(Chinhphu.vn) - Nhân kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống ngành ngoại giao, Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết của đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao với nhan đề "Ngoại giao Việt Nam, phát huy truyền thống vẻ vang, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc."

Cách đây 70 năm, ngày 28/8/1945, cùng với tuyên bố thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ Ngoại giao đã ra đời. Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngoại giao Việt Nam đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Phát huy truyền thống, thời gian tới, ngành ngoại giao tích cực đổi mới, nỗ lực vươn lên, góp phần kiến tạo môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.

70 năm phụng sự đất nước

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, vận mệnh đất nước ở vào thế “ngàn cân treo sợi tóc”, với cả thù trong lẫn giặc ngoài. Ở phía Bắc, 20 vạn quân Tưởng kéo vào miền Bắc; hơn 2 vạn quân Pháp, Anh ở phía Nam và gần 6 vạn quân Nhật vẫn mắc kẹt trên đất nước ta. Âm mưu của các thế lực đế quốc, thực dân lúc này là, ra sức cấu kết với nhau và cấu kết với bọn phản động trong nước, hòng tiêu diệt chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới ra đời. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự mà lãnh đạo đứng đầu và trực tiếp tham gia của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ngoại giao Việt Nam đã thực hiện thành công chiến lược “hòa với Tưởng để đánh Pháp” và “hòa với Pháp để đuổi Tưởng”. Đặc biệt, với việc ký Hiệp định Sơ bộ (ngày 6/3/1946) và Tạm ước (ngày 14/9/1946) với Pháp, chúng ta đã khéo léo đuổi 20 vạn quân Tưởng ra khỏi bờ cõi; đồng thời, kéo dài hòa hoãn với Pháp để có thêm thời gian chuẩn bị. Đây là các giải pháp ngoại giao sắc bén, tài giỏi và hết sức hiệu quả, góp phần quan trọng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng và giành thời gian quý báu để toàn Đảng, đất nước và toàn dân chuẩn bị mọi mặt để đối phó với thực dân Pháp xâm lược.

Trong 9 năm kháng chiến trường kỳ, Ngoại giao Việt Nam vừa tích cực đấu tranh phá vỡ thế bao vây, cô lập của địch, vừa chủ động mở rộng quan hệ với bên ngoài, tranh thủ sự ủng hộ, chi viện của bạn bè quốc tế. Theo đó, ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Liên Xô (trước đây) và nhiều nước trong phe xã hội chủ nghĩa, hình thành hậu phương thứ hai quốc tế to lớn cho cuộc kháng chiến. Với tinh thần chủ động, nhạy bén, sáng tạo, Ngoại giao Việt Nam đã tận dụng và phát huy thắng lợi to lớn trên chiến trường, đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ để đẩy mạnh đấu tranh trên bàn hội nghị, buộc các thế lực thù địch, hiếu chiến và các cường quốc trên thế giới phải ký Hiệp định Geneva về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương; trong đó, chính thức công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ - quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam.

Giai đoạn 1954-1975, cùng với các mặt đấu tranh chính trị, quân sự và binh vận, mặt trận ngoại giao có sự phát triển mạnh mẽ, vượt bậc trên tất cả các mặt. Ngành Ngoại giao đã bám sát đường lối đối ngoại của Đảng, phát huy cao độ bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của phe xã hội chủ nghĩa, các nước bạn bè và đông đảo nhân dân tiến bộ trên thế giới, hình thành cao trào rộng khắp năm châu ủng hộ, giúp đỡ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Đồng thời, Ngoại giao cũng trở thành mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, phối hợp chặt chẽ với mặt trận quân sự và chính trị trong chiến lược “vừa đánh, vừa đàm”, buộc đế quốc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, thực hiện giành thắng lợi từng bước đến giành thắng lợi hoàn toàn. Trong đó, Hiệp định Paris (năm 1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết là đỉnh cao thắng lợi của nền Ngoại giao Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, buộc Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, tạo sự so sánh lực lượng có lợi cho ta trên chiến trường, tiền đề quan trọng để dân tộc ta làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bước ra khỏi chiến tranh, vượt lên những khó khăn, trở ngại của tình trạng bao vây, cấm vận từ bên ngoài và khủng hoảng kinh tế-xã hội trong nước, ngành Ngoại giao đã quán triệt và thực hiện nghiêm túc đường lối đổi mới của Đảng, kịp thời đổi mới tư duy và chuyển hướng hoạt động. Qua đó, Ngoại giao đã góp phần quan trọng phá thế bao vây, cấm vận, mở rộng quan hệ với bạn bè quốc tế, tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài phục vụ công cuộc phát triển đất nước. Đây là một trong những thành tựu nổi bật, có tính chiến lược, nhằm củng cố thế và lực của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đến nay, nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 185 nước, quan hệ đối tác chiến lược với 13 nước, đối tác toàn diện với 11 nước; trong đó có tất cả 5 nước Thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Đất nước ta cũng có quan hệ kinh tế-thương mại và đầu tư với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên chính thức của trên 70 tổ chức quốc tế và khu vực; trong đó có tất cả các tổ chức và định chế thương mại, tài chính chủ chốt ở khu vực cũng như trên thế giới, v.v...

Ngoại giao cũng nỗ lực và góp phần quan trọng trong việc đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước; thực hiện xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng. Hiện nay, nước ta đã hoàn thành việc phân giới, cắm mốc trên biên giới đất liền với Lào và Trung Quốc; đạt kết quả tích cực về phân giới cắm mốc với Campuchia. Chúng ta đã ký kết các hiệp định, hiệp ước về phân định biển với Trung Quốc (trên Vịnh Bắc Bộ) và với các nước: Campuchia, Thái Lan, Indonesia và Malaysia; đồng thời, kiên quyết đấu tranh với các hoạt động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, bằng giải pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và quy tắc ứng xử ở khu vực.

Những thành tựu nêu trên cho thấy, Ngoại giao Việt Nam thực sự là công cụ hiệu quả, lực lượng chủ chốt để cùng với các lực lượng quốc phòng, an ninh và các bộ, ngành khác triển khai công tác đối ngoại của đất nước trong mọi giai đoạn cách mạng, phấn đấu vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích quốc gia-dân tộc, góp phần đạt được các mục tiêu đối ngoại cơ bản là an ninh, phát triển và nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

Truyền thống vẻ vang

Trong suốt 70 năm phụng sự đất nước, Ngoại giao Việt Nam không những đạt được thành tựu to lớn, mà còn xây đắp nên truyền thống quý báu, vẻ vang của ngành. Trước hết và nổi bật nhất là truyền thống luôn trung thành với Đảng, với lợi ích của dân tộc. Toàn ngành ngoại giao luôn nhận thức rõ và luôn coi trung thành với Đảng, với lợi ích dân tộc là nguyên tắc, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình, bất kể hoạt động đó diễn ra trong hoàn cảnh và điều kiện nào. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên - ngành ngoại giao luôn nỗ lực hết mình, thực hiện thành công đường lối đối ngoại của Đảng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó.

Truyền thống ngoại giao còn được thể hiện sự kiên trì về nguyên tắc, nhưng luôn chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong trong xử lý các tình huống. Ngành ngoại giao đã luôn cố gắng tìm được đúng thời điểm, đúng đối tượng để tạo sự đột phá trong công tác đối ngoại. Khi Cách mạng tháng Tám mới thành công, Ngoại giao đã vận dụng sáng tạo sách lược “hòa để tiến”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Ngoại giao đã kiên trì sách lược “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Ngoại giao quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng: “làm bạn và đối tác” với tất cả các nước - một sự phát triển mới trong tư duy “làm bạn với các nước, không gây thù chuốc oán với ai” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra từ năm 1945. Đồng thời, Ngoại giao còn kiên trì phương châm “đối tác, đối tượng” trong quan hệ quốc tế và “chủ động, tích cực và có trách nhiệm” trong hợp tác với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), từ đó linh hoạt ứng xử trong các tình huống và hoàn cảnh cụ thể.

Nền Ngoại giao Việt Nam hiện đại còn gắn chặt với văn hóa dân tộc, tiếp nối truyền thống ngoại giao hòa hiếu, nhân nghĩa, thủy chung của dân tộc Việt Nam. Bản chất hòa bình và khoan dung, ứng xử tinh tế, linh hoạt, mềm dẻo nhưng kiên định nguyên tắc và lợi ích dân tộc, coi trọng đạo lý… đã được nền Ngoại giao Việt Nam hiện đại kế thừa và phát triển. Với cội nguồn truyền thống văn hiến ấy, Ngoại giao Việt Nam đã tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi ở trong nước cũng như trên thế giới đối với sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do, thống nhất và phát triển đất nước.

Qua các thời kỳ cách mạng, các thế hệ cán bộ ngành ngoại giao đã không ngừng rèn luyện, trau dồi bản lĩnh, trí tuệ, sẵn sàng dấn thân, phấn đấu, xông pha tới những địa bàn phức tạp, đương đầu với nhiệm vụ khó khăn, nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao cũng đã dệt nên truyền thống của ngành. Đến nay, nhiều thế hệ những nhà ngoại giao tiền bối, có những đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng cũng như đối với quá trình xây dựng và trưởng thành của ngành vẫn là những tấm gương sáng cho các thế hệ cán bộ ngoại giao hôm nay học tập.

Ngoài ra, truyền thống của ngành ngoại giao còn thể hiện ở tinh thần hợp tác và cầu thị, chủ động và sẵn sàng phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, trước hết là với quốc phòng và an ninh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đối ngoại chung của đất nước. Những truyền thống trên đã, đang và sẽ tiếp tục được các thế hệ những người làm công tác đối ngoại tiếp tục xây đắp, gìn giữ và phát huy trong bối cảnh mới.

Nỗ lực vươn lên trong tình hình mới

Trong thời gian tới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh vừa có thời cơ thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Trong đó, nhiệm vụ “giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho phát triển đất nước; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” đặt ra đối với ngành ngoại giao hết sức nặng nề. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trên, ngành tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang, vận dụng sáng tạo, có hiệu quả những bài học kinh nghiệm thành công trong suốt 70 năm qua vào thực tiễn đối ngoại; trong đó, tập trung trên những mặt chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục phát huy truyền thống trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, với lợi ích dân tộc. Dù tình hình có diễn biến phức tạp và khó lường đến nhường nào, trong mọi hoạt động của mình, ngành Ngoại giao sẽ luôn bám sát, nắm vững và thực hiện nghiêm túc đường lối cách mạng của Đảng nói chung, đường lối đối ngoại nói riêng, nhằm thực hiện cho kỳ được những định hướng đối ngoại trọng tâm; luôn kiên định mục tiêu chiến lược là giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa, “vì lợi ích quốc gia, dân tộc” và “vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh”.

Hai là, kiên trì nguyên tắc độc lập tự chủ đi đôi với hợp tác quốc tế; phát huy mạnh mẽ bài học: kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong tình hình mới. Chúng ta tiếp tục kiên trì chính sách ngoại giao rộng mở, thêm bạn, bớt thù; là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau; là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tê” mà Đại hội XI của Đảng đề ra chính là chìa khóa để ngành kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bối cảnh mới.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược với linh hoạt về sách lược trong xử lý các tình huống đối ngoại. Thế giới ngày nay càng rộng mở thì mức độ phụ thuộc vào nhau giữa các quốc gia, dân tộc ngày càng lớn và lợi ích đan xen giữa các quốc gia cũng rất phức tạp. Chính vì thế, bài học về “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta vẫn là kim chỉ nam cho hoạt động đối ngoại thời gian tới.

Bốn là, tiếp tục giương cao ngọn cờ hòa bình, không ngừng củng cố và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng, các nước đối tác và bạn bè truyền thống. Trong điều kiện hiện nay, Ngoại giao Việt Nam phải thấm nhuần và vận dụng sáng tạo tư tưởng và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết mâu thuẫn, xung đột bằng biện pháp hòa bình. Vì thế, cùng với đối ngoại quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong các ngành, lĩnh vực khác, ngành ngoại giao tiếp tục đóng vai trò đi đầu trong việc bảo đảm môi trường quốc tế hòa bình, tạo thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, trước những thách thức to lớn và phức tạp của công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo, Ngoại giao xác định gánh vác nhiệm vụ với tính chất là mặt trận hàng đầu, nhằm giương cao ngọn cờ hòa bình, tinh thần tuân thủ luật pháp quốc tế, nguyên tắc ứng xử của khu vực để giải quyết mọi mâu thuẫn, xung đột bằng biện pháp hòa bình.

Năm là, thường xuyên quan tâm, chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại cả về phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Theo đó, việc bồi dưỡng, giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức cách mạng cho cán bộ ngoại giao, nhất là cán bộ chủ trì các cấp là vấn đề quan trọng hàng đầu. Mỗi cán bộ của ngành phải thực sự là một chiến sĩ cách mạng trên mặt trận ngoại giao, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, có quan điểm lập trường vững vàng, luôn hun đúc lý tưởng, xây đắp bản lĩnh để vững vàng với con đường mình đã lựa chọn, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc. Người cán bộ ngoại giao còn cần phải có kiến thức rộng, giỏi chuyên môn, thông thạo ngoại ngữ, am hiểu tình hình khu vực, thế giới, có tư thế đàng hoàng, tác phong khiêm nhường, hòa hiếu, xứng đáng là những người đại diện cho Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.

Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta hết sức tự hào về những thành tựu đối ngoại mà Đảng, đất nước và nhân dân ta đã giành được, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu. Trong giai đoạn mới, nhận thức rõ nhiệm vụ nặng nề nhưng rất đỗi vinh quang mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, ngành ngoại giao quyết tâm phát huy truyền thống vẻ vang của 70 năm qua, tiếp tục củng cố đội ngũ, xây dựng ngành ngày càng vững mạnh, lập nhiều thành tích xuất sắc, viết tiếp những trang sử hào hùng của nền Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.