Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 31/7/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 31/7/2026.

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tình hình mới
Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị số 30/CT-TTg yêu cầu các Bộ ngành, địa phương tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tình hình mới.
Chỉ thị nêu: Thời gian tới, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản tiếp tục diễn biến phức tạp, có tính chất xuyên quốc gia, lợi dụng không gian mạng, hoạt động chuyển đổi số, thương mại điện tử, thanh toán trực tuyến và sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước để thực hiện hành vi phạm tội. Đặc biệt, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng ngày càng tinh vi, chuyên nghiệp, thường xuyên thay đổi địa bàn, phương thức, thủ đoạn phạm tội, triệt để khai thác các thành tựu khoa học, công nghệ mới để đối phó với cơ quan chức năng, gây khó khăn cho công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm.
Không để hình thành tụ điểm hoạt động lừa đảo tại địa bàn, lĩnh vực quản lý
Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tình hình mới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các chủ trương của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản; xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên gắn với công tác bảo đảm an ninh, trật tự và phát triển kinh tế - xã hội; không để hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn biến phức tạp, hình thành điểm, tụ điểm hoạt động lừa đảo tại địa bàn, lĩnh vực quản lý.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức, kỹ năng nhận diện phòng ngừa tội phạm cho Nhân dân; chú trọng đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, kịp thời cảnh báo phương thức, thủ đoạn lừa đảo mới, đặc biệt là tội phạm lừa đảo trực tuyến theo hướng thiết thực, phù hợp từng lĩnh vực, địa bàn, nhóm đối tượng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, nền tảng số, mạng xã hội và các phương tiện thông tin đại chúng để cảnh báo nhanh, diện rộng đến người dân. Củng cố, nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng, duy trì các mô hình phòng, chống tội phạm phù hợp đặc điểm từng địa bàn, lĩnh vực, bảo đảm hoạt động thực chất, hiệu quả.
Chủ động rà soát, khắc phục sơ hở, bất cập trong công tác quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ để tội phạm lợi dụng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là viễn thông, ngân hàng, trung gian thanh toán, thương mại điện tử, quản lý đất đai, đầu tư, chứng khoán, bảo hiểm, y tế, giáo dục, du lịch, việc làm. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định, quy trình quản lý nhằm phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Dự báo sát tình hình thuộc địa bàn, lĩnh vực phụ trách, chủ động phòng ngừa, kịp thời sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hoặc đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật liên quan đến công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là lừa đảo sử dụng công nghệ cao, xuyên quốc gia, bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước, phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản; khẩn trương hoàn thiện, kết nối và chia sẻ các cơ sở dữ liệu chuyên ngành với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm phục vụ đối soát, xác minh, phân tích, cảnh báo sớm các hoạt động, giao dịch có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Thiết lập cơ chế phối hợp, kết nối kỹ thuật, chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan đăng ký, quản lý chuyên ngành, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet, tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và các đơn vị có liên quan phục vụ công tác điều tra, xử lý tội phạm theo quy định của pháp luật.
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế với các quốc gia, tổ chức quốc tế và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ xuyên biên giới trong phòng, chống tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là tội phạm lừa đảo xuyên quốc gia và trên không gian mạng; nâng cao hiệu quả phối hợp, trao đổi thông tin, xác minh, thu thập dữ liệu điện tử, truy vết dòng tiền, dẫn độ, tương trợ tư pháp về hình sự và phối hợp điều tra, xử lý tội phạm với các quốc gia, nhất là các nước có chung đường biên giới.
Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, phối hợp liên ngành kiểm tra việc thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước, chấp hành các quy định của pháp luật trong phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có liên quan. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, khắc phục sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý theo quy định.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công an phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành liên quan nắm tình hình, phát hiện hoạt động của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ sớm, từ xa tại địa bàn ngoại biên, khu vực biên giới liên quan đến công dân Việt Nam để kịp thời tham mưu đề xuất các đối sách, biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý phù hợp; nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ cao, công nghệ chiến lược phục vụ phát hiện, cảnh báo sớm và ngăn chặn hành vi lừa đảo trên môi trường số; xây dựng, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và các giải pháp xác thực, nhận diện thông tin phục vụ phòng, chống lừa đảo trực tuyến...
Ngăn chặn tình trạng mở và sử dụng tài khoản thanh toán không đúng thông tin chủ thể
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì nghiên cứu, rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật nhằm ngăn chặn tình trạng sử dụng tài khoản thanh toán, ví điện tử, mobile money không đúng thông tin chủ thể để vi phạm pháp luật; triển khai hệ thống tự động giám sát, cảnh báo trực tiếp đối với các giao dịch bất thường, giao dịch có dấu hiệu liên quan đến hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tăng cường kiểm soát, kiên quyết ngăn chặn tình trạng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, ví điện tử, mobile money không đúng thông tin chủ thể; kịp thời phát hiện, xử lý các sơ hở, thiếu sót trong quy trình nghiệp vụ, quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn hệ thống...
Bộ Tài chính tăng cường kiểm tra, giám sát chuyên ngành đối với các lĩnh vực thuế, hải quan, chứng khoán, bảo hiểm, kế toán, kiểm toán, đấu thầu, phát hành trái phiếu, huy động vốn, đầu tư tài chính, hoạt động của doanh nghiệp, hộ kinh doanh và các dịch vụ tài chính thuộc phạm vi quản lý; kịp thời phát hiện, phối hợp xử lý hành vi lợi dụng hoạt động tài chính, đầu tư, kinh doanh để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản...
Xử lý các tổ chức, cá nhân đăng tải thông tin tuyển dụng lao động giả mạo
Bộ Ngoại giao hỗ trợ thúc đẩy hợp tác với các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp cung cấp nền tảng số xuyên biên giới nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng; chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tăng cường công tác nắm tình hình, thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, cảnh báo công dân Việt Nam ở nước ngoài về hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là thủ đoạn tuyển dụng lao động trá hình và các hình thức dụ dỗ khác nhằm lôi kéo, ép buộc tham gia hoạt động vi phạm pháp luật tại nước ngoài; làm tốt công tác bảo hộ công dân, nhất là những người bị lừa đảo, ép buộc tham gia vào các tổ chức tội phạm tại nước ngoài.
Bộ Nội vụ chủ trì rà soát, hoàn thiện cơ chế quản lý hoạt động đưa người Việt Nam đi lao động, học tập, làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; phối hợp rà soát, phát hiện, xử lý các tổ chức, cá nhân đăng tải thông tin tuyển dụng, môi giới lao động, tư vấn xuất khẩu lao động giả mạo, thu phí trái quy định hoặc lợi dụng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản...
Tăng cường quản lý hoạt động các sàn giao dịch thương mại điện tử
Bộ Công Thương chủ trì rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về thương mại điện tử, kinh doanh trực tuyến, kinh doanh đa cấp và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhằm khắc phục sơ hở, bất cập, không để tội phạm lợi dụng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tăng cường quản lý hoạt động của website thương mại điện tử, sàn giao dịch thương mại điện tử, ứng dụng thương mại điện tử, mạng xã hội có chức năng thương mại điện tử, hoạt động livestream bán hàng, tiếp thị liên kết, quảng cáo, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ trên môi trường mạng; chỉ đạo, hướng dẫn các nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội có chức năng thương mại điện tử tăng cường xác thực thông tin tổ chức, cá nhân kinh doanh; công khai, minh bạch thông tin người bán, hàng hóa, dịch vụ...
Xây dựng các mô hình phòng, chống tội phạm tại cơ sở
Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu người đứng đầu chính quyền địa phương các cấp chịu trách nhiệm toàn diện về tình hình an ninh, trật tự, công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn quản lý, không để hình thành, tồn tại các điểm, tụ điểm hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại địa bàn.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp các tổ chức chính trị - xã hội đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến phương thức, thủ đoạn hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, phát động các phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng các mô hình phòng, chống tội phạm tại cơ sở để phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Đồng thời, chỉ đạo rà soát, khắc phục sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ phát sinh hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhất là ngân hàng, viễn thông, thương mại điện tử, đầu tư tài chính, kinh doanh đa cấp, đất đai, bất động sản, du lịch, y tế, giáo dục, việc làm, xuất khẩu lao động, đặc biệt là trên môi trường mạng liên quan đến địa bàn quản lý; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành, các lực lượng, phân công nhiệm vụ cụ thể để phòng ngừa, đấu tranh, xử lý có hiệu quả hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Chỉ đạo các lực lượng chức năng chủ động nắm tình hình, phát hiện, xử lý nghiêm các đối tượng, đường dây hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản; tập trung triệt phá các ổ nhóm lừa đảo sử dụng công nghệ cao, hoạt động có tổ chức, liên tỉnh, xuyên quốc gia; nâng cao hiệu quả tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, điều tra, xử lý các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp trong xác minh, trì hoãn giao dịch, phong tỏa tài khoản, truy vết dòng tiền, thu thập dữ liệu điện tử, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt theo quy định của pháp luật.
Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định pháp luật trong các lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ phát sinh hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm và cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, bao che, tiếp tay cho vi phạm...
Đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Nghị quyết này điều chỉnh, bổ sung một số quy định về nguyên tắc, hồ sơ, trình tự, thẩm quyền cấp, quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói tại Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định về nhập khẩu cây mang theo bầu đất và mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói (Nghị định số 38/2026/NĐ-CP) để đơn giản hóa thủ tục hành chính cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng
Về nguyên tắc đơn giản hóa thủ tục hành chính về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, Nghị quyết nêu rõ, việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được thực hiện toàn trình trên môi trường mạng theo nguyên tắc tổ chức, cá nhân tự khai, tự chịu trách nhiệm, giảm thời gian, giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa thủ tục hành chính, không phát sinh thủ tục hành chính mới, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, bảo đảm công khai, minh bạch, khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất, đóng gói sản phẩm cây trồng.
Thực hiện thủ tục hành chính về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải gắn với cơ chế hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, truy xuất nguồn gốc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chỉ thực hiện tiền kiểm đối với trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Khuyến khích tổ chức, cá nhân, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết sản xuất hình thành vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn để cấp mã số vùng trồng.
Một số quy định về cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói
Nghị quyết quy định mã số vùng trồng theo quy định tại khoản 1 Điều 64 Luật Trồng trọt được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 146/2025/QH15 được cấp cho một loại cây trồng xác định theo vị trí của một hoặc nhiều thửa đất theo đề nghị của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ gia đình (sau đây gọi là tổ chức, cá nhân). Mã số vùng trồng không xác lập, không thay thế quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân.
Vị trí thửa đất được xác định theo mã định danh của thửa đất trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Trường hợp thửa đất đề nghị cấp mã số vùng trồng chưa có hoặc chưa thể khai thác mã định danh thửa đất thì tổ chức, cá nhân đề nghị cấp mã số vùng trồng tự kê khai về diện tích và vị trí, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo thực hiện xác nhận thông tin trong quá trình kiểm tra thực tế hoặc hậu kiểm.
Dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói được quản lý tập trung trên Hệ thống xử lý nghiệp vụ và công khai trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; được kết nối, chia sẻ với Hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các hệ thống cơ sở dữ liệu khác theo quy định của pháp luật.
Hồ sơ, trình tự, thẩm quyền cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói
Hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói gồm:
- Đơn đề nghị cấp mã số vùng trồng theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị quyết này.
- Đơn đề nghị cấp mã số cơ sở đóng gói theo Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết này.
Trình tự cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đến Ủy ban nhân dân cấp xã (nơi có địa chỉ vùng trồng, cơ sở đóng gói) thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia.
Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân không đăng ký xuất khẩu đến các thị trường có yêu cầu về mã số, trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo Mẫu tại Phụ lục III, Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị quyết này; trường hợp không cấp phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
Đối với trường hợp tổ chức, cá nhân đăng ký xuất khẩu đến thị trường có yêu cầu về mã số, trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức kiểm tra và ban hành Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói theo Mẫu tại Phụ lục III, Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị quyết này; phê duyệt ngay mã số đối với trường hợp nước nhập khẩu đồng ý để cơ quan có thẩm quyền Việt Nam tự phê duyệt; trường hợp không cấp phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
Đối với trường hợp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói phải được nước nhập khẩu phê duyệt, cơ quan chuyên môn đầu mối cấp tỉnh tổng hợp, gửi danh sách về Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày có Thông báo cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được danh sách, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổng hợp, gửi nước nhập khẩu xem xét, phê duyệt; trường hợp nước nhập khẩu có yêu cầu khác về thời gian gửi danh sách này thì thực hiện theo yêu cầu của nước nhập khẩu.
Nội dung kiểm tra bao gồm kiểm tra thông tin kê khai trong hồ sơ, việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu. Biên bản kiểm tra theo Mẫu tại Phụ lục VI (đối với vùng trồng) hoặc Phụ lục VII (đối với cơ sở đóng gói) ban hành kèm theo Nghị quyết này.
Trường hợp vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số muốn đăng ký bổ sung thị trường xuất khẩu thì nộp đơn theo Mẫu tại Phụ lục I, Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị quyết này; trình tự thực hiện theo điểm a, điểm c khoản 2 Điều này nhưng giữ nguyên mã số đã được cấp trong Thông báo cấp/cấp lại mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.
Trường hợp thay đổi thông tin liên quan đến tên tổ chức, cá nhân đại diện mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói hoặc do việc thay đổi địa giới hành chính thì tổ chức, cá nhân nộp đơn đề nghị cấp lại theo Mẫu tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị quyết này. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận đơn đề nghị cấp lại của tổ chức, cá nhân, Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ vào hồ sơ lưu trữ, xem xét và thông báo cho tổ chức, cá nhân theo Mẫu tại Phụ lục III, Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị quyết này; trường hợp không cấp phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
Trường hợp Cổng dịch vụ công quốc gia gặp sự cố không thể tiếp nhận và xử lý hồ sơ trên môi trường mạng hoặc tổ chức, cá nhân không thể nộp hồ sơ trên môi trường mạng, Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận hồ sơ bằng bản giấy (nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện); việc cấp mã số được thực hiện theo quy định trên và thông tin phải được cập nhật lên Cổng dịch vụ công quốc gia ngay sau khi Cổng dịch vụ công quốc gia hoạt động bình thường.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31 tháng 7 năm 2026 đến khi Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 38/2026/NĐ-CP ngày 24 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ có hiệu lực thi hành.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2024/NĐ-CP quy định việc thực hiện liên thông điện tử 02 nhóm thủ tục hành chính: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, giải quyết mai táng phí, tử tuất
Chính phủ ban hành Nghị định số 301/2026/NĐ-CP ngày 30/7/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 63/2024/NĐ-CP ngày 10/6/2024 của Chính phủ quy định việc thực hiện liên thông điện tử 02 nhóm thủ tục hành chính: đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, giải quyết mai táng phí, tử tuất.
Trả ngay kết quả từng thủ tục hành chính sau khi giải quyết xong
Cụ thể, Nghị định số 301/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 3, khoản 5 và khoản 7 Điều 4 Nghị định số 63/2024/NĐ-CP về nguyên tắc thực hiện quy trình liên thông điện tử theo hướng quy định rõ ràng những vấn đề bảo đảm an toàn trong thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu; quy định trường hợp khi xảy ra sự cố kỹ thuật do việc thực hiện liên thông điện tử. Đồng thời, quy định việc trả ngay kết quả giải quyết thủ tục hành chính sau khi hoàn thành việc giải quyết từng thủ tục hành chính, không chờ đến khi kết thúc việc giải quyết toàn bộ các thủ tục trong quy trình liên thông mới trả kết quả để đảm bảo thuận lợi cho người dân, tổ chức.
Sửa đổi thủ tục giải quyết hồ sơ đăng ký khai sinh
Nghị định số 301/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2 Điều 8 Nghị định số 63/2024/NĐ-CP về giải quyết hồ sơ đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú cho trẻ em dưới 6 tuổi theo hướng hoàn thiện quy định về quy trình giải quyết hồ sơ nhằm bảo đảm đồng bộ với việc triển khai trên môi trường điện tử thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và ứng dụng VNeID. Theo đó, việc giải quyết hồ sơ đăng ký khai sinh (tại khoản 1) được thực hiện như sau:
Sau khi hồ sơ đăng ký khai sinh điện tử được Cổng Dịch vụ công quốc gia chuyển tới Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp và được Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp đồng bộ hồ sơ về Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp thì người thực hiện công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nghiệp vụ đăng ký khai sinh trên Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp.
a) Trường hợp hồ sơ đầy đủ, hợp lệ: Người thực hiện công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nghiệp vụ đăng ký khai sinh trên Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp và chuyển thông tin đến Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cấp Số định danh cá nhân. Thời gian giải quyết đăng ký khai sinh trong 24 giờ kể từ khi Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Sau khi có kết quả đăng ký khai sinh, Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp tự động chuyển bản điện tử Giấy khai sinh đến Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp, sau đó Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp đồng bộ với Cổng Dịch vụ công quốc gia để hoàn thiện và chuyển hồ sơ điện tử của các thủ tục hành chính tiếp theo trong quy trình liên thông và gửi kết quả cho người yêu cầu.
b) Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ hoặc không đủ điều kiện giải quyết: Người thực hiện công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thao tác trên Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp để gửi thông tin trạng thái hồ sơ đến Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp, sau đó Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp thông báo cho người yêu cầu qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VNeID hoặc gửi tin nhắn điện thoại tự động của Cổng Dịch vụ công quốc gia, trong đó nêu rõ lý do đối với các trường hợp hồ sơ bị từ chối giải quyết hoặc nêu rõ loại giấy tờ, nội dung cần bổ sung trong thời gian không quá 24 giờ kể từ thời điểm nhận được hồ sơ điện tử trên hệ thống.
Trường hợp cần bổ sung thành phần hồ sơ thì người yêu cầu có trách nhiệm hoàn thiện hồ sơ trong 07 ngày làm việc, nếu quá thời hạn này không bổ sung thì người thực hiện công tác hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện thao tác trên Hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử của Bộ Tư pháp để dừng xử lý do không bổ sung theo quy định. Thông tin về việc dừng xử lý được gửi đến Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp để thông báo cho người yêu cầu qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VNeID hoặc gửi tin nhắn điện thoại tự động của Cổng Dịch vụ công quốc gia.
c) Việc liên thông điện tử giữa Cơ sở dữ liệu hộ tịch và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để cấp số định danh cá nhân, thực hiện trên các hệ thống, phần mềm nghiệp vụ của Bộ Tư pháp, Bộ Công an.
Trong quá trình thực hiện có vướng mắc phát sinh liên quan đến cấp số định danh cá nhân, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ kiểm tra, xử lý và trả kết quả xử lý trong thời gian không quá 01 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận các vướng mắc từ Bộ Tư pháp, cơ quan đăng ký hộ tịch.
Đáng chú ý, Nghị định cũng bổ sung điểm d sau điểm c khoản 1 quy định thực hiện hỗ trợ tài chính cho phụ nữ khi sinh con. Theo đó, sau khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký khai sinh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đồng thời xem xét, quyết định việc hỗ trợ tài chính khi sinh con và thực hiện chi trả cho phụ nữ sinh con theo quy định pháp luật dân số.
Sửa đổi quy trình giải quyết hồ sơ đăng ký thường trú
Đối với thủ tục giải quyết hồ sơ đăng ký thường trú tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 63/2024/NĐ-CP được sửa đổi như sau:
Sau khi Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp chuyển bản điện tử Giấy khai sinh sang Cổng Dịch vụ công quốc gia, sau đó Cổng Dịch vụ công quốc gia phân tách, chuyển hồ sơ điện tử (bao gồm biểu mẫu, tờ khai người yêu cầu đã kê khai, bản điện tử Giấy khai sinh) đến Hệ thống thông tin quản lý cư trú để thực hiện đăng ký thường trú.
Các thông tin xác nhận đồng ý của chủ hộ, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp, của cha, mẹ hoặc người giám hộ được thực hiện qua ứng dụng VNeID hoặc qua quy trình nghiệp vụ của ngành công an. Thông báo về việc thực hiện quy trình xác nhận được gửi đến tài khoản của tổ chức, cá nhân trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VNeID hoặc gửi tin nhắn điện thoại tự động của Cổng Dịch vụ công quốc gia. Thời hạn xác nhận qua ứng dụng VNeID không quá 05 ngày làm việc.
a) Trường hợp hồ sơ đầy đủ, hợp lệ: Cán bộ công an thực hiện các nghiệp vụ đăng ký thường trú trên Hệ thống thông tin quản lý cư trú của ngành công an. Thời gian giải quyết đăng ký thường trú không quá 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ điện tử đối với trường hợp: con về với cha, mẹ và cha, mẹ là chủ hộ, đồng thời là chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp; con về với cha, mẹ nhưng cha, mẹ không phải là chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp. Đối với các trường hợp khác yêu cầu phải xác minh theo quy định của Luật Cư trú thì thời hạn giải quyết không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ điện tử, thông tin xác nhận qua ứng dụng VNeID.
b) Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, chưa chính xác theo quy định: Cơ quan đăng ký quản lý cư trú thực hiện thông báo cho người yêu cầu qua Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VNeID hoặc gửi tin nhắn điện thoại tự động của Cổng Dịch vụ công quốc gia, trong đó nêu rõ lý do đối với các trường hợp hồ sơ không được tiếp nhận, các thành phần hồ sơ cần bổ sung trong thời gian không quá 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ điện tử trên hệ thống.
Đặc biệt, Nghị định số 301/2026/NĐ-CP đã bổ sung quy định (tại khoản 3a trước khoản 3 Điều 8) về việc cấp thẻ căn cước cho trẻ em dưới 6 tuổi khi người yêu cầu có đề nghị cấp thẻ căn cước cho trẻ trong quy trình liên thông nhóm thủ tục "Đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế", trong đó quy định về trình tự, cách thức chuyển dữ liệu điện tử giữa Cổng Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống điều phối giải quyết thủ tục hành chính, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tư pháp, Hệ thống thông tin quản lý cư trú và Hệ thống cấp, sản xuất và quản lý căn cước; thời gian đồng bộ dữ liệu, thời gian phản hồi trạng thái tiếp nhận hồ sơ giữa các hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp, xử lý hồ sơ liên thông điện tử; và việc tích hợp thông tin Giấy khai sinh, thẻ bảo hiểm y tế vào thẻ căn cước và tài khoản định danh điện tử của trẻ em theo quy định của pháp luật về căn cước.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2026.
Ban hành Nghị định về hạ tầng văn hóa số
Chính phủ ban hành Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về hạ tầng văn hóa số.
Nghị định này gồm 5 chương 20 điều quy định chi tiết khoản 1, khoản 3 và khoản 5 Điều 10 Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, bao gồm: phát triển hạ tầng văn hóa số; cơ sở dữ liệu về văn hóa, kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, nền tảng số dùng chung trong lĩnh vực văn hóa; chính sách thu hút đầu tư, hỗ trợ phát triển công nghệ số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số; trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động phát triển, xây dựng, quản lý, quản trị, vận hành, khai thác, sử dụng hạ tầng văn hóa số, phát triển, sản xuất nội dung số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số và trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa tại Việt Nam.
Công nghệ số được ưu tiên phát triển trong lĩnh vực văn hóa
Điều 13 Nghị định số 277/2026/NĐ-CP quy định một số công nghệ số ưu tiên phát triển trong lĩnh vực văn hóa bao gồm:
a) Điện toán đám mây (Cloud Computing);
b) Điện toán biên (Edge Computing);
c) Trí tuệ nhân tạo (AI);
d) Dữ liệu lớn (Big Data);
đ) Bản sao số (Digital Twin);
e) Internet vạn vật (IoT);
g) Chuỗi khối (Blockchain);
h) Thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), thực tế mở rộng (XR), trải nghiệm nhập vai (IR), thực tế hỗn hợp (MR);
i) Công nghệ quét ba chiều (LiDAR), trắc lượng ảnh (Photogrammetry), hệ thống thông tin địa lý (GIS), mô hình hóa thông tin (BIM/HBIM);
k) Công nghệ số khác theo quy định của pháp luật.
Các ứng dụng công nghệ số ưu tiên phát triển trong lĩnh vực văn hóa bao gồm:
a) Mô hình ngôn ngữ lớn, trợ lý ảo và trí tuệ nhân tạo (AI) chuyên ngành văn hóa được huấn luyện dựa trên các tập dữ liệu chuẩn hóa của Việt Nam, có cơ chế kiểm soát đầu ra bảo đảm sự phù hợp với hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, phục vụ số hóa, phân loại và gắn thẻ tự động tài nguyên văn hóa; nhận dạng chữ cổ, tư liệu lịch sử; dịch thuật đa ngôn ngữ, tạo phụ đề tự động; cá nhân hóa trải nghiệm văn hóa cho người dùng; tạo sản phẩm sáng tạo mới từ dữ liệu văn hóa số; việc phát triển và triển khai các mô hình, ứng dụng trí tuệ nhân tạo bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan;
b) Nền tảng hỗ trợ sáng tạo và phân phối nội dung số phục vụ cung cấp công cụ sáng tạo, sản xuất và phân phối các sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí trên môi trường mạng, bao gồm hạ tầng phân phối nội dung (CDN), hệ thống quản lý và bảo vệ bản quyền số (DRM), công nghệ chống vi phạm bản quyền trực tuyến;
c) Nền tảng quản trị tài sản số, sàn dữ liệu văn hóa và sàn giao dịch bản quyền số phục vụ truy xuất nguồn gốc dữ liệu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, cung cấp môi trường để giao dịch, trao đổi dữ liệu và hỗ trợ giao dịch, thương mại hóa các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, tài sản số;
d) Nền tảng quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa; trưng bày, triển lãm trên môi trường điện tử phục vụ nhu cầu lưu trữ, thể hiện trên bản đồ số, tái lập các không gian di tích, hiện vật lịch sử lên môi trường số, cho phép khách tham quan 360 độ trên môi trường số hoặc tái hiện các loại hình nghệ thuật truyền thống;
đ) Nền tảng thuyết minh tự động và diễn giải văn hóa phục vụ du khách tham quan;
e) Nền tảng phim trường số, trường quay số phục vụ quay dựng phim, xử lý kỹ thuật hậu kỳ;
g) Nền tảng nghệ thuật biểu diễn trực tuyến, nền tảng lớp học văn hóa, nghệ thuật trực tuyến;
h) Nền tảng xuất bản, phát hành số; nền tảng truyền thông tri thức xã hội số quốc gia trên thiết bị di động, gắn với chuỗi chương trình nội dung trọng điểm có định hướng tạo thành dòng thông tin, tri thức định hình chuẩn mực hành vi, ứng xử văn hóa, góp phần hình thành môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh, an toàn trên môi trường số;
i) Sản phẩm công nghệ số ưu tiên khác theo quy định pháp luật.
Phân loại sản phẩm, dịch vụ văn hóa số
Điều 14 của Nghị định số 277/2026/NĐ-CP quy định sản phẩm, dịch vụ văn hóa số là các sản phẩm, dịch vụ số thuộc lĩnh vực văn hóa.
Sản phẩm, dịch vụ văn hóa số bao gồm:
a) Di sản văn hóa và tri thức văn hóa số: bao gồm các phiên bản số hóa 2D, 3D, thực tế ảo (VR), thực tại tăng cường (AR) của di sản văn hóa; bản đồ số di sản văn hóa; thư viện số; trưng bày, triển lãm trên môi trường điện tử;
b) Nội dung và giải trí số: âm nhạc, xuất bản phẩm điện tử (bao gồm các phiên bản số hóa 2D, 3D, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), thực tế hỗn hợp (MR), thực tế mở rộng (XR));
c) Nghệ thuật và sáng tạo số: điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, thiết kế sáng tạo, nghệ thuật biểu diễn trực tuyến trên môi trường số;
d) Phân phối nội dung văn hóa số: bao gồm các nền tảng xuất bản điện tử, mạng xã hội chia sẻ nội dung trong lĩnh vực văn hóa;
đ) Du lịch và trải nghiệm văn hóa số: bao gồm các hệ thống thuyết minh đa ngôn ngữ tự động, bản đồ số du lịch văn hóa, các sản phẩm trải nghiệm du lịch cá biệt hóa dựa trên công nghệ số và hệ sinh thái tài nguyên bản địa;
e) Các sản phẩm, dịch vụ văn hóa số, nội dung số khác theo quy định của pháp luật.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Danh mục sản phẩm, dịch vụ văn hóa số được ưu tiên phát triển phù hợp với yêu cầu quản lý, tình hình thực tiễn và định hướng phát triển trong từng thời kỳ.
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và thu hút đầu tư
Nghị định nêu rõ: Doanh nghiệp đầu tư, nghiên cứu, phát triển công nghệ số, sản phẩm công nghệ số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số quy định tại Điều 13 và Điều 14 nêu trên được hưởng ưu đãi, hỗ trợ như sau:
a) Được hưởng ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về đầu tư, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, công nghiệp công nghệ số, chuyển đổi số và pháp luật có liên quan khi đáp ứng điều kiện, tiêu chí tương ứng theo quy định của pháp luật.
b) Được tham gia vào các sáng kiến, chương trình hỗ trợ theo quy định tại (*).
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (*):
a) Ban hành tài liệu hướng dẫn hoặc bộ tiêu chí tham khảo về yêu cầu chuyên ngành đặc thù trong lĩnh vực văn hóa đối với sản phẩm công nghệ số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số; khuyến khích doanh nghiệp tự nguyện áp dụng, tự đánh giá và công khai thông tin về mức độ đáp ứng.
Trường hợp quy định yêu cầu kỹ thuật bắt buộc hoặc thực hiện hoạt động đánh giá sự phù hợp, công bố hợp quy thì thực hiện theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đánh giá sự phù hợp và pháp luật có liên quan;
b) Tổ chức tôn vinh, tuyên truyền, phổ biến, giới thiệu, xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại trong và ngoài nước để thúc đẩy phát triển và sử dụng đối với sản phẩm công nghệ số, sản phẩm, dịch vụ văn hóa số đáp ứng được yêu cầu;
c) Xây dựng và tổ chức triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng miễn phí dịch vụ hạ tầng số trong thời gian không quá 6 tháng để phục vụ hoạt động nghiên cứu, phát triển đối với mỗi loại hình sản phẩm, dịch vụ; được gia hạn thời gian không quá 3 lần, mỗi lần không quá 3 tháng căn cứ vào kết quả nghiên cứu, phát triển;
d) Tư vấn cho doanh nghiệp về các vấn đề văn hóa trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, khai thác, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam;
đ) Kết nối doanh nghiệp với các đơn vị văn hóa, nghệ thuật để hình thành hệ sinh thái cùng sáng tạo, cùng khai thác, cùng tạo ra giá trị.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (09/7/2026).
Giao chỉ tiêu thực hiện bao phủ bảo hiểm y tế cho UBND các tỉnh, thành phố giai đoạn 2026 – 2030
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1468/QĐ-TTg ngày 31/7/2026 giao chỉ tiêu thực hiện bao phủ bảo hiểm y tế cho UBND các tỉnh, thành phố giai đoạn 2026 - 2030.
Theo đó, giao tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn quốc năm 2026 là 95,98%, năm 2027 là 96,86%, năm 2028 là 97,76%, năm 2029 là 98,67%, năm 2030 là 100%.
Trong đó, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế năm 2026 của thành phố Hà Nội là 96,25%, TPHCM là 96%, tỉnh Cao Bằng 99,36%, tỉnh Lào Cai 97%, tỉnh Điện Biên 98,47%,… Đến năm 2030 tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế của tất cả các tỉnh đều là 100%.
Nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách, hộ cận nghèo
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan nghiên cứu, đề xuất: nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách, người thuộc hộ cận nghèo, người khuyết tật, người yếu thế và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo hiểm y tế, bảo đảm duy trì bền vững và tăng tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế.
Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức triển khai thực hiện; triển khai các giải pháp hiệu quả để phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, hướng đến đạt mục tiêu bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2030; xây dựng tài liệu hướng dẫn các địa phương tính tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế và hướng dẫn các địa phương thực hiện.
Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Y tế đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các giải pháp, cơ chế, chính sách liên quan đến việc phát triển đối tượng tham gia, đóng bảo hiểm y tế và tổ chức triển khai thực hiện, bảo đảm ổn định để có kế hoạch cân đối ngân sách trung và dài hạn.
Tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân tham gia đóng bảo hiểm y tế
Bộ Tài chính chỉ đạo Bảo hiểm xã hội Việt Nam đổi mới hình thức, nội dung, nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật về thực hiện bảo hiểm y tế trong giai đoạn mới để cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, các cơ quan, tổ chức và người dân nắm rõ hơn về ý nghĩa, tính nhân văn, tầm quan trọng của bảo hiểm y tế và trách nhiệm chung tay của mỗi người dân trong việc tham gia bảo hiểm y tế, đẩy mạnh tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình.
Cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân tham gia đóng bảo hiểm y tế, thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm y tế theo hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế; nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, bảo đảm vận hành ổn định Hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế...
Xử lý tình trạng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm y tế
UBND các tỉnh, thành phố căn cứ chỉ tiêu tại Quyết định này, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp đưa chỉ tiêu bao phủ bảo hiểm y tế vào nghị quyết, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và dài hạn của địa phương; giao chỉ tiêu bao phủ bảo hiểm y tế đến cấp xã; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về tổ chức thực hiện; chỉ đạo các sở, ban, ngành, đơn vị có liên quan, HĐND và UBND cấp xã xây dựng kế hoạch, giải pháp triển khai thực hiện để đạt chỉ tiêu được giao; thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin về người lao động, tiền lương tại các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn để rà soát, đối chiếu và xử lý tình trạng trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm y tế.
Trình Hội đồng nhân dân cùng cấp bố trí ngân sách địa phương và huy động các nguồn lực phù hợp để hỗ trợ kinh phí đóng bảo hiểm y tế cho các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tại địa phương ngoài mức hỗ trợ từ ngân sách nhà nước theo quy định, cụ thể như sau:
Tập trung hỗ trợ thêm cho các đối tượng đang được ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế theo quy định: người thuộc hộ gia đình cận nghèo; học sinh, sinh viên; người tham gia lực lượng bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình theo quy định của pháp luật; nhân viên y tế thôn, bản; cô đỡ thôn, bản; người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo quy định của pháp luật; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại các xã được xác định không còn thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; người được tặng danh hiệu Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú theo quy định của Luật Di sản văn hóa; nạn nhân theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người; người khuyết tật, người cao tuổi theo quy định của pháp luật chưa được hưởng chính sách bảo hiểm y tế để tăng tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế của các nhóm đối tượng này.
Khuyến khích hỗ trợ một số đối tượng khác trên địa bàn thuộc thẩm quyền quản lý để đạt mục tiêu 100% các đối tượng này tham gia bảo hiểm y tế...
Ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số phiên bản 1.0 Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1425/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số (phiên bản 1.0).
Theo Quyết định, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số là căn cứ để xây dựng, phát triển, nâng cấp và vận hành hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số của các cơ quan, tổ chức trong toàn bộ hệ thống chính trị; bảo đảm đồng bộ, thống nhất, kết nối, liên thông, chia sẻ, sử dụng chung, kế thừa tối đa các thành phần hiện có phù hợp, tránh đầu tư phân tán, trùng lặp, lãng phí, và đáp ứng yêu cầu phát triển, ứng dụng các công nghệ mới trong tương lai.
Hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ người dân, doanh nghiệp
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số (phiên bản 1.0) (gọi tắt là Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số) được xây dựng nhằm khái quát mô hình kiến trúc số tổng thể cho quốc gia, trong đó xác định những thành phần dùng chung, cơ bản nhất cho các cơ quan trong hệ thống chính trị các cấp; bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong quá trình kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu số; bảo đảm kết nối, chia sẻ, dùng chung tài nguyên, dữ liệu; tránh trùng lặp đầu tư trên quy mô quốc gia; đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ người dân, doanh nghiệp; thống nhất các Khung kiến trúc, kiến trúc hiện có; phát triển các nền tảng số, cơ sở dữ liệu dùng chung quốc gia; giúp tránh đầu tư trùng lặp, tiết kiệm chi phí; tăng tính minh bạch thông qua dữ liệu mở, tăng cường trách nhiệm giải trình và sự tham gia của xã hội; tăng mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp.
Phạm vi áp dụng
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số áp dụng đối với:
Việc xây dựng, cập nhật, quản lý và tổ chức triển khai Khung kiến trúc số của cơ quan Đảng, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Khung kiến trúc Chính phủ số (được tổ chức triển khai thông qua Khung kiến trúc Chính phủ số cấp bộ và Khung kiến trúc Chính quyền số cấp tỉnh) và Khung kiến trúc số của các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Việc đầu tư, xây dựng, nâng cấp, phát triển, vận hành, kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng chung hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số theo quy định của pháp luật.
7 nguyên tắc cốt lõi của Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số
Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số kế thừa đầy đủ các nội dung của 7 nguyên tắc cốt lõi tại Quy định số 05-QĐ/BCĐTW; đồng thời cập nhật, bổ sung để phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan và yêu cầu triển khai trong giai đoạn tới, cụ thể như sau:
Nguyên tắc 1. Quản trị trên cơ sở định lượng, đo lường và kiểm chứng được kết quả
Mục tiêu cao nhất và thước đo thành công của từng hợp phần trong Mô hình là tạo ra kết quả thực chất, có thể định lượng, đo lường và kiểm chứng được.
Nguyên tắc 2. Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu theo thời gian thực
Dữ liệu được quản trị thống nhất trên phạm vi quốc gia theo nguyên tắc "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung"; được chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ, khai thác và điều phối theo quy định của pháp luật.
Nguyên tắc 3. Vận hành thông minh và tự động hóa trên cơ sở ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI First)
Mô hình được thiết kế theo hướng ưu tiên xem xét, tích hợp trí tuệ nhân tạo và công nghệ tự động hóa vào các quy trình nghiệp vụ phù hợp, trên cơ sở đáp ứng điều kiện pháp lý, dữ liệu, kỹ thuật, an toàn và quản trị rủi ro.
Nguyên tắc 4. Phân cấp, phân quyền mạnh mẽ trên nền tảng số
Trung ương tập trung vào vai trò kiến tạo thể chế, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, xây dựng và vận hành các nền tảng số dùng chung, đồng thời thực hiện chức năng giám sát việc tổ chức thực hiện dựa trên dữ liệu.
Nguyên tắc 5. Lấy người dùng làm trung tâm với hệ sinh thái dịch vụ hợp nhất
Kiên quyết chấm dứt tình trạng phân mảnh, rời rạc trong trải nghiệm của người dân và doanh nghiệp khi tương tác với cơ quan nhà nước, cổng Dịch vụ công quốc gia và ứng dụng định danh điện tử VNelD phải được phát triển thành hệ sinh thái thống nhất, đồng bộ, liên thông, liền mạch với thiết kế bao trùm, bảo đảm khả năng tiếp cận cho mọi đối tượng, nhất là người yếu thế; tích hợp các tính năng hỗ trợ cần thiết như hướng dẫn bằng giọng nói, hỗ trợ ngôn ngữ dân tộc thiểu số.
Nguyên tắc 6. Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư là yêu cầu tiên quyết, xuyên suốt
Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư phải được xác định là yêu cầu tiên quyết, xuyên suốt trong toàn bộ vòng đời của hạ tầng số, hệ thống số, hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số, từ giai đoạn thiết kế, xây dựng, triển khai, vận hành, nâng cấp đến kết thúc sử dụng.
Nguyên tắc 7. Thúc đẩy phát triển dữ liệu mở, nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và đổi mới sáng tạo
Các nguyên tắc gắn bó chặt chẽ, bổ trợ lẫn nhau, tạo thành một thể thống nhất. Trong đó, bảo đảm an ninh mạng (Nguyên tắc 6) là nền tảng để các nguyên tắc còn lại có thể được triển khai một cách tin cậy và bền vững. Trên nền tảng an toàn đó, lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu (Nguyên tắc 2) chỉ khả thi khi có hệ thống vận hành thông minh, tự động thu thập dữ liệu (Nguyên tắc 3). Dữ liệu thu thập được cho phép Trung ương giám sát hiệu quả, từ đó phân cấp, phân quyền cho địa phương (Nguyên tắc 4). Hiệu quả của việc phân quyền và toàn bộ mô hình được đo lường bằng kết quả thực chất (Nguyên tắc 1), hướng đến sự hài lòng cho người dân và doanh nghiệp thông qua một hệ sinh thái hợp nhất, lấy người dùng làm trung tâm (Nguyên tắc 5). Niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái lại được củng cố bởi sự bảo đảm về an ninh mạng (Nguyên tắc 6). Trên cơ sở đó, việc công khai, chia sẻ, mở dữ liệu (Nguyên tắc 7) không chỉ tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình mà còn thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khai thác tối đa giá trị từ dữ liệu, tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín và liên tục được hoàn thiện.
Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 1796/NQ-UBTVQH15 ngày 11/8/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giám sát chuyên đề việc thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 204/NQ-CP ngày 30/7/2026 về Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 1796/NQ-UBTVQH15 ngày 11/8/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giám sát chuyên đề việc thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Mục đích của Kế hoạch nhằm tổ chức triển khai đồng bộ, thống nhất, hiệu quả các cơ chế, chính sách, pháp luật về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao được quy định tại Nghị quyết số 1796/NQ-UBTVQH15.
Xác định rõ trách nhiệm, tiến độ thực hiện của các bộ, ngành, địa phương, bảo đảm thi hành kịp thời, hiệu quả, không để khoảng trống pháp lý hoặc chồng chéo.
Làm cơ sở để tổ chức kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 1796/NQ-UBTVQH15.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chủ động tổ chức triển khai Nghị quyết số 1796/NQ-UBTVQH15; trong đó chú ý đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Kết luận Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; thể chế hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, nhất là các nội dung liên quan đến phát triển nguồn nhân lực và các chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, dân số và phát triển.
Theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai Kế hoạch Nghị quyết, các nhiệm vụ trong Danh mục tại Phụ lục kèm theo và các nhiệm vụ khác đã được cấp có thẩm quyền giao, bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu lực, hiệu quả thi hành theo quy định.
Các bộ, ngành, địa phương tổ chức rà soát, kiểm tra, giám sát việc xây dựng và triển khai kế hoạch cụ thể, bảo đảm đúng mục tiêu, nhiệm vụ đã được phê duyệt, nhằm thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch Nghị quyết.
Ưu tiên bố trí đầy đủ nguồn lực thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ trong Kế hoạch Nghị quyết
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền tập trung tổ chức thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm triển khai hiệu quả Kế hoạch Nghị quyết và Nghị quyết số 1796/NQ-UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong đó lưu ý:
a) Xây dựng và ban hành kế hoạch cụ thể, ưu tiên bố trí đầy đủ nguồn lực tài chính và nhân lực để thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ cụ thể trong Kế hoạch Nghị quyết; chỉ đạo triển khai ngay các giải pháp, nhiệm vụ theo chức năng, thẩm quyền, phù hợp với điều kiện thực tế ở từng ngành, lĩnh vực và địa phương; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, giám sát, bảo đảm thực hiện đúng tiến độ, chất lượng các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong Kế hoạch Nghị quyết; định kỳ báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo trước ngày 10/12 hằng năm để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
b) Tập trung triển khai thực hiện hiệu quả các chương trình, đề án đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt liên quan đến phát triển và sử dụng nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; đào tạo nhân lực cho các ngành, lĩnh vực ưu tiên, công nghệ cao, công nghệ chiến lược, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo; thu hút, trọng dụng nhân tài và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.
Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai thực hiện nhiệm vụ, trong đó cụ thể hóa các nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch này và Nghị quyết số 1796/NQ-UBTVQH15, phân công các nhiệm vụ theo tinh thần "6 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ sản phẩm"; đồng thời triển khai thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo; chủ trì theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện và định kỳ báo cáo và kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các biện pháp cần thiết để bảo đảm thực hiện đồng bộ và có hiệu quả Kế hoạch Nghị quyết; bám sát các nội dung liên quan trong chương trình làm việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội để thực hiện việc báo cáo theo quy định.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các bộ, cơ quan liên quan theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền chỉ đạo các cơ quan báo chí, hệ thống thông tin cơ sở tuyên truyền các nội dung của Kế hoạch Nghị quyết nhằm nâng cao nhận thức, tạo đồng thuận xã hội, phát huy tinh thần trách nhiệm của người đứng đầu, nỗ lực của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân để thực hiện nhiệm vụ, giải pháp tại Kế hoạch Nghị quyết và Nghị quyết số 1796/NQ-UBTVQH15.
Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch Nghị quyết, trường hợp cần sửa đổi, bổ sung những nội dung cụ thể, các bộ, cơ quan, địa phương chủ động rà soát, đề xuất, gửi Bộ Giáo dục và Đào tạo để tổng hợp và báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển ngành công nghiệp bán dẫn
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng - Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển ngành công nghiệp bán dẫn ký Quyết định số 93/QĐ-BCĐPTCNBD ngày 31/7/2026 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo này.
Quy chế này quy định nguyên tắc, chế độ làm việc; trách nhiệm của thành viên, Cơ quan thường trực; chế độ thông tin, báo cáo; kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển ngành công nghiệp bán dẫn (sau đây gọi là Ban Chỉ đạo).
Nguyên tắc làm việc
Quy chế nêu rõ: Trưởng Ban Chỉ đạo, các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo và các Ủy viên làm việc theo chế độ kiêm nhiệm.
Ban Chỉ đạo làm việc theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, thảo luận công khai, đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất, đề cao trách nhiệm của Trưởng Ban Chỉ đạo; Trưởng Ban Chỉ đạo là người quyết định cuối cùng đối với các vấn đề của Ban Chỉ đạo; Phó Trưởng Ban Chỉ đạo được quyết định một số vấn đề cụ thể theo phân công, ủy quyền của Trưởng Ban Chỉ đạo; các Ủy viên Ban Chỉ đạo chịu trách nhiệm triển khai công việc được phân công và chủ động chỉ đạo cơ quan chức năng triển khai các nhiệm vụ thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước được giao để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, đề án phát triển ngành công nghiệp bán dẫn.
Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì các cuộc họp định kỳ theo kế hoạch và triệu tập các cuộc họp đột xuất khi cần thiết. Trưởng Ban Chỉ đạo có thể ủy quyền cho Phó Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì các cuộc họp để thảo luận, quyết định một số vấn đề cụ thể thuộc nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo.
Các Ủy viên có trách nhiệm tham dự đầy đủ các cuộc họp của Ban Chỉ đạo, trường hợp do bận công tác quan trọng khác không thể tham dự họp, phải báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo và ủy quyền cho người đại diện có trách nhiệm dự họp; ý kiến của người dự họp là ý kiến chính thức của Ủy viên Ban Chỉ đạo.
Ban Chỉ đạo phân công từng thành viên chịu trách nhiệm: Đôn đốc, kiểm tra các bộ, ngành, địa phương thực hiện các cơ chế, chính sách đã ban hành; kiến nghị bổ sung, sửa đổi hoặc xây dựng cơ chế, chính sách, những giải pháp để phát triển ngành công nghiệp bán dẫn trên phạm vi toàn quốc.
Trách nhiệm của Trưởng Ban Chỉ đạo
Trưởng Ban Chỉ đạo quyết định và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về toàn bộ hoạt động của Ban Chỉ đạo theo nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo được ban hành tại Quyết định số 1046/QĐ-TTg ngày 11/6/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo.
Chỉ đạo, điều hành thống nhất, toàn diện các hoạt động của Ban Chỉ đạo; xem xét, quyết định kế hoạch công tác hằng năm của Ban Chỉ đạo; trực tiếp chủ trì các cuộc họp Ban Chỉ đạo; phân công, ủy quyền cho Phó Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì cuộc họp thảo luận, quyết định một số vấn đề cụ thể thuộc nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo khi cần thiết.
Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện kế hoạch công tác của Ban Chỉ đạo, các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển ngành công nghiệp bán dẫn; tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai phát triển ngành công nghiệp bán dẫn; cho ý kiến chỉ đạo về các cơ chế, chính sách cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp.
Ủy quyền cho Phó Trưởng Ban Chỉ đạo hoặc các thành viên khác của Ban Chỉ đạo giải quyết các công việc thuộc thẩm quyền của Trưởng Ban Chỉ đạo khi cần thiết.
Ngoài ra, Quy chế cũng quy định chi tiết trách nhiệm của các Phó Trưởng Ban, các Ủy viên và Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo.
Chế độ làm việc, thông tin và báo cáo
Quy chế quy định Ban Chỉ đạo họp định kỳ 02 lần/năm và họp đột xuất khi cần thiết theo yêu cầu của Trưởng Ban Chỉ đạo.
Nội dung cuộc họp định kỳ tập trung đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ, chương trình, đề án nhằm phát triển ngành công nghiệp bán dẫn; báo cáo, kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giải quyết những vấn đề vượt thẩm quyền của Ban Chỉ đạo.
Căn cứ tình hình thực tế và yêu cầu nhiệm vụ từng thời điểm, Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo có thể đề xuất mời các tổ chức quốc tế, đối tác phát triển, lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tham dự cuộc họp Ban Chỉ đạo.
Các thành viên Ban Chỉ đạo có trách nhiệm báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo tình hình triển khai nhiệm vụ, giải pháp, chương trình, đề án được phân công nhằm phát triển ngành công nghiệp bán dẫn hoặc báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Trưởng Ban Chỉ đạo, đồng thời chủ động báo cáo những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Báo cáo của các thành viên Ban Chỉ đạo được gửi tới Trưởng Ban Chỉ đạo, đồng thời gửi tới Cơ quan thường trực để theo dõi, tổng hợp chung để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Trưởng Ban Chỉ đạo.
Cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tổng hợp, báo cáo định kỳ trước ngày 31/12 hằng năm hoặc đột xuất về tình hình hoạt động, gửi Văn phòng Chính phủ để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định.
Quyết định số 93/QĐ-BCĐPTCNBD có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (31/7/2026) và thay thế Quyết định số 172/QĐ- BCĐPTCNBD ngày 25/11/2025 của Trưởng Ban Chỉ đạo về phát triển ngành công nghiệp bán dẫn ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về phát triển ngành công nghiệp bán dẫn.
Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 31/7/2026 phê duyệt Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường.
Hình thành và phát triển thị trường công nghệ sinh học nông nghiệp và môi trường
Mục tiêu là phát triển ngành công nghiệp sinh học có vai trò nền tảng quan trọng và dẫn dắt đổi mới mô hình tăng trưởng nông nghiệp và môi trường dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và sản phẩm công nghệ chiến lược, quy mô công nghiệp, có sức cạnh tranh cao phục vụ phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn, bền vững, góp phần quan trọng vào tăng trưởng của ngành, tăng trưởng của nền kinh tế "hai con số", bảo đảm tự chủ về công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.
Việt Nam phấn đấu đến năm 2045 làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, công nghệ sinh học chiến lược, công nghệ chỉnh sửa gen; ứng dụng các công nghệ này để tạo ra sản phẩm quy mô công nghiệp và hình thành ngành kinh tế - kỹ thuật, cung ứng cho thị trường trong nước và xuất khẩu các sản phẩm chất lượng, an toàn.
Hình thành và phát triển thị trường công nghệ sinh học nông nghiệp và môi trường, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền công nghiệp sinh học phát triển trên thế giới, trung tâm sản xuất dịch vụ thông minh về công nghệ sinh học, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á. Công nghiệp sinh học trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; doanh nghiệp công nghiệp sinh học được hình thành thông qua Kế hoạch tăng 70% về quy mô đầu tư và quy mô tăng trưởng; số lượng sản phẩm công nghệ sinh học được tạo ra từ Kế hoạch thay thế tối thiểu 60% sản phẩm nhập khẩu so với các sản phẩm cùng loại; đóng góp vào 15% giá trị gia tăng của ngành công nghiệp sinh học.
6 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm
Để đạt được mục tiêu trên, Kế hoạch đưa ra 6 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm: 1- Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường; 2- Xây dựng và phát triển tiềm lực công nghiệp sinh học; 3- Xây dựng và phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường; 4- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường; 5- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực công nghiệp sinh học; 6- Truyền thông nâng cao nhận thức về công nghiệp sinh học.
Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường, cụ thể đối với trồng trọt, lâm nghiệp
Để phát triển khoa học và công nghệ phục vụ tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường, cụ thể đối với trồng trọt, lâm nghiệp: Tập trung phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại trong sản xuất các giống cây trồng, vật nuôi chủ lực theo hướng ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm năng suất, chất lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và khả năng cạnh tranh, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu; công nghệ sau thu hoạch; các chế phẩm sinh học thế hệ mới, KIT chẩn đoán, giám định, quản lý sinh vật hại cây trồng và chẩn đoán độ phì nhiêu, sức khỏe đất trồng trọt, nước tưới và môi trường phục vụ nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ...
Về vật nuôi, thủy sản, thú y: Xây dựng và triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu phát triển, ứng dụng, làm chủ công nghệ gen thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen, công nghệ chiến lược để sản xuất KIT phát hiện nhanh, kiểm định, kiểm dịch, đánh giá chất lượng con giống vật nuôi, thủy sản, thú y; chọn tạo giống vật nuôi, thủy sản chủ lực tích hợp nhiều đặc tính mới, ưu việt (năng suất cao, chất lượng tốt, sức chống chịu tốt với bệnh dịch, thích ứng biến đổi khí hậu và điều kiện môi trường bất lợi); vắc-xin, chế phẩm sinh học và các sản phẩm sinh học sử dụng trong giám sát, chẩn đoán, xét nghiệm, phòng, chống dịch bệnh; chuyển giao, nhân rộng trong sản xuất.
Ứng dụng và làm chủ công nghệ sinh học thế hệ mới, KIT phát hiện nhanh, giám định tác nhân gây bệnh, đặc biệt một số bệnh quan trọng, bệnh mới phát sinh ở vật nuôi, thủy sản; kiểm soát dư lượng các chất cấm trong thực phẩm có nguồn gốc từ động vật; công nghệ tạo chế phẩm nâng cao sức đề kháng và hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của vật nuôi, thủy sản; phát triển, sản xuất vắc-xin thế hệ mới phòng bệnh vật nuôi, thủy sản; sản xuất thuốc thú y sinh học có hiệu quả kinh tế cao; giám sát, cảnh báo, phòng, chống kháng thuốc; chuyển giao công nghệ, quy trình sản xuất ở quy mô công nghiệp...
Xây dựng và phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường
Hình thành và phát triển các doanh nghiệp công nghiệp sinh học nông nghiệp và môi trường ở quy mô công nghiệp trong các lĩnh vực về giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản chủ lực; phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, chế phẩm sinh học xử lý môi trường, thức ăn chăn nuôi... phục vụ sản xuất nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ; chế phẩm sinh học phục vụ bảo quản chế biến sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản chủ lực phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu; vắc-xin phòng bệnh cho vật nuôi, thủy sản, thuốc thú y sinh học, KIT chẩn đoán, xét nghiệm, giám sát dịch bệnh, dịch hại quan trọng đối với cây trồng, vật nuôi, thủy sản chủ lực và kiểm soát dư lượng các chất cấm.
Tập trung phát triển đồng bộ chuỗi nghiên cứu - sản xuất - kinh doanh các sản phẩm công nghệ sinh học nông nghiệp và môi trường chủ lực theo hướng ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm năng suất, chất lượng, thích ứng với biến đổi khí hậu và khả năng cạnh tranh, phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Đẩy mạnh phát triển cơ chế liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm nông nghiệp quy mô công nghiệp với các tổ chức nghiên cứu và đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong nước. Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận, hợp tác nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ, phát triển và thương mại hóa sản phẩm nông nghiệp và môi trường ứng dụng công nghệ sinh học, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của ngành, góp phần hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo...
Giải thể BCĐ Trung ương thực hiện Nghị quyết số 70/NQ-CP về chính sách xã hội
Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1434/QĐ-TTg giải thể Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 70/NQ-CP của Chính phủ về chính sách xã hội được thành lập theo Quyết định số 1365/QĐ-TTg ngày 9/8/2013.
Đẩy nhanh tiến độ các trạm dừng nghỉ
Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Công văn số 7558/VPCP-CN truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc về việc triển khai đầu tư, xây dựng các trạm dừng nghỉ trên các tuyến đường bộ cao tốc.
Công văn nêu: Xét báo cáo của Bộ Xây dựng về tình hình triển khai đầu tư, xây dựng các trạm dừng nghỉ trên các tuyến đường cao tốc, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc yêu cầu Bộ Xây dựng tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc, khẩn trương triển khai đầu tư xây dựng các trạm dừng nghỉ trên các tuyến cao tốc, bảo đảm hoàn thành theo đúng tiến độ dự án đã được phê duyệt, tuân thủ quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đường bộ cao tốc; kiên quyết xử lý trách nhiệm hoặc xem xét chấm dứt hợp đồng đối với các Nhà đầu tư chậm tiến độ mà không có chuyển biến tích cực.
Đối với các trạm đã đưa vào khai thác, phải thường xuyên kiểm tra công tác quản lý vận hành, đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn giao thông và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dân.
Về công tác giải phóng mặt bằng và thủ tục đất đai, Phó Thủ tướng yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng hoàn thành bàn giao phần mặt bằng còn lại tại trạm Vĩnh Hảo - Phan Thiết Km144+560 trong tháng 8/2026.
Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang xử lý dứt điểm vướng mắc, hoàn thành thủ tục giao đất, cho thuê đất tại trạm Hậu Giang - Cà Mau Km100+200 để đảm bảo tiến độ dự án.
Khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định về phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 410/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu tại cuộc họp về dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 20/2026/QH16 về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế.
Tại Thông báo, Phó Thủ tướng cơ bản thống nhất với Bộ Tư pháp về nội dung tiếp thu, giải trình ý kiến Thành viên Chính phủ đối với dự thảo Nghị định. Bộ Tư pháp khẩn trương chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao rà soát, hoàn thiện nội dung dự thảo Nghị định.
Phó Thủ tướng lưu ý, về việc quy định mức hỗ trợ tối đa 300% mức lương theo hệ số lương hiện hưởng (không bao gồm phụ cấp) cho người trực tiếp tham gia giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế tại Cơ quan đại diện pháp lý và Cơ quan chủ trì đối với thời gian tham gia trực tiếp giải quyết vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế: Việc giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế là công việc phức tạp, nhạy cảm, đòi hỏi yêu cầu cao về năng lực, kinh nghiệm, trí tuệ của cán bộ, công chức. Quy định mức hỗ trợ tại dự thảo Nghị định là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị quyết số 20/2026/QH16. Tuy nhiên, cần nghiên cứu bổ sung một số quy định: (i) Xác định rõ tiêu chí "thời gian tham gia trực tiếp giải quyết vụ việc"; (ii) Điều kiện, tiêu chuẩn của "người trực tiếp tham gia giải quyết vụ việc" và (iii) "Người đứng đầu Cơ quan chủ trì, Cơ quan đại diện pháp lý chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp lý trong việc xác định thời gian và số lượng người tối đa được hưởng hỗ trợ từ ngân sách nhà nước" nhằm bảo đảm quy định chặt chẽ, hỗ trợ đúng người, đúng việc, đúng công sức, đúng trách nhiệm được giao.
Rà soát kỹ, nghiên cứu: (i) Bổ sung quy định chi tiết về trình tự, thủ tục, nội dung phương án hoà giải trong giải quyết vụ việc; (ii) Giải thích/điều chỉnh khoản 2 Điều 2 dự thảo Nghị định quy định về "nguyên đơn" để bảo đảm sớm xác định được Cơ quan chủ trì giải quyết vụ việc ngay từ thời điểm mới có "văn bản thể hiện ý định khởi kiện"; (iii) Quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan (đặc biệt là cơ quan tiến hành tố tụng) trong việc phối hợp xử lý văn bản thể hiện ý định khởi kiện/thông báo trọng tài để phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế.
Đồng thời, tiếp thu ý kiến của Bộ Tài chính: (i) Bỏ điểm c và điểm d khoản 2 Điều 24 dự thảo Nghị định về việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước cho công tác phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế; (ii) Chỉnh lý Điều 28 dự thảo như sau: "1. Bộ Tư pháp theo dõi, đôn đốc việc tổ chức thi hành Nghị định này; chủ trì xử lý hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Chương III, Chương IV của Nghị định này. 2. Bộ Tài chính chủ trì xử lý hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Chương II của Nghị định này".
Bộ Tư pháp khẩn trương phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ rà soát kỹ thuật, hoàn thiện dự thảo Nghị định; trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 03 tháng 8 năm 2026 để ký ban hành.
Thiếu tướng Trần Xuân Mạnh giữ chức Tư lệnh Quân khu 1
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 1469/QĐ-TTg ngày 31/7/2026 về việc bổ nhiệm giữ chức Tư lệnh Quân khu 1.
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm đồng chí Thiếu tướng Trần Xuân Mạnh, Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 1 giữ chức Tư lệnh Quân khu 1.
Quyết định có hiệu lực từ ngày 31/7/2026.
Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm lại Thứ trưởng Bộ Công Thương
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng ký Quyết định số 1426/QĐ-TTg ngày 29/7/2026 về việc bổ nhiệm lại giữ chức Thứ trưởng Bộ Công Thương.
Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm lại ông Nguyễn Sinh Nhật Tân giữ chức Thứ trưởng Bộ Công Thương.
Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 10/9/2026./.