Theo phản ánh của bà Hải Yến, điểm b khoản 6 Điều 99 Luật Giáo dục quy định:
"6. Cơ chế thu và quản lý học phí, các khoản thu dịch vụ trong hoạt động giáo dục được quy định cụ thể như sau:
b) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định khung học phí hoặc mức học phí cụ thể, các khoản thu dịch vụ phục vụ, hỗ trợ hoạt động giáo dục của nhà trường đối với cơ sở giáo dục công lập theo thẩm quyền quản lý nhà nước về giáo dục trên cơ sở đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh".
Tuy nhiên, hiện nay Nghị định số 66/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm b khoản 3 Điều 4 Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 3/9/2025 quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo lại có nội dung: "Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định mức học phí cụ thể làm căn cứ thực hiện miễn học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục công lập; quyết định mức hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục dân lập, tư thục theo thẩm quyền quản lý để áp dụng tại địa phương. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định chi tiết danh mục các khoản thu, mức thu và cơ chế quản lý thu, chi đối với dịch vụ tuyển sinh, các dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục, đào tạo trong cơ sở giáo dục công lập theo thẩm quyền quản lý để áp dụng tại địa phương".
Bà Yến hỏi, như vậy, thẩm quyền áp dụng đối với nội dung này là theo quy định của Luật Giáo dục hay Nghị định số 66/2026/NĐ-CP?
Về vấn đề này, Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời như sau:
Năm 2025, Quốc hội đã ban hành Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục. Điểm b khoản 6 Điều 99 Luật Giáo dục năm 2019 được sửa tại khoản 24 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, trong đó quy định:
"4. Cơ chế thu và quản lý học phí, các khoản thu dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục quy định như sau:
a) Chính phủ quy định cơ chế quản lý học phí, dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục, giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục đối với các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân;
b) Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định mức học phí cụ thể làm căn cứ thực hiện miễn học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục công lập; quyết định mức hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục dân lập, tư thục theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cơ chế thu và sử dụng mức thu dịch vụ tuyển sinh các cấp học, quyết định danh mục và mức thu dịch vụ phục vụ và hỗ trợ hoạt động giáo dục do địa phương quản lý theo quy định tại khoản 2 Điều này;…".
Như vậy, các nội dung về thẩm quyền quy định tại Nghị định số 66/2026/NĐ-CP là phù hợp, thống nhất với quy định tại khoản 24 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (Luật số 123/2025/QH15).
Chinhphu.vn