(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 15/3.

Miễn thuế hàng hóa xuất, nhập khẩu theo điều ước quốc tế

Chính phủ ban hành Nghị định 18/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Trong đó, bổ sung Điều 29a miễn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo điều ước quốc tế. Cụ thể, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được miễn thuế xuất khẩu, nhập khẩu theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Cơ sở để xác định hàng hóa được miễn thuế xuất khẩu, nhập khẩu gồm: Chủng loại, định lượng hàng hóa được quy định tại điều ước quốc tế; văn bản xác nhận của cơ quan đề xuất ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế, cơ quan quản lý chuyên ngành trong trường hợp điều ước quốc tế không quy định chủng loại, định lượng miễn thuế. Trường hợp cơ quan đề xuất ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế không phải là cơ quan quản lý chuyên ngành thì căn cứ theo văn bản xác nhận của cơ quan đề xuất ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế.

Nghị định quy định thủ tục xác nhận trong trường hợp điều ước quốc tế không quy định chủng loại, định lượng hàng hóa miễn thuế. Cụ thể, tổ chức, cá nhân sử dụng hàng hóa miễn thuế có công văn đề nghị cơ quan đề xuất ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế, cơ quan quản lý chuyên ngành xác nhận chủng loại, định lượng hàng hóa miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được công văn đề nghị, cơ quan đề xuất ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế, cơ quan quản lý chuyên ngành có văn bản xác nhận chủng loại, định lượng hàng hóa miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu gửi tổ chức, cá nhân hoặc có văn bản từ chối trong trường hợp hàng hóa đề nghị miễn thuế không phù hợp với điều ước quốc tế.

Trước khi đăng ký tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu miễn thuế đầu tiên, tổ chức, cá nhân thực hiện thông báo Danh mục hàng hóa miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cho cơ quan hải quan (Danh mục miễn thuế).

Nghị định cũng quy định Hồ sơ thông báo Danh mục miễn thuế; địa điểm thông báo, sửa đổi Danh mục miễn thuế;...

Nghị định 18/2021/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25/4/2021.

Phát triển kinh tế tập thể năng động, hiệu quả

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt Chiến lược phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã giai đoạn 2021-2030.

Mục tiêu của Chiến lược nhằm phát triển kinh tế tập thể năng động, hiệu quả, bền vững thực sự là thành phần quan trọng trong nền kinh tế với nhiều mô hình liên kết, hợp tác trên cơ sở tôn trọng bản chất, các giá trị và nguyên tắc của kinh tế tập thể, thu hút nông dân, hộ kinh tế cá thể, cá nhân và nhiều tổ chức tham gia kinh tế tập thể, hợp tác xã; không ngừng nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của các thành viên, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Năm 2030 có khoảng 140.000 tổ hợp tác

Chiến lược phấn đấu đến năm 2030, cả nước có khoảng 140.000 tổ hợp tác, với 2 triệu thành viên, 45.000 hợp tác xã với 8 triệu thành viên, 340 liên hiệp hợp tác xã với 1.700 hợp tác xã thành viên.

Số hợp tác xã hoạt động đạt loại tốt, khá chiếm từ 60%-70% trên tổng số hợp tác xã cả nước. Tỷ lệ cán bộ quản lý hợp tác xã tốt nghiệp cao đẳng, đại học đạt ít nhất 25%; khoảng 80% giám đốc hợp tác xã được đào tạo sơ cấp nghề giám đốc.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp, phấn đấu đến năm 2030 cả nước có trên 5.000 hợp tác xã và 500 tổ hợp tác ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất và tiêu thụ nông sản; thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với hàng hóa nông sản; tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp và hợp tác xã, phấn đấu có khoảng 50% hợp tác xã nông nghiệp liên kết với doanh nghiệp theo chuỗi giá trị; xử lý dứt điểm các hợp tác xã đã ngừng hoạt động và các hợp tác xã chưa chuyển đổi, tổ chức lại theo Luật Hợp tác xã năm 2012.

Ưu tiên xây dựng mô hình hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị

Định hướng chung của Chiến lược là khuyến khích phát triển kinh tế tập thể trong các ngành nghề, lĩnh vực vùng, miền của đất nước, ưu tiên xây dựng các mô hình hợp tác xã gắn với chuỗi giá trị, gắn với sản phẩm chủ lực của quốc gia, địa phương, chương trình OCOP...; mở rộng quy mô thành viên. Hợp tác xã tập trung phát triển và cung ứng các dịch vụ phục vụ thành viên, hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ; bảo đảm lợi ích hợp pháp của các thành viên.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp, Chiến lược định hướng khuyến khích hợp tác xã nông nghiệp tổ chức sản xuất nông nghiệp gắn với sơ chế, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp cho thành viên tạo thành chuỗi giá trị khép kín; phát triển các mô hình kinh tế tập thể trong lĩnh vực trồng trọt (lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, điều, trái cây, mía đường); chăn nuôi (bò sữa, đại gia súc, lợn, gia cầm các loại); lâm nghiệp; thủy sản (nuôi trồng, khai thác), diêm nghiệp gắn với tái cơ cấu nông nghiệp và phát triển các sản phẩm chủ lực tại địa phương.

Trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, sẽ từng bước nghiên cứu xây dựng một số liên hiệp hợp tác xã công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; hợp tác xã dịch vụ công nghiệp ở những vùng có nhiều làng nghề, cụm công nghiệp nông thôn, tạo tiền đề cho việc hình thành, phát triển các làng nghề mới. Giúp đỡ các hợp tác xã hiện đại hoá trang thiết bị, đổi mới công nghệ và sản phẩm, nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất; chú trọng phát triển các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, tập trung vào mở mang, phát triển các ngành nghề truyền thống, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, sản xuất cơ khí phục vụ nông nghiệp, bảo quản chế biến nông sản, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu.

Đồng thời, xây dựng mô hình hợp tác xã thương mại theo hướng dịch vụ đa ngành nhằm phục vụ tốt nhu cầu sản xuất đồng thời góp phần tiêu thụ nông sản cho nông dân. Tiếp tục củng cố các liên hiệp hợp tác xã hiện có tại các thành phố lớn; các tỉnh, thành phố khác có thể thành lập một hoặc một số liên hiệp hợp tác xã để hỗ trợ các hợp tác xã thành viên về nguồn hàng, thị trường...

Bên cạnh đó, phát triển các hợp tác xã xây dựng kiểu mới nhằm đáp ứng nhu cầu chung của các thành viên là cá thể, hộ gia đình, các pháp nhân, kể cả các doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, như: Sản xuất hoặc cung ứng vật liệu xây dựng; tư vấn, khảo sát thiết kế xây dựng; thi công xây dựng; trang thiết bị phục vụ xây dựng; xây dựng và phát triển mô hình hợp tác xã xây dựng áp dụng công nghệ chế tạo sẵn quy mô lớn theo hướng đa ngành nghề, kết hợp xây dựng, khai thác, sản xuất, cung cấp vật liệu xây dựng, thi công xây lắp, quản lý tòa nhà.

Trong lĩnh vực tín dụng, sẽ phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân theo đúng mục tiêu, tôn chỉ của loại hình tổ chức tín dụng là hợp tác xã theo quy định của pháp luật; có cơ cấu tổ chức, đủ năng lực tài chính, năng lực quản trị, điều hành, kiểm soát, bảo đảm hoạt động an toàn, hiệu quả, ổn định và bền vững; phát triển Ngân hàng Hợp tác xã có đủ năng lực tài chính, tăng cường năng lực quản trị, điều hành, kiểm soát, hoạt động an toàn, hiệu quả, bền vững để thực hiện tốt vai trò là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân…

Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của người dân trong tuân thủ Luật Bảo vệ môi trường

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường với mục tiêu tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ môi trường đến nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm công tác bảo vệ môi trường; nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của người dân trong tuân thủ Luật Bảo vệ môi trường.

Kế hoạch cũng nhằm mục tiêu xác định cụ thể các nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị có liên quan trong việc tổ chức triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường, bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả; xác định trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và địa phương trong việc tiến hành các hoạt động triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước.

Nội dung Kế hoạch triển khai gồm: Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, tập huấn Luật Bảo vệ môi trường; tổ chức rà soát văn bản pháp luật; xây dựng, ban hành văn bản pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường.

Theo Kế hoạch, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan biên soạn tài liệu phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ môi trường; chủ trì, phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bộ, cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ môi trường với nội dung, hình thức phù hợp đến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và nhân dân để hiểu rõ và thực hiện.

Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, các quy chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành có liên quan đến Luật Bảo vệ môi trường lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công; thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật, các quy chuẩn kỹ thuật môi trường bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Bảo vệ môi trường trong tháng 6 năm 2021.

Trong đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ chủ trì soạn thảo Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Quyết định ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính; Quyết định ban hành Kế hoạch xử lý, cải tạo và phục hồi khu vực ô nhiễm môi trường đất đặc biệt nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 15 Luật bảo vệ môi trường (Điểm c Khoản 1 Điều 19); Quyết định ban hành tiêu chí về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển nông thôn…

Huyện Giồng Riềng (tỉnh Kiên Giang) đạt chuẩn nông thôn mới

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ký quyết định công nhận huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đạt chuẩn nông thôn mới.

UBND tỉnh Kiên Giang có trách nhiệm công bố và khen thưởng theo quy định, chỉ đạo huyện Giồng Riềng tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng các tiêu chí, chú trọng tiêu chí về môi trường để bảo đảm tính bền vững trong xây dựng nông thôn mới.

Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, huyện Giồng Riềng đã quan tâm, chú trọng huy động các nguồn lực để xây dựng thành công 100% xã  đạt chuẩn nông thôn mới, xây dựng hoàn thiện 9/9 tiêu chí huyện nông thôn mới.

Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, ý thức trách nhiệm của người dân, diện mạo nông thôn của huyện Giồng Riềng ngày càng đổi mới; thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 57 triệu đồng/người/năm; hộ nghèo giảm còn 2,24%. Với sản phẩm nông nghiệp chủ lực là cây lúa, huyện đã tập trung chỉ đạo xây dựng cánh đồng lớn phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ sản phẩm hơn 1.780 ha, đang thí điểm sản xuất lúa hữu cơ 500 ha…

Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch di dân, tái định cư thủy điện Tuyên Quang

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã ký Quyết định 348/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể di dân, tái định cư Dự án thủy điện Tuyên Quang trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang tại Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg ngày 12/1/2007 và Quyết định số 1766/QĐ-TTg ngày 10/10/2011.

Cụ thể, đổi tên Quy hoạch thành Đề án tổng thể di dân, tái định cư Dự án thủy điện Tuyên Quang trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Cho phép tiếp tục thực hiện các nội dung Quyết định số 1766/QĐ-TTg ngày 10/10/2011 đến ngày 31/12/2025.

Điều chỉnh giảm 266 công trình trong danh mục được phê duyệt tại Quyết định số 1766/QĐ-TTg ngày 10/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ; đồng ý bổ sung mới 56 công trình, dự án.

Điều chỉnh cơ cấu vốn trong tổng mức đầu tư của Quyết định số 1766/QĐ-TTg ngày 10/10/2011. Cụ thể, tổng mức đầu tư của quy hoạch là 1868,935 tỷ đồng, gồm: Đầu tư ổn định đời sống và phát triển sản xuất của hộ tái định cư 307,007 tỷ đổng; đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng 1218,803 tỷ đồng; chi phí khác (quy hoạch, thiết kế, quản lý dự án, chi khác...) 278,794 tỷ đồng; chi phí dự phòng 64,33 tỷ đồng.

Điều chỉnh tăng 39,62 tỷ đồng phần vốn bố trí cho tỉnh Tuyên Quang tại Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg ngày 12/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ (từ 1756,428 tỷ đồng lên 1796,048 tỷ đồng).

Các nội dung khác thực hiện theo quy định tại Quyết định số 08/2007/QĐ-TTg ngày 12/1/2007 và Quyết định số 1766/QĐ-TTg ngày 10/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ.

UBND tỉnh Tuyên Quang xác định danh mục, mức vốn và phê duyệt dự án thành phần được bổ sung, tổ chức thực hiện theo đúng quy định của Luật Đầu tư công, chịu trách nhiệm về sự cần thiết, phù hợp của các công trình được bổ sung mới thuộc đối tượng đầu tư.

UBND tỉnh Tuyên Quang rà soát, tổng hợp danh mục các dự  án thành phần của Đề án trong danh mục kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 của tỉnh, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, các bộ, ngành liên quan cân đối bố trí nguồn vốn ngân sách Trung ương trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 của tỉnh Tuyên Quang thực hiện hoàn thành các mục tiêu và nội dung của Đề án tổng thể di dân, tái định cư Dự án thủy điện Tuyên Quang trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang theo quy định./.