(Chinhphu.vn) - Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái Đỗ Đức Duy đã có tham luận “Phát huy vai trò, sức mạnh của hệ thống chính trị và toàn xã hội thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững ở tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số” tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, sáng 28/1.

Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái Đỗ Đức Duy. Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Giảm nghèo, chăm lo cho người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội là một chủ trương lớn, xuyên suốt, là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa chính trị, xã hội, nhân văn sâu sắc, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo.

Bí thư Tỉnh uỷ Yên Bái Đỗ Đức Duy cho biết, Yên Bái là tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du và miền núi phía bắc, nằm ở cửa ngõ vùng Tây Bắc, diện tích tự nhiên gần 6.900 km2, dân số trên 82 vạn người với hơn 30 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 57,4%; dân cư nông thôn chiếm gần 80%, lao động nông nghiệp chiếm gần 60%.

Toàn tỉnh có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 2 huyện vùng cao đặc biệt khó khăn (30a) là huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải, với trên 90% đồng bào dân tộc thiểu sổ, chủ yếu là người Mông; có 80/150 xã đặc biệt khó khăn và 461/1.349 thôn, bản đặc biệt khó khăn.

Cũng như các tỉnh miền núi phía bắc, Yên Bái bước vào thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 với rất nhiều khó khăn, thách thức. Kết quả điều tra hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều) đến cuối năm 2015, tỉ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 32,21%, cao thứ 6 toàn quốc; trong đó phần lớn tập trung tại các địa bàn vùng cao, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, riêng tại 2 huyện 30a đều có tỉ lệ hộ nghèo trên 75%, thuộc vào nhóm các huyện nghèo nhất cả nước.

Bí thư Tỉnh uỷ Yên Bái cho hay, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là do địa hình đồi núi chia cắt mạnh, thường xuyên chịu tác động của thiên tai; hạ tầng kinh tế-xã hội thiếu đồng bộ, giao thông đi lại khó khăn; diện tích đất canh tác hạn chế, người dân còn thiếu tư liệu sản xuất; trình độ dân trí không đồng đều, chất lượng nguồn nhân lực thấp, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật; đồng bào dân tộc còn nhiều hủ tục, tập quán, thói quen canh tác lạc hậu; một bộ phận người nghèo vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỉ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, không có ý chí vươn lên thoát nghèo...

Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái cho biết, Đảng bộ tỉnh Yên Bái luôn coi công tác giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, là mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện phát triển kinh tế-xã hội của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở, với quan điểm “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Kết quả, sau 5 năm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, Yên Bái đã kéo giảm tỉ lệ hộ nghèo toàn tỉnh xuống còn 7,04% (đứng thứ 12 toàn quốc, cải thiện 6 bậc so với đầu nhiệm kỳ). Bình quân giai đoạn 2016-2020, tỉ lệ giảm hộ nghèo toàn tỉnh đạt 5,03%/năm (bằng 125% kế hoạch đề ra đầu nhiệm kỳ), riêng tại 2 huyện 30a giảm bình quân 8,32%/năm; tỉ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 7,66%/năm, cao hơn nhiều so với bình quân chung toàn tỉnh và của cả nước. Số xã đặc biệt khó khăn giảm 26,3%, còn 59 xã; số thôn, bản đặc biệt khó khăn giảm 16,9% còn 383 thôn, bản.

Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái Đỗ Đức Duy cho biết, có được những kết quả trên là do những năm qua, tỉnh Yên Bái đã thực sự đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách làm, triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp thiết thực, sáng tạo, hiệu quả. Quán triệt, triển khai nghiêm túc, kịp thời các chủ trương, chính sách, nghị quyết, chương trình của Trung ương về giảm nghèo; cụ thể hóa thành chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XVIII Đảng bộ tỉnh (nhiệm kỳ 2015-2020).

Để triển khai Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững cho cả giai đoạn; hằng năm, Tỉnh ủy Yên Bái đều ban hành Chương trình hành động lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của năm và Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện nhiệm vụ giảm nghèo trong năm theo phương châm “giao nhiệm vụ, khoán sản phẩm”. Giao chỉ tiêu giảm nghèo cho từng huyện, thị, thành phố; đồng thời, phân công nhiệm vụ, giao chỉ tiêu cụ thể cho từng đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp cấp tỉnh phối hợp cùng với cấp ủy, chính quyền địa phương để trực tiếp tuyên truyền, vận động, hỗ trợ, giúp đỡ từ 20-50 hộ nghèo/năm (có địa chỉ cụ thể) tại các xã đặc biệt khó khăn mà cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đó được phân công hỗ trợ, giúp đỡ thường xuyên.

Bên cạnh đó, tích cực tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tạo sự thay đổi căn bản về nhận thức và thống nhất trong hành động của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là bà con đồng bào dân tộc thiểu số về công tác giảm nghèo.

Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội cùng chung sức thực hiện mục tiêu giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới với các phong trào thi đua sâu rộng, lan tỏa trong toàn xã hội như: Phong trào“Cả nước chung tay vì người nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Ngày thứ bảy cùng dân” của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc; phong trào “Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh, giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững” của Hội Nông dân; phong trào “Xây dựng gia đình năm không, ba sạch”, “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo” của Hội Phụ nữ; phong trào “Ba đến, ba cùng”, “Nâng cánh ước mơ” của Đoàn Thanh niên; phong trào “Cựu chiến binh giúp nhau giảm nghèo, làm kinh tế giỏi” của Hội Cựu chiến binh…

Đặc biệt là phát huy vai trò chủ thể của người dân trong việc chủ động đóng góp công sức, trí tuệ, nỗ lực phấn đấu vươn lên phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”, đưa việc thực hiện giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới trở thành nhu cầu, là khát vọng của các tầng lớp nhân dân.

Trong 2 năm 2019 và 2020, toàn tỉnh đã có 333 hộ nghèo có đơn tự nguyện xin thoát nghèo.

Triển khai hiệu quả các biện pháp hỗ trợ sinh kế cho các hộ nghèo, cận nghèo thông qua việc thực hiện lồng ghép chương trình giảm nghèo với chương trình xây dựng nông thôn mới và các chương trình hỗ trợ có mục tiêu khác.

Đến hết 2020, tỉnh Yên Bái có 75/150 xã đạt chuẩn nông thôn mới, bằng 50% tổng số xã của toàn tỉnh, cao gấp 1,35 lần bình quân chung của vùng trung du và miền núi phía Bắc (37%), gấp 1,85 lần bình quân chung khu vực Tây Bắc (27%), gấp 3 lần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020, trong đó có 12 xã đặc biệt khó khăn (chiếm 16%). Thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng gấp 2,0 lần so với năm 2015.

Yên Bái còn quan tâm đầu tư xây dựng, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống đường giao thông, thủy lợi, cơ sở khám chữa bệnh (ưu tiên tuyến cơ sở), trường học, hạ tầng phát thanh, truyền hình, viễn thông, ưu tiên cho các địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, nhằm tạo thuận lợi cho việc mở rộng, phát triển sản xuất, kết nối giao thương, nâng cao thu nhập và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu của người dân, nhất là các hộ nghèo, cận nghèo.

Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái cho biết, Yên Bái rất tập trung chăm lo phát triển toàn diện văn hóa-xã hội, nhất là tại các huyện nghèo, địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, nhất là giáo dục vùng cao, giáo dục dân tộc. Hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho các hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách xã hội, nâng cao năng lực hệ thống y tế cơ sở, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Bảo đảm chính sách an sinh xã hội, tích cực hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo.

Tỉnh còn huy động, lồng ghép, sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho giảm nghèo. Trong điều kiện của một tỉnh miền núi, điều kiện kinh tế-xã hội còn nhiều khó khăn, nguồn lực đầu tư hạn hẹp, bên cạnh các nguồn lực của ngân sách nhà nước, tỉnh đã vận động, huy động đa dạng các nguồn lực xã hội hóa để tăng cường hỗ trợ cho công tác giảm nghèo.

Tuy nhiên, Bí thư Tỉnh uỷ Yên Bái cũng nhìn nhận, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giảm nghèo của tỉnh Yên Bái thời gian qua vẫn còn một số mặt khó khăn, tồn tại, hạn chế, cần được khắc phục trong thời gian tới, đó là.

Mặc dù tốc độ giảm nghèo nhanh, nhưng tỉ lệ hộ nghèo, cận nghèo vẫn còn cao so với bình quân chung cả nước, một bộ phận hộ đã thoát nghèo ở các địa bàn thường xuyên chịu tác động của thiên tai vẫn có nguy cơ cao tái nghèo.

Việc hỗ trợ sinh kế, thu nhập đối với người dân tại các địa bàn vùng cao mà nguồn thu nhập chủ yếu từ chính sách nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng (đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên) còn gặp nhiều khó khăn.

Việc đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhất là lưới điện quốc gia, hạ tầng giao thông đối với địa bàn vùng sâu, vùng cao còn nhiều khó khăn, đòi hỏi nguồn lực lớn, vượt quá khả năng đáp ứng của địa phương, ảnh hưởng đến tiến trình giảm nghèo. Một số chính sách liên quan đến giảm nghèo ban hành chưa kịp thời, còn có điểm bất cập, chưa bố trí đủ nguồn lực, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện và hiệu quả của chính sách.

Thay mặt tỉnh Yên Bái, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái Đỗ Đức Duy đưa ra một số bài học kinh nghiệm sau như: Các cấp ủy, chính quyền phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác giảm nghèo, xác định giảm nghèo là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên, lâu dài, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Phải đặt người nghèo, hộ nghèo vào vị trí chủ thể, trung tâm của hoạt động giảm nghèo; làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, thuyết phục để thay đổi căn bản tư duy, nhận thức, hành động của cán bộ, đảng viên và toàn xã hội, đặc biệt là giải phóng tư tưởng để người dân phát huy tinh thần tự lực, tự trọng, có khát vọng và chủ động nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo.

Phải xác định rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan của tình trạng đói nghèo, thường xuyên rà soát, đánh giá, phân tích hiện trạng hộ nghèo, hộ cận nghèo của toàn tỉnh, từng huyện, từng xã.

Đồng chí Đỗ Đức Duy cho biết, đối với tỉnh Yên Bái, nghị quyết Đại hội lần thứ XIX Đảng bộ tỉnh (nhiệm kỳ 2020-2025) xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững theo hướng “xanh, hài hòa, bản sắc, hạnh phúc”, trở thành tỉnh khá của vùng trung du và miền núi phía bắc vào năm 2025; trong đó tỉ lệ giảm hộ nghèo bình quân trên 4,0%/năm, riêng hai huyện 30a giảm bình quân trên 5,5%/năm; đến năm 2025 huyện Mù Cang Chải cơ bản không còn là huyện nghèo, ít nhất 40 xã đặc biệt khó khăn đạt tiêu chí nông thôn mới.

Kết thúc tham luận, Bí thư Tỉnh uỷ Yên Bái đã kiến nghị, đề xuất Chính phủ sớm trình Quốc hội thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025; trong đó cần thiết kế hợp lý để tránh trùng lắp về đối tượng, nội dung, phương thức hỗ trợ của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030.

Yên Bái cũng đề nghị Trung ương tiếp tục quan tâm, dành nguồn lực đầu tư cho các tỉnh miền núi. Trong đó, ưu tiên đầu tư cho hệ thống giao thông kết nối vùng, liên vùng và kết nối các tỉnh miền núi, các huyện nghèo trong vùng; hạ tầng lưới điện quốc gia; các công trình dự báo, cảnh báo và phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Tỉnh Yên Bái đề nghị Trung ương nghiên cứu, ban hành Nghị quyết mới, thực hiện trong giai đoạn tiếp theo để các địa phương trong vùng, nhất là các tỉnh miền núi phía Bắc có cơ sở triển khai thực hiện, thu hẹp dần khoảng cách với trình độ phát triển chung của cả nước.

Nhóm PV