(Chinhphu.vn) - Việt Nam đã trở thành Trung tâm Hỗ trợ dự báo thời tiết nguy hiểm khu vực Đông Nam Á và dự kiến trong 1-2 năm tới, Việt Nam sẽ  đảm nhận vai trò Trung tâm Hỗ trợ cảnh báo lũ quét khu vực Đông Nam Á và hỗ trợ cho công tác đào tạo về dự báo, cảnh báo thời tiết nguy hiểm.

GS. TS, Trần Hồng Thái, Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thủy văn, Bộ Tài nguyên và Môi trường. Ảnh: Thùy Chi


Nhân Ngày Khí tượng thế giới (23/3), phóng viên Báo điện tử Chính phủ có cuộc trao đổi với GS. TS, Trần Hồng Thái, Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thủy văn (KTTV), Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Theo ông Trần Hồng Thái, Việt Nam đã và đang phối hợp cùng với Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và các nước thành viên có những chương trình nghiên cứu, trao đổi thông tin, tạo bứt phá để ngày càng nâng cao năng lực dự báo, vai trò, vị thế của ngành KTTV Việt Nam.

Chung tay đóng góp cho sự phát triển bền vững

Ngày Khí tượng thế giới năm nay là thời điểm đánh dấu sự khởi động Thập kỷ khoa học đại dương vì sự phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc giai đoạn 2021-2030, xin ông cho biết chúng ta sẽ làm gì để đóng góp cho sự phát triển bền vững này?

GS. TS Trần Hồng Thái: Xuất phát từ quan điểm “Chúng ta sẽ không quản lý được những gì mà chúng ta không đo đạc được”, Thập kỷ khoa học biển 2021-2030 hy vọng sẽ góp phần thúc đẩy, cải thiện công tác, quản lý dự báo, cảnh báo sớm thiên tai biển cũng như có được dữ liệu và tri thức tốt hơn về công tác cảnh báo sớm các hiểm họa thiên nhiên có nguồn gốc biển… Chúng ta có thể thấy rõ nhu cầu cấp thiết phải cung cấp thông tin, dự báo và cảnh báo kịp thời, hiệu quả để bảo vệ cộng đồng dân cư được an toàn trước tác động của các thiên tai ven biển, an toàn hàng hải thông qua việc tiếp tục cải tiến Hệ thống cảnh báo sớm đa thiên tai.

Là một thành viên quan trọng của WMO, ngành KTTV Việt Nam sẽ phối hợp chặt chẽ với các bên liên quan, cam kết thúc đẩy các quan trắc và nghiên cứu khoa học đại dương, góp phần thực hiện cam kết mục tiêu chung của WMO về Thập kỷ khoa học đại dương của Liên Hợp Quốc: “Đại dương an toàn”, “đại dương thấu hiểu” và “đại dương tường minh”.

Để ngày càng nâng cao năng lực dự báo, nâng cao vai trò, vị thế của ngành KTTV Việt Nam, ngành KTTV đang từng bước hoàn thiện, nâng cấp hệ thống mạng lưới quan trắc, nâng cao tỷ lệ các trạm quan trắc tự động, hình thành hệ thống thông tin chuyên dùng để tổng hợp các cơ sở dữ liệu tập trung, đầu tư máy tính có hiệu năng cao, áp dụng công nghệ dự báo mang tính đột phá để bản tin dự báo có sự chuyển biến, đáp ứng được nhu cầu, độ tin cậy về tính kịp thời và hiệu quả đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Mục tiêu đến năm 2030 phải phát triển đồng bộ mạng lưới trạm tự động quan trắc về khí tượng hải văn theo hướng tăng dầy mật độ các trạm tự động lên 70% so với số lượng hiện có. Phát triển các loại trạm hải văn dạng phao di động và phao cố định trên các vùng biển ngoài khơi nơi không có trạm đảo đạt mật độ 100 km một trạm đến năm 2030, đạt mật độ 50 km một trạm đến năm 2045. Tự động hóa 100% các trạm khí tượng ven biển.

Chúng ta cần có những thay đổi từ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội thông qua hành động cụ thể, điển hình là việc hưởng ứng sáng kiến, lời kêu gọi của Thủ tướng Chính phủ trồng 1 tỷ cây xanh, việc này sẽ nâng cao được hiệu quả phòng chống thiên tai, nâng cao được vai trò của Việt Nam trong việc hưởng ứng lời kêu gọi của Tổ chức Khí tượng Thế giới năm 2021.

Hướng tới vị thế trung tâm hỗ trợ cảnh báo và đào tạo cảnh báo khu vực, xin ông chia sẻ những kết quả trong công tác hợp tác quốc tế của ngành KTTV, cũng như sự đổi mới, áp dụng ứng dụng công nghệ mới trong lĩnh vực này?

GS. TS. Trần Hồng Thái: Công tác KTTV là lĩnh vực không có biên giới, trong đó, tất cả các nước cùng chịu tác động của các loại hình thiên tai có nguồn gốc KTTV và các nước đều cần có thông tin quan trắc và dự báo KTTV trong phòng chống thiên tai và phát triển kinh tế. Do đó, công tác hợp tác quốc tế trong lĩnh vực KTTV là rất quan trọng.

Trong những năm trước, ngành KTTV hợp tác theo bề rộng, khoảng 5 năm trở lại đây, quan hệ hợp tác đã được định hướng đi vào chiều sâu. Chúng ta không chỉ thu nhận những thông tin quốc tế, mà chúng ta đã đóng góp cho quốc tế cả về nguồn lực về nhân lực, tài chính và sản phẩm công nghệ.

Có thể khẳng định khả năng dự báo đang tiệm cận với công nghệ, trình độ của nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

Cụ thể, ngành KTTV nước ta tham gia tích cực vào các hoạt động hợp tác đa phương với WMO, Ủy ban Bão, Tiểu ban Khí  tượng – Vật lý địa cầu ASEAN (ASCMG), Trung tâm Khí hậu khu vực châu Á-Thái Bình Dương (APCC)… Việc chủ động đẩy mạnh hợp tác quốc tế theo chiều sâu, tận dụng hiệu quả nguồn vốn và ưu thế công nghệ của các tổ chức đa phương về KTTV đã hỗ trợ việc hiện đại hóa công nghệ dự báo KTTV, cảnh báo thiên tai KTTV và công tác ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Ngoài hợp tác đa phương, Tổng cục KTTV cũng đã tích cực triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế song phương trong lĩnh vực quan trắc, dự báo và cảnh báo KTTV. Hiện ngành KTTV đã và đang hợp tác chặt chẽ với hầu hết các đối tác có nền khoa học KTTV phát triển nhất, như: Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Vương quốc Anh; thiết lập nhiều kênh thông tin với Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc để trao đổi thông tin, cùng đưa ra nhận định về dự báo và cảnh báo bão, mưa lớn.

Ngoài ra, Tổng cục KTTV đã hợp tác với Cơ quan Khí tượng Phần Lan, Cơ quan Khí tượng Nhật Bản để đồng bộ hóa, hiện đại hóa và tăng cường năng lực quan trắc của mạng lưới radar.

Hợp tác quốc tế song phương với Hàn Quốc, Na Uy, Italy cũng đã giúp ngành KTTV Việt Nam tiếp cận việc xây dựng và sử dụng mạng lưới quan trắc khí tượng tự động, tăng cường năng lực quan trắc và cảnh báo/dự báo tại các đài KTTV khu vực.

Việc tăng cường hợp tác quốc tế đã giúp cho Tổng cục KTTV nâng cao năng lực cán bộ, từng bước xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo, dự báo, truyền tin theo chuẩn quốc tế. Tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về lĩnh vực KTTV còn góp phần đưa các thông tin quan trắc, dự báo, cảnh báo của Việt Nam đến các quốc gia khác nhau trên thế giới, góp phần khẳng định chủ quyền trên biển và trên đất liền, nơi có những số liệu đo đạc của ngành KTTV Việt Nam vẫn duy trì hàng trăm năm nay.

Từ năm 2011, WMO đã chính thức công nhận Việt Nam là một mắt xích quan trọng, một thành viên chủ động trong công tác KTTV của thế giới. Việt Nam đã trở thành Trung tâm Hỗ trợ dự báo thời tiết nguy hiểm khu vực Đông Nam Á, theo đó Tổng cục KTTV sẽ thay mặt cho Tổ chức Khí tượng Thế giới hỗ trợ công nghệ và dự báo cho các nước, như: Lào, Campuchia, Thái Lan, Philippines trong công tác dự báo, cảnh báo các hiện tượng KTTV nguy hiểm như mưa lớn và gió mạnh.

Dự kiến trong 1-2 năm tới, Việt Nam sẽ  đảm nhận vai trò Trung tâm Hỗ trợ cảnh báo lũ quét khu vực Đông Nam Á và hỗ trợ cho công tác đào tạo về dự báo, cảnh báo thời tiết nguy hiểm.

Về mặt định hướng, trong thời gian tới, chúng ta sẽ tiếp cận theo hình thức đưa các chuyên gia tham gia những sự kiện quy mô thế giới và đây là chiến lược hợp tác quốc tế mà ngành KTTV quan tâm, chỉ đạo và  định hướng sâu sắc.

Xin ông cho biết, hiện ngành KTTV có giải pháp nào để khắc phục những thử thách, cũng như thực hiện tốt công tác dự báo, cảnh báo thiên tai?

GS. TS Trần Hồng Thái: Chúng ta đang trải qua tình hình biến đổi khí hậu, diễn biến phức tạp khiến thiên tai hoạt động trái quy luật, bất thường. Trong khi đó, mạng lưới thám sát thiên tai chưa đáp ứng được tình hình thực tiễn. Hơn nữa, hiện các hoạt động kinh tế xã hội phát triển đa dạng với nhiều ngành, nghề khác nhau và địa bàn của các hoạt động kinh tế xã hội cũng ngày càng mở rộng cả ở vùng núi và vùng biển, trong đó nhiều vùng có nguy cơ thiên tai KTTV cao dẫn đến những thách thức và khó khăn mới trong công tác dự báo KTTV.

Cụ thể, khó khăn khách quan đầu tiên trong việc dự báo cường độ bão, áp thấp nhiệt đới, định lượng mưa lớn bắt nguồn từ hiểu biết khoa học của con người. Chúng ta không có nhiều thông tin giám sát, quan trắc trên vùng biển, việc xác định cường độ bão duy nhất thông qua hệ thống vệ tinh khí tượng; việc thiếu hệ thống giám sát trên biển dẫn đến việc đánh giá cường độ thực của cơn bão có sai số lớn, dẫn đến việc dự báo, cảnh báo có sai số tiếp theo. Địa hình núi, đèo cao ở Việt Nam cũng là một nguyên nhân vô cùng quan trọng khiến việc dự báo trở nên khó khăn.

Đối với lũ quét, sạt lở đất do vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu làm các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày càng gia tăng và trái quy luật cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức mới cho công tác dự báo, cảnh báo KTTV. Các thông tin số liệu đo đạc, điều tra, khảo sát thực địa của các vùng có nguy cơ phát sinh lũ quét, sạt lở đất thường không có. Các thông tin về thảm phủ, cấu trúc địa chất, lớp vỏ phong hóa, mức độ bão hòa trong đất... không có đủ độ chi tiết và không được cập nhật thực tế.

Sự tác động của con người chưa được thống kê nghiên cứu đầy đủ. Bên cạnh đó, lũ quét thường xảy ra ở quy mô nhỏ, liên tiếp, mang tính địa phương. Vì vậy, chỉ cảnh báo ở cấp Trung ương là không thể bảo đảm kịp thời cho hoạt động phòng chống lũ quét, sạt lở đất nếu như không có sự phối hợp chặt chẽ của địa phương.

Nhận thức được những hạn chế, tồn tại của ngành KTTV, trong thời gian tới, Tổng cục KTTV sẽ tiến hành hiện đại hóa toàn diện, đồng bộ từ khâu quan trắc, đo đạc, lưu trữ, xử lý số liệu đến xây dựng, hoàn thiện công nghệ dự báo hiện đại, đào tạo cán bộ chất lượng cao và tăng cường hợp tác quốc tế sâu, rộng để làm chủ công nghệ, nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo KTTV.

Nhân Ngày Khí tượng thế giới 2021, ngành KTTV muốn chia sẻ thông điệp gì đến cộng đồng, người dân để cùng chung tay với ngành KTTV hướng đến mục tiêu phát triển bền vững đại dương?

GS. TS Trần Hồng Thái: Phát triển bền vững đại dương là một trong những mục tiêu quan trọng đối với toàn thế giới nói chung và với Việt Nam nói riêng. Bởi vậy, mỗi người hãy ý thức, chủ động, cùng chung tay xây dựng một biển xanh không rác thải nhựa, tích cực trồng rừng và tái tạo môi trường sống xanh làm giảm nhẹ rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu.

Về lĩnh vực KTTV, chúng tôi rất cần sự chung tay, góp sức của các cấp, các ngành và người dân trong kế hoạch tăng cường mạng lưới quan trắc KTTV trên biển, bởi hiện nay các đo đạc trên biển còn rất thưa thớt và hạn chế; xây dựng các dịch vụ khí hậu biển như cung cấp các thông tin dự báo thời tiết, dự báo, cảnh báo tác động của thiên tai đối với các hoạt động kinh tế trên biển như vận tải biển hay đánh bắt, nuôi trồng thủy sản và du lịch, góp phần tạo ra một môi trường biển an toàn để phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền biển đảo và phát triển bền vững đại dương.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Thùy Chi