(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 12/3.

Thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu

Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương khẩn trương xử lý những nhiệm vụ quan trọng cấp bách; bảo đảm công khai, minh bạch, không để tồn đọng nhiệm vụ; tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất các nhiệm vụ, mục tiêu của Quý I và cả năm 2021.

Tại Nghị quyết số 30/NQ-CP phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 2/2021, Chính phủ khẳng định thời gian tới, tình hình dịch bệnh COVID-19 trên thế giới vẫn còn diễn biến phức tạp, tiếp tục tác động, ảnh hưởng trên nhiều mặt đến kinh tế thế giới, khu vực và nước ta. Ở trong nước, tại một số địa phương vẫn còn trường hợp lây nhiễm dịch COVID-19 trong cộng đồng. Trong khi đó, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn vẫn diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống. Hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là các ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận tải và du lịch tiếp tục bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh; tiêu thụ sản phẩm nông sản ở một số địa phương vùng dịch gặp nhiều khó khăn.

Chính phủ thống nhất quan điểm chỉ đạo, điều hành là kiên định tập trung thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép”, vừa quyết liệt phòng, chống dịch COVID-19, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống nhân dân. Tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, nỗ lực phấn đấu cao nhất để đạt được mục tiêu tăng trưởng và các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đã đề ra.

Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương khẩn trương quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Từng thành viên Chính phủ nỗ lực hơn nữa, thể hiện tinh thần trách nhiệm và tính kỷ luật cao trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, tiếp tục thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao; tập trung xử lý những nhiệm vụ quan trọng cấp bách; bảo đảm công khai, minh bạch, không để tồn đọng nhiệm vụ; chỉ đạo quyết liệt và thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 1/1/2021 của Chính phủ và Chỉ thị số 06/CT-TTg ngày 19/2/2021 của Thủ tướng Chính phủ; tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, phấn đấu hoàn thành ở mức cao nhất các nhiệm vụ, mục tiêu của Quý I và cả năm 2021.

Trong đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng, trình Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh thu hút các nguồn vốn đầu tư, trong đó chọn lọc, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài có chất lượng, nhất là dòng vốn đầu tư dịch chuyển của các tập đoàn lớn, công nghệ cao trên thế giới và trong khu vực; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan đề xuất các giải pháp phát triển các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân.

Phòng, chống dịch COVID-19 trên tinh thần “5K + vắc-xin”

Các bộ, cơ quan, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tuyệt đối không được chủ quan trong phòng, chống dịch COVID-19; sát sao hơn nữa trong chỉ đạo điều hành; chủ động theo dõi sát tình hình quốc tế, trong nước; nghiên cứu, phân tích kỹ xu hướng, tác động, ảnh hưởng để đề xuất các giải pháp, đối sách hiệu quả, khả thi cả trong ngắn hạn, trung hạn, ứng phó kịp thời với tình hình, diễn biến của dịch bệnh; kịp thời tháo gỡ khó khăn hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền có các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, đặc biệt các doanh nghiệp hoạt động trên các lĩnh vực du lịch, vận tải, bán lẻ...

Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan và địa phương tiếp tục quyết liệt phòng, chống dịch COVID-19 trên tinh thần “5K + vắc-xin”, thực hiện nghiêm việc cập nhật, đánh giá mức độ an toàn về dịch COVID-19 đối với tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, cơ sở lưu trú; khi xuất hiện ổ dịch, cần truy vết thần tốc, khoanh vùng nhanh ổ dịch, xét nghiệm diện rộng, khẩn trương dập dịch; đề cao cảnh giác, nhất là những chủng vi-rút mới có thể lây nhiễm trong cộng đồng.

Khẩn trương triển khai tiêm vắc-xin cho người dân theo đúng ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư tại Thông báo số 50-CV/TW ngày 19/2/2021 của Văn phòng Trung ương về chủ trương mua và sử dụng vắc-xin phòng COVID-19, Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 26/2/2021 của Chính phủ về mua và sử dụng vắc - xin phòng COVID-19 và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng “Đề án về bảo đảm nguồn cung ứng vắc-xin cho tiêm chủng từ nay đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030”, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt trong năm 2021.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương bảo đảm cân đối nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn tài trợ trong và ngoài nước phục vụ cho hoạt động phòng, chống dịch, nhất là kinh phí mua vắc-xin phòng COVID-19 theo quy định.

Xây dựng chính sách hỗ trợ mới giúp DN vượt qua khó khăn do COVID-19

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt; chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục cân đối nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là những ngành bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch COVID-19; tiếp tục cơ cấu lại và xử lý hiệu quả nợ xấu trong hệ thống tín dụng, ngân hàng.

Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đánh giá tình hình thực hiện và tiếp tục rà soát, kịp thời đề xuất điều chỉnh các chính sách, biện pháp hỗ trợ hiện tại; nghiên cứu, xây dựng các chính sách hỗ trợ mới giúp doanh nghiệp và người dân vượt qua khó khăn do tác động của dịch COVID-19.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tập trung cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy nhanh phục hồi kinh tế, đẩy mạnh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, trong đó có vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài; phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế 6,5% năm 2021.

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tiếp tục đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phục hồi sản xuất, kinh doanh trong nước.

Đẩy mạnh phát triển sản xuất

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; tiếp tục đẩy nhanh công tác khắc phục hậu quả thiên tai, nhất là tại các tỉnh Miền Trung và chuẩn bị điều kiện phòng, chống trong mùa bão, lũ sắp tới; phối hợp với Bộ Công Thương và các địa phương có giải pháp hỗ trợ tiêu thụ nông sản cho nông dân.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các cơ quan liên quan hoàn thiện Đề án trồng 01 tỷ cây xanh giai đoạn 2021 - 2025, đề xuất cơ chế, chính sách, biện pháp hỗ trợ các địa phương thực hiện thành công Đề án, góp phần phát triển nền kinh tế xanh và vì một Việt Nam xanh.

Các bộ, ngành chủ trì, phối hợp với các địa phương đề xuất các chính sách, giải pháp phát huy tiềm năng, thế mạnh, khơi thông nguồn lực đối với các trụ cột, đầu tàu tăng trưởng kinh tế, nhất là các tỉnh, thành phố lớn như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bà Rịa - Vũng Tàu và các tỉnh trọng điểm khác.

Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành theo dõi sát tình hình kinh tế thế giới đang có dấu hiệu phục hồi để kịp thời đề xuất các chính sách thúc đẩy nền kinh tế trong nước, tăng trưởng xuất khẩu, bảo hộ công dân, bảo hộ dòng vốn đầu tư ra nước ngoài.

Đề xuất giải pháp kích cầu du lịch trong nước

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ động đề xuất các giải pháp kích cầu du lịch trong nước gắn với bảo đảm phòng, chống dịch COVID-19; chuẩn bị sẵn sàng kế hoạch xúc tiến du lịch quốc tế khi tình hình dịch bệnh trên thế giới được kiểm soát.

Bộ Công an chủ động bảo đảm an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là trong dịp bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương trong công tác truyền thông và triển khai hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư…

Phát triển thủy sản thành ngành kinh tế quan trọng của quốc gia

Đến năm 2030, phát triển thủy sản thành ngành kinh tế quan trọng của quốc gia, sản xuất hàng hóa lớn gắn với công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển bền vững và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; có cơ cấu và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; có thương hiệu uy tín, khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế.

Đó là mục tiêu đến năm 2030 của ngành thủy sản vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản đạt 3,0 - 4,0%/năm

Theo Chiến lược, phấn đấu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản đạt 3,0 - 4,0%/năm. Tổng sản lượng thủy sản sản xuất trong nước đạt 9,8 triệu tấn (trong đó sản lượng nuôi trồng thủy sản 7,0 triệu tấn, sản lượng khai thác thủy sản 2,8 triệu tấn). Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 14 - 16 tỷ USD.

Giải quyết việc làm cho trên 3,5 triệu lao động, có thu nhập bình quân đầu người lao động thủy sản tương đương thu nhập bình quân chung lao động cả nước. Xây dựng các làng cá ven biển, đảo thành các cộng đồng dân cư văn minh, có đời sống văn hóa tinh thần đậm đà bản sắc riêng gắn với xây dựng nông thôn mới.

Tầm nhìn đến năm 2045, thủy sản là ngành kinh tế thương mại hiện đại, bền vững, có trình độ quản lý, khoa học công nghệ tiên tiến; là trung tâm chế biến thủy sản sâu, thuộc nhóm ba nước sản xuất và xuất khẩu thủy sản dẫn đầu thế giới; giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu các ngành kinh tế nông nghiệp và kinh tế biển.

Tiến tới chấm dứt nghề khai thác có tính hủy diệt nguồn lợi thủy sản

Định hướng phát triển theo lĩnh vực, trong thời tới thành lập mới, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu bảo tồn biển. Quan tâm bảo vệ các khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non sinh sống và đường di cư của loài thủy sản. Phát triển bảo tồn biển gắn với du lịch sinh thái và nông thôn mới; tổ chức quản lý, bảo vệ các khu vực thủy sản tập trung sinh sản, khu vực thủy sản còn non sinh sống và đường di cư của các giống loài thủy sản.

Về khai thác thủy sản, phát triển khai thác hải sản vùng khơi hiệu quả, bền vững trên cơ sở giảm dần cường lực khai thác đảm bảo phù hợp với trữ lượng nguồn lợi thủy sản; xây dựng cơ cấu nghề khai thác hợp lý, cơ cấu lao động chuyên ngành, kiêm nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên, nguồn lợi thủy sản, đặc điểm kinh tế - xã hội từng vùng. Phân bổ hạn ngạch khai thác thủy sản phù hợp; giảm thiểu, tiến tới chấm dứt các nghề khai thác có tính hủy diệt nguồn lợi thủy sản, chuyển đổi các nghề xâm hại lớn đến nguồn lợi, sử dụng nhiều nhiên liệu sang các nghề thân thiện với môi trường và nguồn lợi thủy sản…

Về nuôi trồng thủy sản, chủ động phát triển hệ thống sản xuất giống thủy sản chất lượng cao. Ưu tiên phát triển giống các đối tượng nuôi chủ lực, giá trị kinh tế cao, các loài mới có tiềm năng; phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển thành một lĩnh vực sản xuất hàng hóa, khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản quy mô công nghiệp ở các vùng biển mở; tạo khối lượng sản phẩm lớn phục vụ chế biến xuất khẩu và tiêu thụ nội địa…

Chuyển đổi cơ cấu nghề khai thác thủy sản

Định hướng phát triển theo vùng, tập trung nguồn lực củng cố, mở rộng, phát triển và thành lập mới các khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản phù hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội từng vùng, nhất là khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven biển, trong rừng ngập mặn, các đầm phá, trên thượng nguồn và lưu vực của các dòng sông; hỗ trợ thực hiện đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nhà nước đẩy mạnh công nhận và giao quyền quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho tổ chức cộng đồng ở vùng biển ven bờ và thủy vực nội địa.

Xây dựng các làng cá (ven đô, cửa sông, lòng hồ, bãi ngang, hải đảo,...) gắn với du lịch và các ngành nghề khác đảm bảo sinh kế cho cộng đồng ngư dân; chuyển đổi cơ cấu nghề khai thác thủy sản phù hợp với điều kiện tự nhiên, nguồn lợi thủy sản; giảm mạnh các nghề xâm hại đến nguồn lợi thủy sản; kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thủy sản và khuyến ngư ở địa phương.

Sửa đổi, bổ sung quy định xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng CSXH

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 8/2021/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg ngày 28/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ.

Quy chế này quy định việc xử lý nợ của khách hàng vay vốn tại Ngân hàng Chính

sách xã hội bị rủi ro do nguyên nhân khách quan.

Về nguyên nhân khách quan, Quyết định số 8/2021/QĐ-TTg quy định có 5 trường hợp được coi là nguyên nhân khách quan thay vì 4 trường hợp như đã quy định tại Quyết định số 50/2010/QĐ-TTg. 5 nguyên nhân khách quan gồm:

1- Các loại thiên tai theo quy định của pháp luật về phòng, chống thiên tai; địch họa, hỏa hoạn; các dịch bệnh liên quan tới vật nuôi và cây trồng xảy ra làm thiệt hại đến vốn, tài sản của dự án hoặc phương án vay vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội.

2- Nhà nước thay đổi chính sách làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của khách hàng: không còn nguồn cung cấp nguyên vật liệu; mặt hàng sản xuất, kinh doanh bị cấm, bị hạn chế theo quy định của pháp luật; khách hàng phải thực hiện việc chuyển đổi sản xuất, kinh doanh theo quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3- Biến động chính trị, kinh tế - xã hội, dịch bệnh ở nước nhận lao động của Việt Nam làm ảnh hưởng đến người lao động đi làm việc có thời hạn tại nước ngoài; doanh nghiệp tiếp nhận lao động bị phá sản, giải thể; doanh nghiệp tiếp nhận lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động do người lao động không đủ sức khỏe để làm việc hoặc không đảm bảo tay nghề hoặc do các nguyên nhân khách quan khác mà không do lỗi của người lao động dẫn đến việc người đi lao động ở nước ngoài phải về nước trước hạn.

4- Khách hàng vay vốn là cá nhân hoặc có thành viên khác trong hộ gia đình (là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung tại thời điểm khách hàng đề nghị xử lý rủi ro): mắc bệnh tâm thần; mắc bệnh hiểm nghèo; mắc bệnh khác dẫn đến mất năng lực hành vi dân sự; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; bị bệnh cần chữa trị dài ngày theo quy định của Bộ Y tế; bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên; chết hoặc bị tuyên bố là đã chết; bị tuyên bố mất tích; vắng mặt tại nơi cư trú và không có thông tin xác thực về tung tích từ 02 năm liền trở lên, tính từ thời điểm biết được tin tức cuối cùng về khách hàng vay vốn.

5- Các khoản nợ phải thu hồi theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án theo thông báo của cơ quan thi hành án; các khoản nợ bị chiếm dụng mà người chiếm dụng chết, mất tích và không còn tài sản để trả nợ; khách hàng bị tuyên bố phá sản hoặc giải thể theo quy định của pháp luật.

Thời gian gia hạn nợ các khoản ngắn hạn tối đa là 12 tháng

Bên cạnh đó, Quyết định số 8/2021/QĐ-TTg cũng sửa đổi điểm b, điểm c khoản 1 Điều 6 Các biện pháp xử lý nợ bị rủi ro.

Theo quy định khách hàng được xem xét gia hạn nợ khi bị rủi ro do một trong các nguyên nhân quy định ở trên với mức độ thiệt hại về vốn và tài sản dưới 40% so với tổng số vốn thực hiện dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh vay vốn.

Tổng thời gian gia hạn nợ bao gồm cả gia hạn nợ theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, khoản 2 Điều 14 Quyết định số 16/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội và gia hạn nợ theo quy định tại Quy chế này tối đa là 12 tháng đối với các khoản cho vay ngắn hạn; tối đa không quá 1/2 thời hạn cho vay đối với các khoản cho vay trung và dài hạn (tính theo thời gian cho vay ban đầu khi ký kết hợp đồng vay vốn), trừ các trường hợp Thủ tướng Chính phủ có quy định riêng (nếu có).

Sửa đổi điều kiện, thời gian khoanh nợ

Về điều kiện và thời gian khoanh nợ, Quyết định số 8/2021/QĐ-TTg quy định khách hàng có hoàn cảnh khó khăn, chưa có khả năng trả nợ đúng hạn và thuộc một trong các trường hợp sau thì được xem xét khoanh nợ với thời gian khoanh nợ tối đa là 03 năm kể từ ngày có quyết định khoanh nợ của cấp có thẩm quyền:

- Khách hàng bị rủi ro thuộc các trường hợp nêu tại (1), (2) có thiệt hại về vốn và tài sản từ 40% đến dưới 80% so với tổng số vốn thực hiện của dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh vay vốn.

- Khách hàng bị rủi ro do một trong các nguyên nhân nêu tại (3), (4) (trừ trường hợp vắng mặt tại nơi cư trú và không có thông tin xác thực về tung tích từ 02 năm liền trở lên và các trường hợp được xem xét xóa nợ quy định tại điểm b khoản 3 Điều 6 Quy chế này).

- Khách hàng vay vốn bị rủi ro trước thời điểm năm 2014 do các nguyên nhân khách quan quy định tại (1), (2) do không thực hiện xử lý rủi ro kịp thời nên không xác định được mức độ thiệt hại.

Các khoản nợ phải thu hồi theo bản án, quyết định của Tòa án nhưng người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án.

- Khách hàng có hoàn cảnh khó khăn, chưa có khả năng trả nợ đúng hạn và thuộc một trong các trường hợp sau thì được xem xét khoanh nợ với thời gian khoanh nợ tối đa là 05 năm kể từ ngày có quyết định khoanh nợ của cấp có thẩm quyền: Khách hàng bị rủi ro thuộc các trường hợp nêu tại (1), (2) có thiệt hại về vốn và tài sản từ 80% đến 100% so với tổng số vốn thực hiện của dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh vay vốn. Tất cả các thành viên cùng tham gia ký kết hợp đồng vay vốn vắng mặt tại nơi cư trú và không có thông tin xác thực về tung tích từ 02 năm liền trở lên.

Trường hợp hết thời gian khoanh nợ, khách hàng vẫn gặp khó khăn, chưa có khả năng trả nợ sẽ được xem xét cho khoanh nợ bổ sung với thời gian tối đa không vượt quá thời gian đã được khoanh nợ lần trước theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

Lập Hội đồng thẩm định dự án cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu

Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Hội đồng thẩm định liên ngành thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu (giai đoạn 1) theo phương thức PPP (hợp đồng BOT).

Chủ tịch Hội đồng thẩm định liên ngành là Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Phó Chủ tịch Hội đồng là Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Các ủy viên Hội đồng là lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương: Bộ Giao thông vận tải; Bộ Tài chính; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Quốc phòng; Bộ Công an; Bộ Xây dựng; Bộ Công Thương; Bộ Tư pháp; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; UBND tỉnh Đồng Nai và UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan thường trực của Hội đồng thẩm định liên ngành.

Hội đồng thẩm định liên ngành có nhiệm vụ và quyền hạn sau: Tổ chức thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án theo quy định; xem xét, quyết định các vấn đề về nội dung, kế hoạch thẩm định và các vấn đề khác có liên quan trong quá trình thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp tài liệu phục vụ nhiệm vụ thẩm định;

Hội đồng thẩm định liên ngành làm việc theo chế độ tập thể theo chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng. Phiên họp của Hội đồng được coi là hợp lệ khi có ít nhất 50% số thành viên tham dự (kể cả người được ủy quyền).

Kết luận thông qua các nội dung thẩm định phải được tối thiểu 50% số thành viên Hội đồng biểu quyết thông qua (bao gồm cả số thành viên có mặt tại phiên họp và số thành viên biểu quyết bằng văn bản). Trường hợp tỷ lệ biểu quyết bằng nhau và bằng 50% số thành viên Hội đồng, nội dung thẩm định được thông qua theo ý kiến đã biểu quyết của Chủ tịch Hội đồng. Kết luận cuối cùng thông qua báo cáo thẩm định phải được tối thiểu 2/3 số thành viên Hội đồng biểu quyết thông qua (bao gồm cả số thành viên có mặt tại phiên họp và số thành viên biểu quyết bằng văn bản).

Hội đồng được sử dụng con dấu và tài khoản (nếu cần) của Bộ Kế hoạch và Đầu tư để phục vụ cho hoạt động của Hội đồng.

Đầu tư kết cấu hạ tầng KCN Gia Bình II (Bắc Ninh)

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Gia Bình II, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

Dự án trên được đầu tư tại xã Nhân Thắng, xã Thái Bảo, xã Bình Dương, xã Vạn Ninh, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh với quy mô 250 ha. Tổng vốn đầu tư dự kiến của dự án là 3.956,8 tỷ đồng, trong đó vốn góp của Nhà đầu tư - Công ty cổ phần Tập đoàn HANAKA để thực hiện dự án là 1.201,2 tỷ đồng.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Bắc Ninh đảm bảo tính chính xác của thông tin, số liệu báo cáo, các nội dung thẩm định theo quy định của pháp luật; triển khai Dự án phù hợp với quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; bảo đảm điều kiện về tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp trong quá trình xem xét, quyết định thành lập mới khu công nghiệp.

Trường hợp thành lập mới khu công nghiệp trên địa bàn Tỉnh dẫn đến không bảo đảm đáp ứng điều kiện về tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế để xem xét, quyết định chủ trương đầu tư của Dự án thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

UBND tỉnh Bắc Ninh bảo đảm điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong quá trình cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện Dự án; có kế hoạch bổ sung diện tích đất hoặc tăng hiệu quả đất trồng lúa khác để bù lại phần đất trồng lúa bị chuyển đổi theo quy định tại Điều 134 Luật Đất đai năm 2013.

Chỉ đạo Ban quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh và các cơ quan có liên quan giám sát, đánh giá việc triển khai Dự án, trong đó có việc góp vốn và huy động vốn đầu tư của Nhà đầu tư theo quy định của pháp luật.

Phối hợp với Nhà đầu tư triển khai phương án đền bù, giải phóng mặt bằng theo quy định; triển khai các giải pháp liên quan đến đời sống người lao động làm việc trong khu công nghiệp, trong đó có phương án xây dựng nhà ở, công trình xã hội, văn hóa, thể thao cho người lao động; hỗ trợ việc làm, đào tạo nghề cho người dân bị thu hồi đất; thực hiện thu hồi đất phù hợp với tiến độ thực hiện Dự án và thu hút đầu tư để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng đến người dân bị thu hồi đất.

Nhân sự Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Tại Quyết định 337/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ quyết định ông Phạm Văn Trường thôi giữ chức vụ Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam để chuyển công tác về Bộ Tài chính nhận nhiệm vụ mới.

Sáp nhập CĐ Sư phạm Ninh Thuận vào ĐH Nông Lâm TPHCM

Thủ tướng Chính phủ quyết định sáp nhập Trường Cao đẳng Sư phạm Ninh Thuận vào Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Ninh Thuận chỉ đạo Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tiếp nhận nhân sự, bộ máy tổ chức, tài chính tài sản của Trường Cao đẳng Sư phạm Ninh Thuận vào Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh (Phân hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh tại tỉnh Ninh Thuận) theo thẩm quyền và quy định của pháp luật, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của nhà trường, không gây khó khăn cho người học, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, các cá nhân và tổ chức có liên quan.

Quyết định trên có hiệu lực từ ngày 11/3/2021.

Huyện Gò Quao (Kiên Giang) đạt chuẩn nông thôn mới

Thủ tướng Chính phủ vừa công nhận huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang đạt chuẩn nông thôn mới năm 2020.

Thủ tướng Chính phủ giao UBND tỉnh Kiên Giang có trách nhiệm công bố và khen thưởng theo quy định, chỉ đạo huyện Gò Quao tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí, chú trọng tiêu chí về môi trường để đảm bảo tính bền vững trong xây dựng nông thôn mới.

Ông Đặng Hoàng Giang giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định 345/QĐ-TTg bổ nhiệm ông Đặng Hoàng Giang, Trợ lý đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, kiêm Chánh Văn phòng Bộ Ngoại giao, giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.

Quyết định trên có hiệu lực từ ngày 12/3/2021.