(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 4/4/2017.

Tăng cường sử dụng hàng nội địa trong dự án đầu tư phát triển

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg về việc tăng cường sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu các dự án đầu tư phát triển và hoạt động mua sắm thường xuyên sử dụng vốn nhà nước.

Chỉ thị nêu rõ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước theo chức năng, nhiệm vụ và trong phạm vi quản lý của mình chủ động rà soát và chỉ đạo thực hiện các nội dung trong công tác đấu thầu.

Cụ thể, về phân chia gói thầu, Thủ tướng yêu cầu việc phân chia các gói thầu thuộc dự án, dự toán đối với mua sắm thường xuyên sử dụng vốn nhà nước phải tuân thủ nguyên tắc phân chia gói thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu, phù hợp với điều kiện năng lực của nhà thầu trong nước, bảo đảm các điều kiện cạnh tranh tối đa cho các doanh nghiệp trong nước, góp phần tạo việc làm cho lao động trong nước.

Nghiêm cấm việc phân chia dự án, dự toán mua sắm thành các gói thầu trái với quy định của pháp luật về đấu thầu hiện hành nhằm mục đích hạn chế sự tham gia của các nhà thầu trong nước. Trường hợp phát hiện việc phân chia gói thầu không đúng với quy định thì tổ chức, cá nhân vi phạm sẽ bị cấm tham gia hoạt động đấu thầu theo quy định; đề xuất xử lý nặng hơn đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng.

Chỉ đấu thầu quốc tế khi hàng hóa trong nước không sản xuất được hoặc không đáp ứng yêu cầu

Chỉ thị nêu rõ, chỉ tổ chức đấu thầu quốc tế khi hàng hóa, vật tư, thiết bị, máy móc, phương tiện trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng không đáp ứng yêu cầu về chất lượng, số lượng, giá cả hoặc theo yêu cầu của nhà tài trợ đối với những gói thầu thuộc các dự án sử dụng vốn ODA. Trường hợp hàng hóa thông dụng, đã được nhập khẩu và chào bán tại Việt Nam thì không được tổ chức đấu thầu quốc tế.

Trường hợp gói thầu áp dụng đấu thầu quốc tế thì trong hồ sơ mời thầu cần quy định rõ: Nhà thầu nước ngoài khi tham dự thầu phải liên danh với nhà thầu trong nước hoặc sử dụng nhà thầu phụ trong nước, trừ trường hợp nhà thầu trong nước không đủ năng lực tham gia vào bất kỳ phần công việc nào của gói thầu.

Nghiêm cấm các chủ đầu tư, bên mời thầu khi lập hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu có quy định cho phép sử dụng lao động nước ngoài khi lao động trong nước đủ khả năng đáp ứng được yêu cầu thực hiện gói thầu, đặc biệt là lao động phổ thông.

Không định hướng chào hàng hóa nhập khẩu

Trường hợp tổ chức đấu thầu trong nước, khi lập và phát hành hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu không được đưa ra yêu cầu hoặc định hướng đối với việc nhà thầu tham dự thầu phải chào hàng hóa nhập khẩu khi hàng hóa trong nước đã sản xuất hoặc lắp ráp được đáp ứng yêu cầu chất lượng, số lượng, giá cả.

Nghiêm cấm việc nêu xuất xứ, nhãn hiệu, catalô của một số sản phẩm cụ thể để tham khảo, minh họa trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu khi có thể mô tả được chi tiết hàng hóa theo đặc tính kỹ thuật, thiết kế công nghệ, tiêu chuẩn công nghệ của hàng hóa đó. Trường hợp không thể mô tả chi tiết thì được nêu nhãn hiệu, catalô của một số sản phẩm cụ thể để tham khảo, minh họa cho yêu cầu về kỹ thuật của hàng hóa nhưng phải ghi kèm theo cụm từ “hoặc tương đương” sau nhãn hiệu, catalô đồng thời phải quy định rõ nội hàm tương đương với hàng hóa đó về đặc tính kỹ thuật, tính năng sử dụng, tiêu chuẩn công nghệ và các nội dung khác để tạo thuận lợi cho nhà thầu trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu.

Tăng cường truyền thông

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các cơ quan thông tấn, báo chí tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức các chủ đầu tư, bên mời thầu thực hiện nghiêm túc việc sử dụng máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu trong nước đã sản xuất được trong công tác đấu thầu; các doanh nghiệp nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm trong việc nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ; thực hiện các cam kết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và xây dựng được thương hiệu quốc gia cho nhiều sản phẩm, hàng hóa Việt Nam.

Danh mục máy móc, thiết bị,vật tư, nguyên liệu, thuốc và vật tư y tế trong nước sản xuất được phải được cập nhật thường xuyên trên trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành danh mục. Danh mục tổng hợp phải được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Chính phủ, cổng thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hệ thống mạng đấu thầu quốc gia tại địa chỉ http://muasamcong.mpi.gov.vn và Trang thông tin điện tử của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

Nâng cao chất lượng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước

Cũng tại chỉ thị, Thủ tướng yêu cầu các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất trong nước phải chủ động tăng cường đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, nghiên cứu bám sát thị trường để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng mẫu mã, phát triển năng lực sản xuất để cung ứng các sản phẩm máy móc, thiết bị đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, giá cả cạnh tranh, đáp ứng được nhu cầu của thị trường, yêu cầu trong việc thực hiện các dự án, gói thầu.

Điều kiện cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 32/2017/NĐ-CP về tín dụng đầu tư của Nhà nước. Nghị định này quy định rõ đối tượng, điều kiện và lãi suất cho vay.

Theo đó, đối tượng cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước là khách hàng có dự án đầu tư thuộc Danh mục các dự án được vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước ban hành kèm theo Nghị định này.

Nghị định quy định rõ trường hợp các dự án nêu trên đã được hưởng tín dụng ưu đãi từ các tổ chức tài chính nhà nước khác thì không được vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước theo quy định.

8 điều kiện cho vay

Để được vay tín dụng đầu tư của Nhà nước, khách hàng phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

1- Thuộc đối tượng cho vay;

2- Có đầy đủ năng lực pháp luật và thực hiện các thủ tục đầu tư theo quy định;

3- Dự án đầu tư xin vay vốn được Ngân hàng Phát triển Việt Nam thẩm định, đánh giá là dự án có hiệu quả, có khả năng trả được nợ vay;

4- Có vốn chủ sở hữu tham gia trong quá trình thực hiện dự án tối thiểu 20% tổng vốn đầu tư dự án, mức cụ thể do Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét, quyết định phù hợp với khả năng tài chính của chủ đầu tư và phương án trả nợ của dự án, trừ trường hợp các dự án đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định;

5- Thực hiện bảo đảm tiền vay theo các quy định tại Nghị định này và quy định của pháp luật;

6- Khách hàng không có nợ xấu tại các tổ chức tín dụng tại thời điểm Ngân hàng Phát triển Việt Nam xem xét cho vay, giải ngân vốn vay;

7- Mua bảo hiểm tài sản tại một doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động hợp pháp tại Việt Nam đối với tài sản bảo đảm tiền vay;

8- Khách hàng thực hiện chế độ hạch toán kế toán, báo cáo tài chính và kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm theo quy định của pháp luật.

Thời hạn cho vay không quá 15 năm

Nghị định quy định mức vốn cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước tối đa đối với mỗi dự án bằng 70% tổng mức vốn đầu tư của dự án (không bao gồm vốn lưu động).

Thời hạn cho vay được xác định theo khả năng thu hồi vốn của dự án và khả năng trả nợ của khách hàng phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh của dự án nhưng không quá 12 năm. Riêng các dự án đầu tư thuộc nhóm A thời hạn cho vay vốn tối đa là 15 năm.

Lãi suất cho vay tín dụng đầu tư của Nhà nước bằng mức lãi suất bình quân gia quyền của các mức lãi suất trúng thầu trái phiếu Ngân hàng Phát triển Việt Nam được Chính phủ bảo lãnh kỳ hạn 5 năm trong thời hạn 1 năm trước thời điểm công bố lãi suất theo quy định tại Nghị định này cộng (+) tỷ lệ chi phí quản lý hoạt động và dự phòng rủi ro của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 34/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ.

Theo đó, Bộ Nội vụ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực: Tổ chức hành chính, sự nghiệp nhà nước; chính quyền địa phương, địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; đào tạo, bồi dưỡng về chuyên ngành hành chính và quản lý nhà nước; hội, tổ chức phi chính phủ; thi đua, khen thưởng; tôn giáo; văn thư, lưu trữ nhà nước; thanh niên và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý của bộ theo quy định của pháp luật.

Trong đó, về chính quyền địa phương, Bộ Nội vụ tham mưu giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện việc chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; kiểm tra, đôn đốc Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện các quy định của pháp luật về bầu cử, các văn bản hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia và của các cơ quan trung ương, định kỳ báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo tiến độ thực hiện công tác bầu cử.

Bên cạnh đó, tham mưu giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra Ủy ban nhân dân các cấp về phương thức tổ chức và hoạt động, việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân các cấp theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan; trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy định về số lượng, chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; hướng dẫn tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố.

Đồng thời, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản quy định về tiêu chí, điều kiện, quy trình thủ tục công nhận xã đảo, xã an toàn khu, vùng an toàn khu; thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ công nhận xã đảo, xã an toàn khu, vùng an toàn khu; thống kê số lượng, chất lượng đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; thành viên Ủy ban nhân dân các cấp và đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố; số lượng và kết quả phân loại đơn vị hành chính các cấp.

Về quản lý biên chế, tinh giản biên chế, Bộ Nội vụ thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định điều chỉnh, bổ sung biên chế công chức của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi biên chế công chức dự phòng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hàng năm.

Quyết định giao biên chế công chức đối với từng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quyết định giao biên chế công chức làm việc ở nước ngoài đối với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quyết định giao biên chế đối với các Hội có tính chất đặc thù hoạt động trong phạm vi cả nước sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Quyết định điều chỉnh, bổ sung biên chế công chức đối với từng bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi được Thủ tướng Chính phủ quyết định; quyết định tổng số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên và đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập.

Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quản lý, sử dụng biên chế công chức, số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, tinh giản biên chế của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; tổng hợp, thống kê biên chế công chức, số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập, tinh giản biên chế của các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập trong phạm vi cả nước, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cơ quan có thẩm quyền.

Cơ cấu tổ chức

Cơ cấu tổ chức của Bộ Nội vụ gồm 22 đơn vị: 1- Vụ Tổ chức - Biên chế; 2- Vụ Chính quyền địa phương; 3- Vụ Công chức - Viên chức; 4- Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; 5- Vụ Tiền lương; 6- Vụ Tổ chức phi chính phủ; 7- Vụ Cải cách hành chính; 8- Vụ Hợp tác quốc tế; 9- Vụ Pháp chế; 10- Vụ Kế hoạch - Tài chính; 11- Vụ Tổng hợp; 12- Vụ Công tác thanh niên; 13- Vụ Tổ chức cán bộ; 14- Thanh tra Bộ; 15- Văn phòng Bộ; 16- Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước; 17- Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương; 18- Ban Tôn giáo Chính phủ; 19- Học viện Hành chính Quốc gia; 20- Viện Khoa học tổ chức nhà nước; 21- Tạp chí Tổ chức nhà nước; 22- Trung tâm Thông tin.

Các đơn vị quy định từ (1) đến (18) nêu trên là các đơn vị hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước; các đơn vị quy định từ (19) đến (22) là các đơn vị sự nghiệp phục vụ chức năng quản lý nhà nước của bộ.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Ban Tôn giáo Chính phủ, Học viện Hành chính Quốc gia và quyết định ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp khác hiện có thuộc bộ.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc bộ, trừ các đơn vị quy định tại (17, 18 và 19) nêu trên; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của vụ, văn phòng, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước.

Hỗ trợ sản xuất phương tiện vận tải có động cơ

Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định hướng dẫn thực hiện Nghị định thư giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Nga, Chính phủ Cộng hòa Bê-la-rút về hỗ trợ sản xuất phương tiện vận tải có động cơ trên lãnh thổ Việt Nam.

Cụ thể, Quyết định 08/2017/QĐ-TTg hướng dẫn thực hiện Nghị định thư giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Liên bang Nga quy định về quy trình phân bổ hạn ngạch thuế quan, trình tự, thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan, mức thuế suất thuế nhập khẩu trong và ngoài hạn ngạch thuế quan và cơ chế phối hợp quản lý giữa các cơ quan nhà nước để thực hiện cơ chế nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan đối với phương tiện vận tải có động cơ và bộ SKD trong khuôn khổ Nghị định thư.

Trong đó, các liên doanh đủ điều kiện bao gồm:

1- Các pháp nhân được thành lập theo các thỏa thuận được ký giữa các doanh nghiệp được ủy quyền của Nga và các doanh nghiệp có quan tâm của Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam.

2- Mỗi doanh nghiệp được ủy quyền của Nga chỉ được phép thành lập một liên doanh tại Việt Nam.

3- Phần vốn do các doanh nghiệp Việt Nam trong liên doanh đóng góp phải đạt ít nhất 50% tổng vốn điều lệ của liên doanh.

4- Các liên doanh phải được thành lập và hoạt động trong thời gian ít nhất 10 năm và không quá 30 năm.

5- Các doanh nghiệp được ủy quyền của Nga không được chuyển nhượng vốn trong các liên doanh cho bất cứ bên thứ ba của một nước thứ ba nào.

6- Tỷ lệ nội địa hóa mà các liên doanh phải đạt được vào năm 2020 và 2025 như sau:

Năm đích

2020

2025

Xe thể thao đa dụng (SUV) của hãng “UAZ"

30%

40%

Phương tiện vận tải từ 10 chỗ trở lên, bao gồm cả lái xe

35%

50%

Xe tải

30%

45%

Xe chuyên dụng

25%

40

Các phương tiện vận tải có động cơ do liên doanh sản xuất để sử dụng trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn và quy trình đánh giá sự phù hợp theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Quyết định 09/2017/QĐ-TTg hướng dẫn thực hiện Nghị định thư giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hòa Bê-la-rút quy định về quy trình phân bổ hạn ngạch thuế quan, trình tự, thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan, mức thuế suất thuế nhập khẩu trong và ngoài hạn ngạch thuế quan và cơ chế phối hợp quản lý giữa các cơ quan nhà nước để thực hiện cơ chế nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan đối với phương tiện vận tải có động cơ và bộ phụ tùng và linh kiện trong khuôn khổ Nghị định thư.

Quyết định nêu rõ mức thuế suất nhập khẩu trong hạn ngạch thuế quan là 0% trong trường hợp hàng hóa có xuất xứ phù hợp với quy định của Chương 4 (Quy tắc xuất xứ) của Hiệp định VN - EAEU FTA và được xác nhận bằng Giấy Chứng nhận xuất xứ được cấp có ghi rõ hàm lượng giá trị gia tăng 55% theo cách tính quy định tại Chương 4 (Quy tắc xuất xứ) của Hiệp định VN - EAEU FTA. Giá trị các nguyên vật liệu của Việt Nam được loại trừ khỏi cách tính hàm lượng giá trị gia tăng.

Trùng tu Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Trùng tu Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng ở tỉnh An Giang.

Mục tiêu đầu tư nhằm bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng thông qua các di tích hiện còn; đầu tư, tôn tạo đồng bộ về kiến trúc cảnh quan, từng bước hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng khu di tích; nhằm hình thành một điểm sinh hoạt chính trị, giáo dục truyền thống yêu nước, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân; điểm du lịch văn hóa đặc sắc của thành phố Long Xuyên nói riêng và của tỉnh An Giang, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Khu lưu niệm được đầu tư tu bổ, tôn tạo và nâng cấp các hạng mục công trình gồm: Đền thờ Chủ tịch Tôn Đức Thắng; nhà trưng bày thân thế sự nghiệp; nhà ở thời niên thiếu của Bác Tôn; nhà chiếu phim; nhà biểu diễn; nhà trưng bày tặng phẩm; nhà quản lý; cải tạo, xây dựng mới nhà vệ sinh và hệ thống hạ tầng kỹ thuật...

Dự án được thực hiện từ năm 2016 đến năm 2020 với tổng mức vốn đầu dự kiến 55,25 tỷ đồng.

Nâng cấp Trụ sở Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Cải tạo, nâng cấp Trụ sở Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam do Cơ quan Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam quản lý dự án.

Dự án trên được thực hiện từ năm 2018 - 2021 với tổng mức đầu tư 148,363 tỷ đồng.

Quy mô của Trụ sở gồm: Diện tích tầng nổi (7 tầng và tum thang) khoảng 7.654 m2; diện tích 2 tầng hầm khoảng 3.000 m2. Công trình cấp 1.

Mục tiêu của việc cải tạo, nâng cấp nhằm đảm bảo an toàn trong sử dụng cho cán bộ, công chức của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, đáp ứng nhu cầu làm việc, đón tiếp khách trong nước, quốc tế; phục vụ tốt cho việc mở rộng quan hệ hợp tác trong các hoạt động, trong công tác đối ngoại, nhằm khai thác các nguồn lực phục vụ hoạt động chung của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và yêu cầu hội nhập, phát triển.

Phê duyệt chủ trương đầu tư 7 dự án giáo dục nghề nghiệp

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt chủ trương đầu tư 7 dự án xây dựng, nâng cấp, mở rộng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

7 dự án gồm: 1- Trường trung cấp nghề kinh tế - kỹ thuật công đoàn Tiền Giang; 2- Trường trung cấp nghề kinh tế - kỹ thuật số 2 Đồng Nai; 3- Trường trung cấp nghề Thái Nguyên; 4- Trường trung cấp kỹ thuật và nghiệp vụ công đoàn Bình Dương; 5- Trường trung cấp nghề công đoàn Việt Nam; 6- Trường trung cấp nghề số 9 Quảng Bình; 7- Trường cao đẳng nghề kinh tế - kỹ thuật số 1 Nghệ An.

Trong đó, đầu tư xây dựng Cơ sở 2 Trường trung cấp nghề kinh tế - kỹ thuật số 2 Đồng Nai từ năm 2018 - 2020 để mở rộng quy mô đào tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh Đồng Nai và các tỉnh lân cận với tổng mức đầu tư dự kiến 20 tỷ đồng.

Dự án Trường trung cấp nghề Thái Nguyên xây dựng từ năm 2017 - 2019, trong đó, xây dựng mới khu nhà học lý thuyết tại cơ sở 1; tại cơ sở 2 cải tạo trung tâm xúc tiến việc làm; sửa chữa, cải tạo ký túc xá; cải tạo, làm mới cổng, nhà bảo vệ, tường rào và phòng giao dịch tuyển sinh, tuyển lao động, giới thiệu việc làm và hợp tác đào tạo với nước ngoài.

Còn với Dự án Trường Cao đẳng nghề Kinh tế - Kỹ thuật số 1 Nghệ An, đầu tư xây mới một nhà thi đấu thể dục - thể thao đa năng, sân vườn, hàng rào; hệ thống cấp điện, cấp nước và phòng cháy chữa cháy cùng một số hạng mục phụ trợ kèm theo với tổng mức đầu tư dự kiến 23 tỷ đồng.

Thành lập BCĐ cấp nước an toàn, chống thất thoát, thất thu nước sạch

Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình Quốc gia bảo đảm cấp nước an toàn và chống thất thoát, thất thu nước sạch giai đoạn 2016 - 2025. Bộ trưởng Bộ Xây dựng làm Trưởng Ban Chỉ đạo.

Phó Trưởng Ban thường trực là Thứ trưởng Bộ Xây dựng phụ trách lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật.

Các Ủy viên là Thứ trưởng các Bộ, ngành: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Y tế; Tài chính; Kế hoạch và Đầu tư; Tài nguyên và Môi trường; Khoa học và Công nghệ; Thông tin và Truyền thông và đại diện lãnh đạo Ngân hàng Phát triển Việt Nam.

Ban Chỉ đạo Chương trình chỉ đạo xây dựng và thông qua kế hoạch 5 năm, hàng năm triển khai thực hiện Chương trình Quốc gia bảo đảm cấp nước an toàn giai đoạn 2016 - 2025 và Chương trình quốc gia chống thất thoát, thất thu nước sạch đến năm 2025; chỉ đạo triển khai thực hiện 2 Chương trình theo kế hoạch đã được phê duyệt.

Bên cạnh đó, giúp Thủ tướng Chính phủ xây dựng và quyết định phương hướng, giải pháp để giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành về bảo đảm cấp nước an toàn và chống thất thoát nước sạch; huy động và phân bổ các nguồn lực triển khai thực hiện 2 Chương trình.

Đồng thời, giúp Thủ tướng Chính phủ điều phối các hoạt động liên ngành giữa các bộ, ngành cơ quan trung ương và địa phương trong việc tổ chức triển khai thực hiện Chương trình; chỉ đạo và phối hợp giải quyết những vấn đề liên ngành liên quan đến 2 Chương trình; đôn đốc, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc triển khai thực hiện bảo đảm cấp nước an toàn và chống thất thoát nước sạch tại các địa phương.

Ứng dụng công nghệ cao phát triển nuôi tôm tại Bạc Liêu

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển nuôi tôm Bạc Liêu" và bổ sung vào Quy hoạch tổng thể khu và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.

Về áp dụng cơ chế chính sách ưu đãi tín dụng đối với các hộ nông dân trực tiếp nuôi tôm, Thủ tướng Chính phủ đồng ý áp dụng cơ chế, chính sách theo quy định tại Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; văn bản số 1149/TTg-KTN ngày 8/8/2012; thông báo số 418/TB-VPCP ngày 21/12/2012.

Về đầu tư kè chống ngập dọc tuyến Quốc lộ 1A, đoạn qua tỉnh Bạc Liêu, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tỉnh rà soát, lựa chọn những đoạn, điểm xung yếu thường xuyên bị ngập lụt; đề xuất việc bố trí số vốn dư còn lại của dự án cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh (đoạn qua Tây Nguyên), trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 4/2017.

Thủ tướng Chính phủ đồng ý về chủ trương hỗ trợ vốn đầu tư tuyến đường ĐT.980 Gành Hào-Giá Rai-Phó Sinh-Cạnh Đền nối với đường Hồ Chí Minh. Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ Giao thông vận tải, Tài chính và UBND tỉnh Bạc Liêu tổng hợp vào danh mục dự án liên kết vùng đồng bằng Sông Cửu Long, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Về cải tạo nâng cấp tuyến đường Quản Lộ - Phụng Hiệp, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giao thông vận tải ưu tiên bố trí nguồn vốn duy tu bảo dưỡng đường bộ và các nguồn vốn khác để thực hiện bảo đảm hàng hóa lưu thông an toàn.

Bổ sung Quốc lộ 21B kéo dài vào quy hoạch GTVT đường bộ

Thủ tướng Chính phủ đồng ý bổ sung quy hoạch Quốc lộ 21B kéo dài vào Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Xây dựng, Tài nguyên và Môi trường trong quá trình đầu tư, xây dựng tuyến đường theo đúng quy định của pháp luật.

Điều chỉnh quy hoạch các KCN tỉnh Hà Nam

Thủ tướng Chính phủ đồng ý điều chỉnh quy hoạch phát triển các khu công nghiệp tỉnh Hà Nam đến năm 2020.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ đồng ý mở rộng khu công nghiệp Đồng Văn I với quy mô diện tích 371 ha (tăng thêm 162 ha) và khu công nghiệp Đồng Văn II với quy mô diện tích 339 ha (tăng thêm 18 ha).

Mở rộng khu công nghiệp Châu Sơn thêm 42,5 ha và sáp nhập cụm công nghiệp Tây Nam thành phố Phủ Lý (164,5 ha) thành khu công nghiệp Châu Sơn với quy mô diện tích 377 ha; điều chỉnh vị trí khu công nghiệp Liêm Phong và sáp nhập cụm công nghiệp Kiện Khê 1 (150 ha) và đổi tên thành khu công nghiệp Thanh Liêm với quy mô diện tích 293 ha.

Điều chỉnh quy hoạch khu công nghiệp Đồng Văn III với quy mô diện tích từ 300 ha lên thành 523 ha và điều chỉnh vị trí quy hoạch khu công nghiệp Liêm Cần - Thanh Bình và đổi tên thành khu công nghiệp Thái Hà với quy mô diện tích 200 ha.

Thủ tướng Chính phủ giao UBND tỉnh Hà Nam thực hiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) của tỉnh Hà Nam cho phù hợp theo quy định của pháp luật.

Đồng thời tổ chức thực hiện quy hoạch đã được duyệt; chỉ đạo các cơ quan liên quan xây dựng quy hoạch chi tiết; thực hiện thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp theo quy định của pháp luật đất đai; thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp và thành lập khu công nghiệp phù hợp với khả năng thu hút đầu tư trên cơ sở tuân thủ chặt chẽ các điều kiện và trình tự quy định tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008, Nghị định số 164/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ và pháp luật về đầu tư và các quy định pháp luật liên quan.

UBND tỉnh Hà Nam chỉ đạo các cơ quan liên quan của Tỉnh giám sát chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật về môi trường của chủ đầu tư, thực hiện lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường theo đúng quy định của Luật Bảo vệ môi trường; xây dựng phương án bồi thường và hỗ trợ các hộ dân bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp, đảm bảo phù hợp với khả năng thu hút đầu tư và trên cơ sở tuân thủ chặt chẽ các điều kiện và trình tự theo quy định.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Hà Nam đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng nhà ở công nhân và các công trình phúc lợi xã hội cho người lao động tại các khu công nghiệp để đảm bảo điều kiện sống, làm việc của người lao động.

Thủ tướng yêu cầu báo cáo vụ việc Khu du lịch sinh thái biển Tiên Sa

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản 3206/VPCP-KGVX truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Đà Nẵng báo cáo vụ việc liên quan đến Khu du lịch sinh thái biển Tiên Sa tại bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND thành phố Đà Nẵng báo cáo cụ thể về vụ việc Khu du lịch sinh thái Biển Tiên Sa tại bán đảo Sơn Trà; trong đó làm rõ việc thực hiện các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ và phát triển rừng, an ninh quốc phòng và các quy định pháp luật có liên quan, những biện pháp đã xử lý của thành phố. Báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 15/4/2017.

Thủ tướng Chính phủ cũng giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với UBND thành phố Đà Nẵng xem xét, xử lý các kiến nghị của Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng theo quy định; trường hợp vượt thẩm quyền báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Tạo cuộc cách mạng lúa gạo

Các Bộ, ngành, địa phương phải tiếp tục đổi mới, với tư duy kiến tạo, toàn diện, từ nền tảng thể chế, chính sách, pháp luật đến cấu trúc vận hành; tạo ra cuộc cách mạng về chất, một tầm nhìn mới, đi kèm với hoạch định chiến lược, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa để gạo Việt Nam đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng ở Châu Á và thế giới.

Chỉ đạo trên của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc được nêu trong Thông báo số 180/TB-VPCP.

Nước ta có tiềm năng lợi thế lớn về sản xuất lúa gạo, nhất là tại đồng bằng sông Cửu Long. Lúa gạo có vai trò không thể thay thế của nông nghiệp Việt Nam và cây lúa vẫn sẽ là sinh kế quan trọng của đa số nông dân. Phát triển sản xuất lúa gạo ở Việt Nam, đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục được khẳng định trong an ninh lương thực tầm quốc gia và quốc tế. Đây là một nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách vừa mang tính chiến lược lâu dài.

Để lúa gạo đem lại giá trị gia tăng tốt nhất dựa trên việc đáp ứng các yêu cầu tiêu chuẩn về dinh dưỡng và dược liệu. Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương phải tiếp tục đổi mới, với tư duy kiến tạo, toàn diện, từ nền tảng thể chế, chính sách, pháp luật đến cấu trúc vận hành, phương thức quản trị và công nghệ sản xuất lúa gạo; tạo ra cuộc cách mạng về chất, một tầm nhìn mới, đi kèm với hoạch định chiến lược, phù hợp với xu thế toàn cầu hóa để gạo Việt Nam đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng ở Châu Á và thế giới, từ đó đem lại giá trị gia tăng cao hơn cho người trồng lúa và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu lúa gạo.

Thúc đẩy mô hình cánh đồng lớn

Trong thời gian tới, các Bộ, ngành, địa phương, hiệp hội ngành hàng và các doanh nghiệp cần khẩn trương điều chỉnh quy mô sản xuất lúa theo hướng mở rộng hạn điền phù hợp, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho người trồng lúa; thúc đẩy phát triển mô hình cánh đồng lớn, sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn. Hỗ trợ liên kết sản xuất hợp tác với các doanh nghiệp, phát triển mô hình hợp tác xã kiểu mới; gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ lúa gạo theo chuỗi giá trị; từng bước giảm số lao động nông nghiệp, chuyển sang ngành nghề khác.

Đồng thời, rà soát quy hoạch sản xuất, hình thành các vùng chuyên canh lúa theo hướng sử dụng linh hoạt đất trồng lúa phù hợp với mục tiêu an ninh lương thực, tình hình thị trường và biến đổi khí hậu; cho phép chuyển đổi linh hoạt những vùng, vụ trồng lúa kém hiệu quả, vùng bị nhiễm mặn sang nuôi tôm, trồng các loại cây khác hoặc kết hợp nuôi trồng thủy sản để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn; cần tính toán nhu cầu trong nước, mức tăng trưởng hàng năm về nhu cầu của thế giới, khả năng vươn lên tự sản xuất của một số nước và khả năng vươn lên của gạo Việt Nam để có kế hoạch điều chỉnh sản xuất cho phù hợp với từng giai đoạn.

Xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam

Thủ tướng cũng yêu cầu phải đổi mới quản lý khoa học công nghệ trong nông nghiệp, có cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống lúa năng suất, chất lượng cao, phù hợp với yêu cầu của thị trường; nghiên cứu sản xuất lúa gạo hướng tới đa mục tiêu, không những đảm bảo an ninh lương thực mà còn phải đẩy mạnh xuất khẩu, bảo đảm an toàn thực phẩm, góp phần nâng cao sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Nâng cao hiệu quả sản xuất lúa gạo thông qua áp dụng cơ giới hóa, sử dụng vật tư nông nghiệp do Việt Nam sản xuất; ứng dụng công nghệ tiên tiến, công nghệ cao vào sản xuất, chế biến sâu, bảo quản lúa gạo, giảm tổn thất sau thu hoạch; tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ chất lượng vật tư nông nghiệp, khắc phục tình trạng sử dụng bất hợp lý phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất.

Chú trọng xây dựng, nâng cấp hệ thống thủy lợi hiện đại phục vụ tưới tiêu, các công trình ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các công trình hạ tầng khác, hướng tới áp dụng cơ chế thị trường về giá nước trong sản xuất để tiết kiệm, sử dụng hiệu quả hơn.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, duy trì phát triển các thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng các thị trường xuất khẩu gạo mới, tiềm năng; xây dựng hệ thống thông tin thị trường, kịp thời giải quyết các rào cản kỹ thuật với các nước liên quan; xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam và thương hiệu của doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh cả trên thị trường trong nước và thế giới; cải cách thủ tục hành chính, loại bỏ các "nút thắt" về thể chế, tạo "sân chơi" bình đẳng giữa các doanh nghiệp xuất khẩu gạo.

Phát triển đồng bộ các phương thức vận tải

Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải. Tại văn bản này, Thủ tướng yêu cầu phát triển đồng bộ các phương thức vận tải, trong đó tập trung phát triển vận tải thủy nội địa, các tuyến vận tải thủy ven biển; đẩy mạnh vận tải đa phương thức.

Bộ Giao thông vận tải cần tập trung phát huy truyền thống "đi trước mở đường", tính sáng tạo của Ngành để có các giải pháp phát triển giao thông vận tải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; tiếp tục tập trung thực hiện Chiến lược phát triển giao thông vận tải, Nghị quyết số 13-NQ/TW.

Đồng thời huy động chủ yếu nguồn lực từ xã hội để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải. Nhà nước tạo cơ chế, chính sách và một phần vốn để hỗ trợ (dựa trên quan điểm "vốn mồi") tăng tính khả thi của dự án để khuyến khích các nhà đầu tư (kể cả các công trình giảm ùn tắc và tai nạn giao thông); sắp xếp thứ tự ưu tiên để đầu tư có hiệu quả; mọi cấp, mọi ngành tìm kiếm nguồn vốn cho đầu tư phát triển, kể cả nguồn thu từ cổ phần hóa, cho thuê, chuyển nhượng hạ tầng...; tập trung nghiên cứu đầu tư các công trình hưởng lợi cho nhiều người, như các tuyến Quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh, tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam, đường ven biển và các phương thức vận tải khác như đường sắt, đường thủy nội địa.

Bên cạnh đó áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong phát triển giao thông vận tải trong tất cả các lĩnh vực như điều hành bay, thu giá dịch vụ sử dụng đường bộ theo phương thức điện tử tự động không dừng, thi công cầu lớn, hầm.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong phát triển giao thông vận tải, phát triển hạ tầng giao thông vận tải trong liên kết vùng, trước hết là với các nước láng giềng như Lào, Cam-pu-chia, Trung Quốc và các quốc gia có tuyến giao lưu hàng hải.

Bảo đảm chất lượng công trình, chống thất thoát, lãng phí

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Giao thông vận tải chú trọng công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đi liền với chất lượng công trình, chống thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong tất cả các lĩnh vực: hàng không, đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, hàng hải.

Đẩy mạnh phát triển giao thông nông thôn, có cơ chế đầu tư phù hợp như hỗ trợ xi măng và huy động nhân công từ nhân dân...; phát triển giao thông đường thủy nội địa, tạo điều kiện phát triển logistics.

Nâng cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu trong quyết định chủ trương đầu tư phát triển giao thông vận tải; rà soát, tháo gỡ các rào cản trong thể chế; bãi bỏ, sửa đổi các chính sách làm cản trở phát triển, nhất là chính sách về đầu tư PPP để thu hút nguồn vốn đầu tư từ khu vực tư nhân.

Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Giao thông vận tải chủ động, chủ trì xây dựng cơ chế đặc thù trong phát triển giao thông vận tải, bao gồm cả cơ chế đầu tư PPP và các cơ chế, chính sách khác. Các cơ chế dựa trên tinh thần đổi mới, đa dạng; vai trò chủ trì cần chủ động trong phối hợp với các bộ, ngành liên quan; tập trung huy động mọi nguồn lực, chú trọng nguồn ODA để phục vụ phát triển giao thông vận tải.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Giao thông vận tải, Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia và Bộ Công an khẩn trương xử lý, tháo gỡ các bất cập trong phân bổ kinh phí xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn giao thông. Bộ Giao thông vận tải phối hợp với các địa phương liên quan giải quyết triệt để tình trạng khai thác cát trái phép trên các dòng sông, xử lý đường ngang dân sinh và phân luồng các tuyến xe khách.

Yêu cầu Hà Nội quy hoạch thêm công viên, bãi để xe

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng yêu cầu UBND TP Hà Nội rà soát tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội để đề xuất, điều chỉnh phù hợp; khi quy hoạch, xây dựng các khu đô thị, khu công nghiệp cần lưu ý bố trí tăng thêm công viên, các hồ để phục vụ người dân và tăng khả năng điều hòa nước, hạn chế ngập úng.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu UBND TP Hà Nội rà soát lại tất cả các quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, trong đó lưu ý quy hoạch giao thông vận tải theo hướng đồng bộ, thống nhất với Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đã được phê duyệt, chú ý quy hoạch các không gian ngầm; tập trung đầu tư xây dựng các tuyến giao thông kết nối khu vực nội đô với khu vực ngoại thành và các đô thị vệ tinh; chú trọng đầu tư xây dựng các nút giao thông kết nối các bến xe, bãi để xe; xây dựng kế hoạch đầu tư cụ thể, xây dựng cơ chế huy động các nguồn lực đầu tư, nhất là nguồn lực xã hội hóa; kiểm soát chặt chẽ quá trình đầu tư xây dựng, bảo đảm hiệu quả đầu tư xây dựng.

Cùng với đó, UBND TP Hà Nội phối hợp chặt chẽ với Bộ Giao thông vận tải trong quản lý, vận hành hệ thống đường sắt Quốc gia, đường sắt đô thị; đẩy nhanh tiến độ thi công 2 tuyến đường sắt đô thị, đồng thời nghiên cứu phương án kết nối với đường sắt Quốc gia; chú ý phát triển đường thủy nội địa để giảm áp lực đối với đường bộ và đường sắt.

Đồng thời, rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cấp nước theo hướng phát triển các nhà máy nước mặt để dần thay thế nguồn nước ngầm; có phương án nâng cấp, mở rộng các nhà máy nước để cấp đủ nước sạch với giá cả hợp lý trên toàn Thành phố; đầu tư đồng bộ mạng lưới đường ống dẫn nước; lựa chọn công nghệ tiên tiến, chất lượng, hiệu quả và tiết kiệm trong sử dụng đất; triển khai các giải pháp chống thất thoát nước phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố. Trong quá trình rà soát, bổ sung quy hoạch thoát nước, nghiên cứu phương án thoát nước thải bền vững, tập trung các dự án chống ngập úng.

Lựa chọn công nghệ xử lý chất thải rắn phù hợp với điều kiện Việt Nam, bảo đảm hiệu quả, bảo vệ môi trường; xây dựng cơ chế huy động đầu tư để thu hút nguồn vốn xã hội đầu tư xây dựng, quản lý vận hành từ thu gom, vận chuyển đến xử lý chất thải rắn và đầu tư xây dựng, quản lý vận hành nhà tang lễ, nghĩa trang.

Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp

Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang mục đích khác, xử lý kiên quyết các vi phạm pháp luật về đất đai. Chính quyền địa phương chỉ đạo, giám sát thực hiện đầy đủ việc trồng rừng thay thế đối với các dự án có chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác theo quy định.

Đó là nội dung kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng tại Hội nghị “Tổng kết Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2016 gắn với tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp; triển khai Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020”.

Kết luận nêu rõ, từ nay đến năm 2030 phải tổ chức thực hiện tốt các nhiệm vụ: Bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên; phát triển và nâng cao năng suất chất lượng rừng; nâng cao giá trị và sức cạnh tranh, trong đó tập trung đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo vệ và phát triển rừng; thực hiện nghiêm Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12/1/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng và Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020 gắn với tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp.

Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; giám sát thực hiện quy hoạch, kế hoạch. Hoàn thành việc rà soát, đánh giá quy hoạch tổng thể rừng cấp quốc gia, xác định rõ lâm phận ổn định; kịp thời điều chỉnh những bất hợp lý giữa quy hoạch rừng trên bản đồ và trên thực địa. Gắn quy hoạch rừng với tái cấu trúc ngành lâm nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Mỗi vùng, địa phương phải xác định sản phẩm chủ lực, tập trung đầu tư phát triển; gắn tái cơ cấu lâm nghiệp với nhiệm vụ ứng phó biến đổi khí hậu và phát triển du lịch sinh thái, bảo tồn văn hóa dân tộc; gắn tái cấu trúc lại lâm nghiệp với bố trí lại dân cư.

Đẩy mạnh giao, cho thuê rừng cho tổ chức, cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân; đảm bảo tất cả diện tích rừng có chủ quản lý cụ thể; tạo điều kiện tích tụ đất lâm nghiệp tạo các vùng nguyên liệu thông qua liên kết, liên doanh giữa người trồng rừng và doanh nghiệp chế biến. Tổ chức sản xuất lâm nghiệp theo chuỗi; khuyến khích hình thành các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn làm trung tâm liên kết chuỗi sản xuất đối với mỗi sản phẩm chủ lực.

Tiếp tục rà soát, nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi để hỗ trợ phát triển, đặc biệt là ban hành, thực thi các sáng kiến tài chính mới tạo nguồn thu, bồi hoàn giá trị của rừng.

Phát triển thị trường tiêu thụ lâm sản, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thương mại và chế biến lâm sản nội địa. Đẩy mạnh công tác quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ gỗ rừng trồng theo tiêu chuẩn của Việt Nam, phù hợp với quy định, thông lệ của quốc tế. Chủ động hội nhập, thực hiện các cam kết quốc tế.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng, triển khai Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2016-2020; xác định sản phẩm lâm nghiệp chủ lực của địa phương; rà soát, xây dựng và bố trí đủ vốn ngân sách nhà nước cho các dự án bảo vệ và phát triển rừng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, để hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch năm 2017.

Bên cạnh đó, hoàn thành công tác trồng rừng thay thế trong năm 2017. Đối với các dự án đã nộp tiền trồng rừng thay thế, không để tồn Quỹ; trường hợp không còn đất thì chuyển tiền về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam để bố trí trồng rừng thay thế tại các địa phương khác./.