• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tháng 7/2026

(Chinhphu.vn) - Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam; chính sách của nhà nước về phát triển tổ hợp tác; chính sách về khuyến nông... là những thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tháng 7/2026.

01/08/2026 08:05
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tháng 7/2026- Ảnh 1.

 Triển khai Nghị quyết bổ sung dự toán thu NSNN năm 2024 và phê chuẩn quyết toán NSNN năm 2024

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 3/7/2026 về việc thực hiện Nghị quyết số 21/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về bổ sung dự toán thu ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2024 và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2024.

Để nâng cao kỷ cương, kỷ luật trong việc chấp hành pháp luật về tài chính, ngân sách nhà nước; Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan khác ở trung ương (gọi chung là bộ, cơ quan trung ương), Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố (địa phương) tiếp tục phát huy các kết quả đạt được, tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ về: Xây dựng, hoàn thiện thể chế; lập, quản lý, sử dụng, quyết toán ngân sách nhà nước; thực hiện các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán nhà nước.

Về lập, quản lý, sử dụng, quyết toán ngân sách nhà nước, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan trung ương, địa phương tiếp tục chấn chỉnh, khắc phục các tồn tại, hạn chế trong lập, quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước. Nâng cao chất lượng lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước bảo đảm đúng yêu cầu và sát khả năng thực hiện; đẩy nhanh việc thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công hằng năm.

Quản lý chặt chẽ các khoản chi chuyển nguồn ngân sách nhà nước theo đúng quy định; hủy bỏ, thu hồi kịp thời về ngân sách nhà nước các khoản chuyển nguồn không đúng quy định, không có nhu cầu sử dụng hoặc quá thời gian giải ngân theo quy định; thu hồi toàn bộ các khoản ngân sách trung ương hỗ trợ cho các địa phương năm 2025 và năm 2024 trở về trước quản lý, sử dụng không đúng quy định hoặc hết thời gian giải ngân để giảm bội chi ngân sách trung ương...

Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng ký Quyết định số 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045 (Đề án).

Mục tiêu tổng quát của Đề án là xây dựng thị trường tài chính Việt Nam phát triển đồng bộ, hiện đại và hội nhập với khu vực và thế giới; có cấu trúc cân đối, hợp lý, có khả năng huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước cho phát triển kinh tế - xã hội; phát huy vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế; là động lực để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, liên tục đến năm 2045.

Phấn đấu đến năm 2045 thị trường tài chính Việt Nam có trình độ phát triển cao, vận hành theo nguyên tắc thị trường, có hệ thống thể chế, hạ tầng, sản phẩm, nhà đầu tư và cơ chế quản lý giám sát đạt chuẩn quốc tế; trong đó thị trường chứng khoán giữ vai trò trọng yếu, hệ thống ngân hàng phát triển an toàn, hiện đại, thị trường bảo hiểm phát triển bền vững; Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam từng bước trở thành cấu phần quan trọng trong kết nối dòng vốn, dịch vụ tài chính và các định chế tài chính trong khu vực.

Chính sách của nhà nước về phát triển tổ hợp tác

Chính phủ ban hành Nghị định 294/2026/NĐ-CP về tổ hợp tác, trong đó quy định cụ thể các chính sách của nhà nước về phát triển tổ hợp tác.

Nghị định quy định tổ hợp tác được xem xét thụ hưởng chính sách của Nhà nước khi đáp ứng các tiêu chí sau:

1- Có Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác;

2- Không trong thời gian thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính do vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15;

3- Đáp ứng một trong các tiêu chí sau tại thời điểm nộp đơn đăng ký nhu cầu hỗ trợ:

a) Trong 02 năm liền kề trước năm nộp đơn đăng ký nhu cầu hỗ trợ, có ít nhất 01 năm số lượng thành viên tăng so với năm trước đó;

b) Có thành viên, người lao động được tham gia các lớp giáo dục, đào tạo, phổ biến, bồi dưỡng, tập huấn do tổ hợp tác tự tổ chức hoặc do các tổ chức khác tổ chức và có giấy tờ xác nhận;

c) Thành lập không quá 60 tháng tại địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.

4- Trường hợp nhiều tổ hợp tác cùng đáp úng quy định tại 1, 2, 3 ở trên, việc lựa chọn tổ hợp tác thụ hưởng chính sách được thực hiện theo thứ tự ưu tiên sau đây:

a) Số lượng thành viên nhiều hơn;

b) Số lượng thành viên là người khuyết tật nhiều hơn;

c) Số lượng thành viên là đồng bào dân tộc thiểu số nhiều hơn;

d) Số lượng thành viên, người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện nhiều hơn;

đ) Có phụ nữ làm quản lý, có nhiều thành viên là nữ hoặc sử dụng nhiều lao động nữ hơn;

e) Hoạt động tại địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;

g) Tham gia liên kết hình thành chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành, gắn với kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức, nông nghiệp hữu cơ, thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển đổi số vì mục tiêu phát triển bền vững;

h) Tổ chức hoặc tham gia các hoạt động lợi ích cộng đồng dân cư.

Tổ hợp tác đáp ứng các tiêu chí quy định ở trên được hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước như các hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã phù hợp với tính chất, đặc điểm của tổ hợp tác và pháp luật khác có liên quan.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tháng 7/2026- Ảnh 2.

Chính sách về khuyến nông

Chính phủ ban hành Nghị định số 268/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 về khuyến nông.

Nghị định quy định chính sách về khuyến nông gồm: Chính sách đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng; chính sách thông tin, truyền thông; chính sách xây dựng và nhân rộng mô hình; hỗ trợ hoạt động khuyến nông, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp; chính sách xã hội hoá khuyến nông, chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp.

Quy định về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã

Chính phủ ban hành Nghị định số 295/2026/NĐ-CP ngày 23/7/2026 quy định về đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã.

Nghị định nêu rõ trường hợp đơn vị hành chính cấp xã thành lập phòng chuyên môn thì cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có chức năng, nhiệm vụ đăng ký tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không thành lập phòng chuyên môn thì cơ quan đăng ký kinh doanh giải quyết thủ tục đăng ký tổ hợp tác, đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã là Ủy ban nhân dân cấp xã.

Ban hành Bộ tiêu chí đánh giá kết quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ngày 9/7/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Quyết định số 1248/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí đánh giá kết quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa cấp quốc gia, cấp ngành và địa phương.

Bộ tiêu chí gồm 40 tiêu chí chia thành 04 nhóm chính để đánh giá kết quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa cấp quốc gia, cấp ngành và địa phương, cụ thể các nhóm tiêu chí gồm:1- Nhóm tiêu chí về kinh tế (21 tiêu chí); 2- Nhóm tiêu chí về xã hội (5 tiêu chí); 3- Nhóm tiêu chí về môi trường (sử dụng hiệu quả tài nguyên và hiệu quả môi trường) (11 tiêu chí); 4- Nhóm tiêu chí về chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, sử dụng năng lượng hiệu quả (3 tiêu chí).

Quy định mới về điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân

Ngày 9/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 278/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2025/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Chính phủ quy định về cơ chế, thời gian điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân.

Nghị định sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm b khoản 1 Điều 5 quy định về điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân hằng năm; sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm b khoản 1 Điều 6 quy định về điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân trong năm và sửa đổi, bổ sung Điều 7 về kiểm tra điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân.

Cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp phép bị phạt tới 200 triệu đồng

Chính phủ ban hành Nghị định số 284/2026/NĐ-CP ngày 16/7/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính về tài sản mã hóa và thị trường tài sản mã hóa.

Nghị định quy định mức phạt tiền tối đa đối với hành vi vi phạm là 200 triệu đồng đối với tổ chức, 100 triệu đồng đối với cá nhân.

Trong đó, đối với các vi phạm về tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa, Nghị định quy định phạt tiền từ 180-200 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau:

- Thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa;

- Quảng cáo, tiếp thị liên quan đến tài sản mã hóa khi chưa được cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ tổ chức thị trường giao dịch tài sản mã hóa.

Mức phạt tiền quy định trên được áp dụng đối với tổ chức. Trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

Điều kiện thành lập khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Nghị định số 263/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 của Chính phủ quy định việc thành lập khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 24 Luật Công nghệ cao.

Cụ thể, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đảm bảo kết nối đồng bộ bên ngoài với: Hạ tầng giao thông; hệ thống hạ tầng kỹ thuật; có phương án về thỏa thuận hợp tác, liên kết với các tổ chức khoa học và công nghệ, trường đại học về nông nghiệp và môi trường; hợp tác sản xuất, thương mại hóa sản phẩm khoa học; có điều kiện tự nhiên phù hợp mục tiêu phát triển của khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao…

Phạt đến 70 triệu đồng với vi phạm kê khai đăng ký doanh nghiệp

Chính phủ ban hành Nghị định số 288/2026/NĐ-CP ngày 21/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 122/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.

Cụ thể, Nghị định số 288/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 43 Nghị định số 122/2021/NĐ-CP quy định vi phạm về kê khai hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo hướng tăng mức phạt và bổ sung thêm các nội dung kê khai bị xử phạt nếu khai không trung thực hoặc không chính xác.

Theo đó, phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện; hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh; hồ sơ thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, thông báo lập địa điểm kinh doanh; hồ sơ giải thể doanh nghiệp; thông tin chủ sở hữu hưởng lợi, thông tin để xác định chủ sở hữu hưởng lợi trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ thông báo thay đổi thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, thông báo thay đổi thông tin để xác định chủ sở hữu hưởng lợi.

Thông đồng, bao che người nộp thuế nhằm ngăn cản cơ quan thuế xác minh thông tin bị phạt tới 100 triệu đồng

Chính phủ ban hành Nghị định số 291/2026/NĐ-CP ngày 21/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 102/2021/NĐ-CP ngày 16/11/2021 của Chính phủ và Nghị định số 310/2025/NĐ-CP ngày 02/12/2025 của Chính phủ.

Nghị định số 291/2026/NĐ-CP bổ sung Mục 3 và Điều 19a vào sau Mục 2 Chương II quy định xử phạt hành vi vi phạm hành chính về cung cấp thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin với mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Trong đó, Nghị định quy định phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng thông đồng, bao che người nộp thuế nhằm ngăn cản cơ quan thuế thu thập, xác minh thông tin phục vụ mục đích trao đổi thông tin theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế về thuế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc là bên ký kết.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tháng 7/2026- Ảnh 3.

Cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp bị phạt tới 100 triệu đồng

Chính phủ ban hành Nghị định 275/2026/NĐ-CP ngày 8/7/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất và vật liệu nổ công nghiệp.

Theo đó, mức phạt tiền tối đa đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính của cá nhân trong lĩnh vực hóa chất là 50.000.000 đồng, trong lĩnh vực vật liệu nổ công nghiệp là 100.000.000 đồng.

Các hình thức kỷ luật đối với hành vi gây lãng phí

Chính phủ ban hành Nghị định số 267/2026/NĐ-CP ngày 1/7/2026 quy định chi tiết việc áp dụng hình thức kỷ luật và bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí.

Nghị định quy định cụ thể về áp dụng hình thức kỷ luật đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách.

Theo đó, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách trực tiếp bị xem xét áp dụng hình thức kỷ luật như sau:

Hình thức kỷ luật khiển trách được áp dụng trong trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.

Hình thức kỷ luật cảnh cáo được áp dụng trong trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm.

Hình thức kỷ luật cách chức được áp dụng trong trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tù từ trên 07 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định áp dụng hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí. Theo đó, cán bộ, công chức, viên chức có thể bị buộc thôi việc nếu lãng phí gây thiệt hại trên 75 triệu đồng.

Phạt đến 75 triệu đồng đối với hành vi lôi kéo, dụ dỗ, quảng cáo gian dối để lừa gạt người lao động

Chính phủ ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Trong đó, Nghị định quy định phạt tiền từ 50-75 triệu đồng đối với một trong các hành vi: lôi kéo; dụ dỗ; hứa hẹn; quảng cáo gian dối hoặc thủ đoạn khác để lừa gạt người lao động hoặc để tuyển dụng người lao động với mục đích bóc lột, cưỡng bức lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nâng cao phòng ngừa, đấu tranh lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tình hình mới

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 30/CT-TTg yêu cầu các Bộ ngành, địa phương tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tình hình mới.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các chủ trương của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản; xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên gắn với công tác bảo đảm an ninh, trật tự và phát triển kinh tế - xã hội; không để hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn biến phức tạp, hình thành điểm, tụ điểm hoạt động lừa đảo tại địa bàn, lĩnh vực quản lý.

Đồng thời, chủ động rà soát, khắc phục sơ hở, bất cập trong công tác quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ để tội phạm lợi dụng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là viễn thông, ngân hàng, trung gian thanh toán, thương mại điện tử, quản lý đất đai, đầu tư, chứng khoán, bảo hiểm, y tế, giáo dục, du lịch, việc làm; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước, phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản…

Điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập

Chính phủ ban hành Nghị định số 299/2026/NĐ-CP ngày 28/7/2026 quy định tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập.

Nghị định quy định đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập khi đáp ứng các điều kiện sau:

a) Phù hợp với quy hoạch ngành (nếu có) hoặc phương án phát triển mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

b) Đáp ứng tiêu chí, điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật chuyên ngành (trừ đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn cấp xã);

c) Xác định rõ mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập;

d) Đảm bảo số lượng người làm việc tối thiểu được giao là 15 người (trừ các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu được thành lập theo quy định của pháp luật chuyên ngành).

Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, khi thành lập các đơn vị này thì số lượng người làm việc được xác định theo đề án thành lập được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài thì số lượng người làm việc xác định trong đề án thành lập đơn vị sự nghiệp công lập được phê duyệt;

đ) Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài, ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b, c và d khoản này, cần bảo đảm phù hợp với chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và điều ước quốc tế giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước sở tại về việc thành lập và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.

Phát triển một số đại học lớn ở miền Trung và Tây Nguyên vươn tầm khu vực và thế giới

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1252/QĐ-TTg ngày 10/7/2026 phê duyệt Đề án đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng hoạt động một số cơ sở giáo dục đại học lớn ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên thành những trung tâm đào tạo uy tín trong khu vực và thế giới (Đề án).

Mục tiêu của Đề án nhằm đầu tư phát triển Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng, Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Nha Trang và Trường Đại học Quy Nhơn thành các cơ sở giáo dục đại học lớn, giữ vai trò trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ uy tín trong khu vực và thế giới; là hạt nhân dẫn dắt hệ sinh thái giáo dục đại học, khởi nghiệp sáng tạo và các đô thị khoa học, đóng vai trò động lực cung ứng nguồn nhân lực và giải pháp khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, liên kết vùng bền vững của khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

Quy định mới về Khung trình độ quốc gia Việt Nam

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg ngày 23/7/2026 quy định về Khung trình độ quốc gia Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 7/9/2026.

Theo cấu trúc, Khung trình độ quốc gia Việt Nam gồm 8 bậc trình độ, được sắp xếp theo mức độ tăng dần về độ phức tạp của kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm cá nhân.

Mỗi bậc trình độ được mô tả gồm ba thành phần chính: Kiến thức; kỹ năng; mức độ tự chủ và trách nhiệm cá nhân.

Mô tả các bậc trình độ mang tính định hướng, khái quát, áp dụng chung cho mọi lĩnh vực đào tạo; được cụ thể hóa trong chuẩn chương trình đào tạo; không gắn với ngành, nghề, chương trình giáo dục, đào tạo hoặc điều kiện đầu vào cụ thể.

Mỗi bậc trình độ quy định khối lượng học tập tối thiểu của các chương trình đào tạo cho đối tượng đầu vào theo luồng chính (được quy định trong Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân).

Ban hành Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Quyết định số 38/2026/QĐ-TTg ngày 23/7/2026 quy định Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân.

Cấu trúc của Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên, được thực hiện ở các cấp học và trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Theo quy định, các chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân được phân thành 9 cấp độ từ 0 đến 8 (bao gồm: bậc mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông/ trung học nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ) trên cơ sở mục tiêu chương trình, mức độ phức tạp của nội dung học tập, yêu cầu đầu vào, kết quả học tập dự kiến và khả năng chuyển tiếp trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Chương trình giáo dục tích hợp nhiều cấp học, trình độ đào tạo thì được xếp vào cấp độ tương ứng với cấp học và trình độ đào tạo cao nhất.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nổi bật tháng 7/2026- Ảnh 4.

Đến năm 2045, Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về chính phủ điện tử/chính phủ số

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đã ký Quyết định số 1266/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 (Chiến lược).

Theo Chiến lược, tầm nhìn đến năm 2045 Việt Nam trở thành quốc gia số phát triển, thịnh vượng, an toàn, nhân văn; chuyển đổi số được triển khai toàn diện, đồng bộ, sâu rộng và bao trùm, trở thành phương thức phát triển chủ đạo, động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, đồng thời là đối tượng thụ hưởng chính của quá trình chuyển đổi số. Việt Nam có nền quản trị quốc gia hiện đại, dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI); làm chủ các công nghệ số, nền tảng số và sản phẩm số chiến lược; bảo đảm vững chắc chủ quyền số quốc gia...

Hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia thống nhất, hiện đại, liên thông và dùng chung

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1308/QĐ-TTg ngày 18/7/2026 phê duyệt Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là Việt Nam hình thành hệ sinh thái dữ liệu quốc gia thống nhất, hiện đại, an toàn, tin cậy, liên thông và dùng chung; phát triển đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kho dữ liệu, nền tảng dữ liệu và hạ tầng tính toán dùng chung theo kiến trúc thống nhất...

Cơ chế đặc thù thu hút nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế

Tại Nghị định số 258/2026/NĐ-CP, Chính phủ quy định chi tiết cơ chế, chính sách đặc thù thu hút, sử dụng nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế thuộc các lĩnh vực ưu tiên, trọng tâm, chiến lược quốc gia.

Theo quy định, nhà khoa học, chuyên gia về hội nhập quốc tế trong độ tuổi lao động và có nguyện vọng công tác lâu dài tại cơ quan, tổ chức trực tiếp, thường xuyên hoạt động trong lĩnh vực đối ngoại, hội nhập quốc tế thì được xem xét tiếp nhận vào công chức, viên chức theo pháp luật hiện hành, được hỗ trợ hằng tháng bằng 300% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng và các chính sách khác theo quy định của pháp luật.

Hình thành hệ sinh thái mật mã dân sự "Make in Vietnam"

Phó Thủ tướng Phan Văn Giang ký Quyết định số 1226/QĐ-TTg ngày 7/7/2026 phê duyệt Đề án "Khuyến khích xã hội hóa hoạt động nghiên cứu, phát triển ứng dụng mật mã dân sự giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035".

Mục tiêu của Đề án là Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy xã hội hóa hoạt động nghiên cứu, phát triển và ứng dụng mật mã dân sự; huy động hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ, cơ sở đào tạo tham gia phát triển công nghệ mật mã; từng bước làm chủ một số công nghệ mật mã cốt lõi; hình thành hệ sinh thái mật mã dân sự "Make in Vietnam" có năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu và góp phần giữ vững chủ quyền số quốc gia.

Đẩy nhanh tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 29/CT-TTg ngày 16/7/2026 về đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KH, CN, ĐMST&CĐS) năm 2026.

Chỉ thị nêu rõ quan điểm xác định KH, CN, ĐMST&CĐS là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chủ yếu để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Việc triển khai kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ, chương trình, dự án và đẩy nhanh tiến độ giải ngân nguồn kinh phí cho KH, CN, ĐMST&CĐS không chỉ là yêu cầu về thực hiện kế hoạch, mà còn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm nhằm hiện thực hóa các chủ trương của Đảng, tạo đột phá chiến lược, góp phần hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững.

Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, nhất là người đứng đầu phải xác định thực hiện nhiệm vụ và giải ngân vốn lĩnh vực KH, CN, ĐMST&CĐS là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cấp bách của năm 2026; đẩy nhanh tiến độ giải ngân phải đi đôi với nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng vốn, chống lãng phí, tiêu cực. Người đứng đầu các bộ, cơ quan, địa phương phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tiến độ, chất lượng, hiệu quả triển khai nhiệm vụ và giải ngân vốn ngân sách nhà nước năm 2026 được giao...

Đến năm 2045, Việt Nam sẽ trở thành một trong những trung tâm văn hóa, sáng tạo hàng đầu khu vực

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1306/QĐ-TTg ngày 17/7/2026 phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược).

Mục tiêu của Chiến lược là đến năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm văn hóa và sáng tạo hàng đầu của khu vực; phát triển bứt phá sức mạnh mềm văn hóa dựa trên nền tảng kinh tế số và xã hội số vững chắc; khẳng định vị thế quốc gia có bề dày văn hiến, năng lực và uy tín trong điều hành, tổ chức các sự kiện khu vực và quốc tế, chủ động tham gia định hình xu thế phát triển văn hóa thế giới trong kỷ nguyên mới...

Khuyến khích sử dụng sản phẩm, dịch vụ văn hóa số do doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu, phát triển

Chính phủ ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 9/7/2026 về Hạ tầng văn hóa số.

Theo Nghị định, phát triển hạ tầng văn hóa số phục vụ phát triển văn hóa Việt Nam, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số và công tác quản lý nhà nước về văn hóa; phát triển hạ tầng văn hóa số bảo đảm tính đồng bộ, liên thông, dùng chung rộng khắp, tối ưu hóa nguồn lực, tránh đầu tư phân tán, trùng lặp.

Phát triển, nghiên cứu, sáng tạo, sản xuất, phân phối và khai thác sản phẩm, dịch vụ văn hóa số dựa trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, khai thác, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam.

Khuyến khích sử dụng sản phẩm, dịch vụ văn hóa số do doanh nghiệp Việt Nam nghiên cứu, phát triển, sản xuất, cung cấp...

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Công điện số 45/CĐ-TTg ngày 8/7/2026 về việc đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

Để đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia, Ban Chỉ đạo các cấp và đề nghị các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Chiến dịch 500 ngày đêm.

Trong đó, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nhằm lan tỏa ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt của Chiến dịch 500 ngày đêm; đẩy nhanh tiến độ, nâng cao hiệu quả tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, tập trung vào địa bàn trong nước, các khu vực còn nhiều thông tin về mộ liệt sĩ, nhất là thông tin về mộ liệt sĩ tập thể. Tập trung phân tích, đối chứng tư liệu lịch sử và khai thác thông tin từ nhân chứng để mở rộng phạm vi khoanh vùng, thăm dò, tìm kiếm; triển khai đồng bộ công tác tổ chức lấy mẫu, bàn giao, bảo quản, lưu trữ mẫu hài cốt liệt sĩ đối với các mộ liệt sĩ chưa xác định được thông tin trong nghĩa trang liệt sĩ trên phạm vi toàn quốc...

Ban hành Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em giai đoạn 2026-2030

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1415/QĐ-TTg ngày 28/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia về bảo vệ trẻ em và phòng ngừa, giảm thiểu trẻ em lao động trái quy định của pháp luật giai đoạn 2026-2030 (Chương trình).

Mục tiêu của Chương trình nhằm bảo đảm mọi trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh; giảm thiểu trẻ em bị xâm hại trên phạm vi cả nước và tạo cơ hội cho trẻ em bị bạo lực, xâm hại tình dục, trẻ em lao động trái quy định của pháp luật (sau đây gọi là lao động trẻ em), trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác được hòa nhập, phát triển toàn diện góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững liên quan đến trẻ em.