(Chinhphu.vn) - Số hóa giúp các ngân hàng tiết kiệm từ 60-70% chi phí. Nhưng sự phát triển và ứng dụng công nghệ số trong ngành ngân hàng cũng đi kèm không ít thách thức, đòi hỏi thay đổi về thể chế, vốn đầu tư lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu về năng lực kiểm soát, xử lý được những rủi ro mới một cách hiệu quả, cũng như cả vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng tài chính.

Ảnh: VGP/HT

Đây là nội dung được các chuyên gia trao đổi tại Diễn đàn “Tương lai Chiến lược ngân hàng số tại Việt Nam”, do Viện Nghiên cứu chiến lược và thương hiệu cạnh tranh tổ chức ngày 25/3, tại Hà Nội.

Các ngân hàng, doanh nghiệp đã tích cực hưởng ứng triển khai thực hiện Nghị quyết số 50/NQ-CP ngày 17/4/2020 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; triển khai việc thực hiện Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, hệ thống các tổ chức tài chính và ngân hàng tại Việt Nam đã nhanh chóng thực hiện đồng bộ và toàn diện các biện pháp chuyển đổi số hữu hiệu nhằm tận dụng cơ hội thị trường và mở rộng các giải pháp và dịch vụ thuận tiện đối với khách hàng.

Theo các chuyên gia, công nghệ số đang dần thay đổi cơ bản hình thức cung ứng các dịch vụ tài chính-ngân hàng.

Ông Phạm Xuân Hòe, Nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng (NHNN) dẫn một kết quả khảo sát của NHNN tại các ngân hàng thương mại Việt Nam cho thấy, số hóa giúp các ngân hàng tiết kiệm từ 60-70% chi phí và một khi đã tiếp cận với số hóa, các ngân hàng có xu hướng tiếp cận ngày càng sâu hơn với dịch vụ ngân hàng số, tích hợp đa chiều trong cung ứng dịch vụ tài chính trọn gói. 

Các NHTM Việt Nam hầu hết đang ở giai đoạn thứ 2 (chuyển đổi kỹ thuật số). Phần lớn các ngân hàng Việt Nam đã triển khai ngân hàng số ở cấp độ chuyển đổi về quy trình và kênh giao tiếp, trong khi chuyển đổi về nền tảng dữ liệu mới được triển khai tại một số ngân hàng tiên phong.

Bàn về thực trạng phát triển ngân hàng số tại Việt Nam, bà Nguyễn Thuỳ Dương, Phó Tổng Giám đốc EY Việt Nam và Chủ tịch EY Consulting Việt Nam, Phó chủ nhiệm CLB Fintech, Hiệp hội Ngân hàng nhận định, phần lớn các tổ chức tín dụng đã nhận thức được tầm quan trọng của việc chuyển đổi số. Khảo sát cho thấy, hầu hết các tổ chức tín dụng có nhận thức về chuyển đổi số; trong đó có 42% đang xây dựng chiến lược chuyển đổi số; 28% đã và đang thực hiện triển khai chiến lược chuyển đổi số tích hợp với chiến lược kinh doanh; 11% đã phê duyệt và triển khai chiến lược chuyển đổi số riêng.

Bà Dương cho rằng, điều này khá phù hợp với xu hướng chung trên thế giới. Theo Citi GPS - Global Perspectives & Solutions, đến năm 2025, dự kiến sẽ có khoảng 1/3 doanh thu ngân hàng truyền thống sẽ được quản lý bởi các mô hình kinh doanh mới dựa trên nền tảng số.

Phần lớn các tổ chức tín dụng (TCTD) tham gia khảo sát không chỉ triển khai đa dạng dịch vụ cho khách hàng trên kênh số… 47-77% ngân hàng đã triển khai thanh toán hóa đơn, thanh toán thương mại điện tử, chuyển tiền, tiết kiệm trực tuyến.

Ngoài ra các ngân hàng còn tập trung số hóa các hoạt động nghiệp vụ, vận hành nội bộ. Cụ thể, 73% ngân hàng quy trình hoạt động liên tục. Có 47,6% hệ thống quản lý quan hệ khách hàng; 42,8% chữ ký điện tử, chữ ký số nội bộ.

Có 70% các TCTD có mức độ sẵn sàng triển khai từ mức trung bình trở lên với các công nghệ: công nghệ thiết bị di động, kết nối dữ liệu mở theo giao diện chương trình ứng dụng; phân tích dữ liệu, chuẩn hóa tin điện theo chuẩn tin điện tử tài chính quốc tế ISO 20022, công nghệ hỗ trợ khách hàng (chatbot, trợ lý ảo…) trong đó phân tích dữ liệu là công nghệ được ứng dụng rộng rãi nhất trong nghiệp vụ TCTD (trên 53% các TCTD).

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia chia sẻ, việc thực hiện chuyển đổi số đang gặp phải một số vướng mắc.

Trong đó có thể kể đến như, các ngân hàng không xác định rõ tầm nhìn về số hóa ngân hàng và mối liên hệ với chiến lược kinh doanh.

Chưa có khung pháp lý với các ý tưởng về các sản phẩm số hóa hoàn toàn mới, dẫn đến các ngân hàng dè dặt trong việc ra mắt sản phẩm mới.

Các chiến lược đầu tư hạ tầng công nghệ nền tảng tài chính chậm và chưa đồng bộ; hạn chế về nguồn nhân lực công nghệ cho phát triển ngân hàng số; nguy cơ các cuộc tấn công mạng gắn với vấn đề an ninh, bảo mật…

Về một số định hướng thời gian tới, các chuyên gia cho rằng, cần sớm hoàn thiện khung khổ pháp lý về ngân hàng số; sớm xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia để tạo kiện kết nối mở cho các ngân hàng truy xuất theo thẩm quyền được duyệt và có hành lang pháp lý đầy đủ về chia sẻ dữ liệu với bên thứ 3. Đối với các ngân hàng, cần xây dựng kế hoạch và lộ trình thực hiện cụ thể trong việc thực hiện phát triển ngân hàng số, nhất là phân bổ nguồn lực phù hợp để đầu tư cho công nghệ mới và nguồn nhân lực thích ứng với chuyển đổi số.

Còn ông Phạm Xuân Hùng, Trưởng Ban Nghiên cứu và Điều Phối chính sách giám sát (Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia) cho rằng, việc phát triển ngân hàng số tại Việt Nam đang gặp một số hạn chế, khó khăn như khoảng trống trong hành lang pháp lý đối với phát triển ngân hàng số còn chậm ban hành, mới tập trung cho các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, như về chứng thực chữ ký số; xác định danh tính khách hàng.

Ngoài ra còn các quy định về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong dịch vụ tài chính, bảo vệ tính riêng tư dữ liệu người dùng.

Khung pháp lý thường đi sau so với sự phát triển công nghệ như sự cạnh tranh các công ty công nghệ tài chính.

Bên cạnh đó chiến lược đầu tư hạ tầng công nghệ nền tảng tài chính chậm và chưa đồng bộ; tính chia sẻ dữ liệu giữa các lĩnh vực với nhau còn nhiều bất cập. Hạn chế về nguồn lực công nghệ thông tin trong phát triển ngân hàng số; công tác truyền thông và nâng cao nhận thức của người tiêu dùng (giữa các vùng miền).

Theo ông Phạm Xuân Hùng cơ quan quản lý cần sớm hoàn thiện khung khổ pháp lý về định danh khách hàng trực tuyến (eKYC) có giới hạn. Hệ thống đại lý ủy thác của ngân hàng về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ ngân hàng số; chính sách về an toàn, bảo mật thông tin trong giao dịch điện tử để bảo vệ lợi ích hợp pháp cho khách hàng; quy trình nghiệp vụ giao dịch điện tử qua ngân hàng, giám sát hoạt động ngân hàng số.

“Các ngân hàng thương mại cần nghiên cứu và xây dựng lộ trình chuyển đổi ngân hàng số, phân bổ nguồn lực phù hợp cho đầu tư công nghệ mới. Đẩy mạnh quá trình số hóa ngân hàng và phát triển ngân hàng số thuần túy”, ông Phạm Xuân Hùng khuyến nghị.

Anh Minh