, phát triển cụm công nghiệp
Chính phủ ban hành Nghị định số 303/2026/NĐ-CP ngày 01/8/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 32/2024/NĐ-CP ngày 15/3/2024 của Chính phủ về quản lý, phát triển cụm công nghiệp.
Bổ sung doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp
Nghị định số 303/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 3 Nghị định số 32/2024/NĐ-CP về ngành, nghề, tổ chức, cá nhân đầu tư trong cụm công nghiệp; loại hình cụm công nghiệp được khuyến khích phát triển theo hướng tách riêng từng khoản về "Ngành nghề được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp"; về "Tổ chức, cá nhân được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp"; về "các loại hình cụm công nghiệp" cho rõ, đầy đủ hơn. Trong đó, bổ sung "các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo" được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp để phù hợp với đối tượng quy định tại các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế tư nhân. Cụ thể:
Điều 3. Ngành, nghề, tổ chức, cá nhân đầu tư trong cụm công nghiệp; loại hình cụm công nghiệp được khuyến khích phát triển
1. Ngành, nghề được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp:
a) Công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp; công nghiệp cơ khí; công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp dệt may, da giày;
b) Công nghiệp công nghệ thông tin và viễn thông, công nghiệp điện tử; công nghiệp năng lượng tái tạo; công nghiệp công nghệ số, tự động hóa, thiết bị cao cấp, vật liệu mới, công nghệ sinh học;
c) Các ngành, nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại địa phương cần được bảo tồn và phát triển; công nghiệp sản xuất, chế tạo thiết bị và sản phẩm phục vụ bảo vệ, phát triển và phục hồi nguồn nước; công nghiệp môi trường, xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng chất thải; công nghiệp lưỡng dụng; dịch vụ kho bãi, đóng gói bao bì, vận chuyển hàng hóa, sửa chữa, bảo dưỡng máy móc, thiết bị công nghiệp và dịch vụ khác phục vụ trực tiếp cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của địa phương với tổng diện tích không quá 10% diện tích cụm công nghiệp;
d) Các ngành, nghề công nghiệp khác có công nghệ cao, công nghệ sạch; các ngành công nghiệp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; các ngành công nghiệp mang lại giá trị gia tăng cao, phát triển bền vững.
2. Tổ chức, cá nhân được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp:
a) Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất hộ gia đình và cá nhân trong làng nghề hoặc có nghề truyền thống, nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ;
b) Các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo;
c) Các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, khu dân cư được khuyến khích di dời vào cụm công nghiệp; cơ sở công nghiệp động viên.
3. Nhà nước có chính sách ưu tiên, khuyến khích phát triển các loại hình cụm công nghiệp gồm: Cụm công nghiệp làng nghề, cụm công nghiệp chuyên ngành, cụm công nghiệp hỗ trợ, cụm công nghiệp công nghệ cao, cụm công nghiệp sinh thái và loại hình cụm công nghiệp theo hướng thông minh, hiệu quả, bền vững khác.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể ngành, nghề; đối tượng tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất, kinh doanh trong cụm công nghiệp; loại hình cụm công nghiệp (nếu có) phù hợp phương hướng phát triển cụm công nghiệp thuộc quy hoạch tỉnh, định hướng phát triển kinh tế - xã hội, điều kiện thực tế của địa phương và thể hiện tại Quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp.
Sửa đổi, bổ sung điều kiện thành lập, mở rộng cụm công nghiệp
Về điều kiện thành lập cụm công nghiệp: Để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, để việc thành lập, đầu tư xây dựng cụm công nghiệp khả thi, tạo điều kiện quỹ đất để phát triển kinh tế tư nhân, tăng trưởng kinh tế của các địa phương và đảm bảo sử dụng đất hiệu quả, Nghị định số 303/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung điều kiện thành lập cụm công nghiệp tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định số 32/2024/NĐ-CP theo hướng: "Trong trường hợp địa bàn cấp xã đã thành lập cụm công nghiệp thì tỷ lệ lấp đầy trung bình của các cụm công nghiệp đạt trên 50% hoặc tổng quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê của các cụm công nghiệp không vượt quá 50 ha".
Nghị định số 303/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi điều kiện mở rộng cụm công nghiệp (tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 8 Nghị định số 32/2024/NĐ-CP) theo hướng phải đạt tỷ lệ lấp đầy ít nhất 50% hoặc nhu cầu thuê đất công nghiệp trong cụm công nghiệp vượt quá diện tích đất công nghiệp hiện có của cụm công nghiệp.
Đồng thời, hoàn thành xây dựng, đưa vào sử dụng các công trình hạ tầng kỹ thuật dùng chung thiết yếu của cụm công nghiệp (gồm: Đường giao thông nội bộ, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải) theo quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt. Điều kiện này không áp dụng đối với cụm công nghiệp hình thành trước Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Công Thương cho biết, qua tổng hợp, theo dõi cụm công nghiệp thời gian qua cho thấy việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật tại các cụm công nghiệp do đơn vị nhà nước đầu tư, quản lý (chủ yếu là các cụm công nghiệp hình thành trước Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg) chậm do nguồn lực ngân sách địa phương hạn chế, không có khả năng bố trí kinh phí để xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, dẫn đến tình trạng đầu tư chắp vá, nhiều hạng mục bị xuống cấp hoặc chưa được đầu tư, đặc biệt là công trình hạ tầng bảo vệ môi trường.
Do vậy, các điều kiện sửa đổi nêu trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương trong việc thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức kinh tế làm chủ đầu tư phần mở rộng cụm công nghiệp và quản lý phần cụm công nghiệp đã thành lập (nếu có), nhanh chóng đầu tư, hoàn thiện hạ tầng, thu hút lấp đầy, phát huy hiệu quả các cụm công nghiệp do đơn vị nhà nước đầu tư, quản lý trước đây.
Đặc biệt, Nghị định số 303/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về hồ sơ, trình tự thủ tục thành lập, mở rộng cụm công nghiệp (Điều 9, Điều 10) với tư duy chuyển từ cơ chế "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" (rà soát, loại bỏ một số hồ sơ, tài liệu đề nghị thành lập, mở rộng cụm công nghiệp không cần thiết) và điều chỉnh giảm thời gian tiếp nhận, xử lý thủ tục hành chính về cụm công nghiệp.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2026.
Thông qua hồ sơ Đề án thành lập các phường thuộc tỉnh Bắc Ninh
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 207/NQ-CP ngày 2/8/2026 về hồ sơ Đề án thành lập các phường thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Cụ thể, Chính phủ phủ quyết nghị thông qua hồ sơ Đề án thành lập các phường thuộc tỉnh Bắc Ninh theo đề nghị của Bộ Nội vụ tại Tờ trình số 8182/TTr-BNV ngày 30/7/2026.
Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan tiếp thu đầy đủ ý kiến của các Thành viên Chính phủ để hoàn thiện Tờ trình, Đề án, Dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập các phường thuộc tỉnh Bắc Ninh theo quy định.
Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ thay mặt Chính phủ ký Tờ trình, Đề án, Báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý hồ sơ Đề án thành lập các phường thuộc tỉnh Bắc Ninh theo ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung hồ sơ Đề án, các dự thảo Nghị quyết và các vấn đề đề xuất, báo cáo; chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bảo đảm chất lượng, thời hạn theo quy định; chủ động báo cáo, giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định; kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề phát sinh vượt thẩm quyền.
Quy chế tổ chức, hoạt động của Ban Chỉ đạo tổ chức thi hành án vụ án Vạn Thịnh Phát
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc - Trưởng Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về tổ chức thi hành án, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án liên quan đến Tập đoàn Vạn Thịnh Phát ký Quyết định số 97/QĐ-BCĐ742 ban hành Quy chế tổ chức, hoạt động và phân công nhiệm vụ các thành viên Ban Chỉ đạo này.
Quy chế này quy định về nguyên tắc tổ chức, hoạt động, chế độ làm việc và mối quan hệ công tác, trách nhiệm của Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban và thành viên Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về tổ chức thi hành án, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong vụ án Vạn Thịnh Phát (Ban Chỉ đạo 742).
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động
Ban Chỉ đạo 742 do Thủ tướng Chính phủ thành lập, chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và hoạt động. Ban Chỉ đạo 742 làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao trách nhiệm người đứng đầu và các thành viên Ban Chỉ đạo 742.
Thành viên Ban Chỉ đạo 742 giải quyết công việc theo đúng thẩm quyền và trách nhiệm được phân công, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, ban, ngành mà mình là đại diện, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và có sự phối hợp chặt chẽ trong thực hiện nhiệm vụ.
Thành viên Ban Chỉ đạo 742 có trách nhiệm tham gia đầy đủ các hoạt động của Ban Chỉ đạo 742; thực hiện và chịu trách nhiệm trước Trưởng Ban Chỉ đạo 742 về những nhiệm vụ được phân công.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo
Ban Chỉ đạo 742 đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp và thống nhất của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm các bộ, ngành trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phối hợp chặt chẽ, đồng bộ; thực hiện chức năng chỉ đạo, đôn đốc việc tổ chức thi hành án và công tác phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, địa phương trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và xử lý các vấn đề phát sinh bảo đảm thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong vụ án, thu hồi triệt để số tiền Nhà nước đã cho vay đặc biệt, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
Ban Chỉ đạo 742 có trách nhiệm giao nhiệm vụ và tiến độ cụ thể cho từng thành viên, địa phương. Hàng tháng, Ban Chỉ đạo tổ chức đánh giá báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ và tiến độ xử lý thực tế; báo cáo phải rõ việc, rõ kết quả và rõ trách nhiệm; yêu cầu các bộ, ngành, địa phương báo cáo tình hình, tiến độ, kết quả, khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành vụ việc.
Cho ý kiến về các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong vụ việc; giao trách nhiệm và đôn đốc, chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, cơ quan có liên quan theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành vụ việc, bảo đảm thu hồi kịp thời, tối đa tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong vụ án; chỉ đạo các cơ quan liên quan trong việc xây dựng phương án hoàn thiện pháp lý các dự án bất động sản là tài sản bảo đảm tại Ngân hàng SCB.
Ban Chỉ đạo 742 đề nghị các bộ, ban, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn bảo đảm ổn định an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên phạm vi cả nước và ở các địa bàn nơi có tài sản thi hành án theo quyết định của Bản án; đề nghị các bộ, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị có liên quan cung cấp thông tin, phối hợp thực hiện và giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của bộ, ban, ngành, địa phương và cơ quan, đơn vị trong quá trình tổ chức thi hành vụ việc...
Ban Chỉ đạo 742 làm việc theo các hình thức: tổ chức phiên họp định kỳ, cuộc họp đột xuất, hội nghị (trực tiếp), tổ chức các đoàn làm việc tại bộ, ban, ngành, địa phương và cho ý kiến bằng văn bản.
Bộ Tư pháp là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 742
Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 742 có trách nhiệm tổng hợp báo cáo về tình hình, tiến độ, kết quả thi hành các vụ án liên quan đến Tập đoàn Vạn Thịnh Phát; tổng hợp các khó khăn, vướng mắc và phối hợp với các cơ quan có liên quan tham mưu, đề xuất Ban Chỉ đạo 742 chỉ đạo giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành vụ việc.
Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo 742 giúp Trưởng Ban Chỉ đạo 742 đôn đốc tiến độ, cập nhật tình hình thực hiện các nhiệm vụ được giao của các thành viên và báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo 742.
Thực hiện chế độ báo cáo hàng tháng, hàng năm hoặc đột xuất theo quy định./.