• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Bài 2: Giữ nhịp tăng trưởng cho năm 2026: Khuyến nghị từ chuyên gia

(Chinhphu.vn) - Bước sang năm 2026, nền kinh tế Việt Nam đứng trước một bối cảnh khác biệt đáng kể so với năm 2025. Tăng trưởng của năm trước đạt mức cao, tạo nền so sánh lớn; trong khi môi trường quốc tế tiếp tục biến động. Trong bối cảnh đó, kỳ vọng tăng trưởng cao hơn đặt ra áp lực lớn đối với điều hành vĩ mô, cải cách thể chế và huy động nguồn lực.

02/01/2026 14:02
Bài 2: Giữ nhịp tăng trưởng cho năm 2026: Khuyến nghị từ chuyên gia- Ảnh 1.

TS. Hoàng Văn Cường: Mục tiêu tăng trưởng 10% là rất thách thức - Ảnh: VGP/Vũ Phong

Từ thực tiễn năm 2025, nhiều chuyên gia cho rằng, thách thức của năm 2026 không chỉ nằm ở việc duy trì tốc độ tăng trưởng, mà quan trọng hơn là cách thức tạo dựng các động lực tăng trưởng bền vững, nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố niềm tin của doanh nghiệp, người dân và nhà đầu tư.

TS. Hoàng Văn Cường cho rằng mục tiêu tăng trưởng 10% là rất thách thức. Năm 2025 đạt mức tăng trưởng khoảng 8%, một nền tăng trưởng cao, khiến dư địa cho năm sau trở nên hạn hẹp. Đặc biệt, tăng trưởng năm 2025 dựa nhiều vào xuất khẩu với mức tăng khoảng 16%, trong khi khả năng duy trì đà tăng này trong năm 2026 là không lớn. Nói cách khác, động lực xuất khẩu đã được khai thác mạnh trong năm 2025, khiến dư địa cho năm tiếp theo suy giảm.

Bên cạnh đó, các động lực tăng trưởng mới chưa thể hiện rõ nét và chưa đóng góp thực sự rõ ràng vào tăng trưởng. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 là một thách thức rất lớn, dù trong khó khăn vẫn cần giữ quyết tâm cao.

Về giải pháp, GS.TS Hoàng Văn Cường cho rằng cải cách thể chế vẫn là nhiệm vụ then chốt, nhưng cần đi vào chiều sâu. Việc cắt giảm thủ tục hành chính là cần thiết song chưa đủ để tạo ra thay đổi căn bản. Quan trọng hơn là chuyển mạnh phương thức quản lý từ tiền kiểm sang hậu kiểm, ngoại trừ một số lĩnh vực đặc thù như an ninh - quốc phòng và sức khỏe cộng đồng. Với các ngành nghề kinh doanh còn lại, doanh nghiệp chỉ cần đăng ký, đáp ứng điều kiện và triển khai hoạt động, Nhà nước thực hiện giám sát, kiểm tra trong quá trình vận hành.

Một hướng đi quan trọng khác là đẩy mạnh hợp tác công - tư (PPP), không chỉ trong đầu tư hạ tầng mà cả trong lĩnh vực quản lý và nghiên cứu - phát triển. Ông dẫn ví dụ việc xây dựng mô hình trung tâm giao dịch bất động sản do Nhà nước quản lý, thay vì Nhà nước trực tiếp tổ chức và vận hành bộ máy, có thể áp dụng mô hình hợp tác công - tư với các tổ chức, doanh nghiệp đã có năng lực, cơ sở vật chất và kinh nghiệm dịch vụ, dưới sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước. Cách làm này vừa nâng cao hiệu quả quản lý, vừa tránh phình to bộ máy hành chính.

Ngoài ra, hợp tác công - tư trong nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao công nghệ cũng cần được thúc đẩy mạnh mẽ. Theo đó, các cơ sở nghiên cứu phải gắn chặt với doanh nghiệp có nhu cầu và khả năng tiếp nhận công nghệ, hình thành cơ chế đồng hành từ nghiên cứu đến ứng dụng. Điều này không chỉ giúp tháo gỡ điểm nghẽn trong giải ngân vốn khoa học - công nghệ, mà còn bảo đảm nghiên cứu tạo ra sản phẩm, giá trị thực chất cho phát triển.

Bài 2: Giữ nhịp tăng trưởng cho năm 2026: Khuyến nghị từ chuyên gia- Ảnh 2.

Về đột phá trong năm 2026, TS. Cấn Văn Lực cho rằng cần tập trung mạnh vào nâng cao năng suất lao động - Ảnh: VGP/Vũ Phong

Mô hình phát triển và yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng

TS. Cấn Văn Lực đề xuất 3 nhóm vấn đề trọng tâm. Trước hết là đổi mới mô hình phát triển, theo hướng bao trùm và bền vững hơn, không chỉ dựa vào tăng trưởng về lượng mà phải hài hòa giữa kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường. Ông đặc biệt nhấn mạnh mô hình 3I do Ngân hàng Thế giới khuyến nghị, gồm đầu tư, tiếp nhận và hấp thụ công nghệ, đổi mới sáng tạo và cho rằng Việt Nam nên triển khai đồng thời cả 3 trụ cột, thay vì tuần tự.

Nhóm vấn đề thứ hai liên quan đến các yếu tố đóng góp cho tăng trưởng. Dẫn kinh nghiệm quốc tế, TS. Cấn Văn Lực cho biết ở các nền kinh tế tăng trưởng cao, vốn thường đóng góp khoảng 40-50%, lao động 6-10%, còn năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), bao gồm khoa học công nghệ, kỹ năng và cải cách, chiếm 35-50%. Với Việt Nam nhiệm kỳ qua, vốn đóng góp khoảng 50%, lao động 6-8%, TFP 42-44%. Mục tiêu nâng tỉ trọng TFP lên trên 50% trong nhiệm kỳ tới là rất tham vọng và đầy thách thức, nhất là khi kinh tế toàn cầu đang có xu hướng chậm lại, trong khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao hơn, gấp khoảng 1,8 lần so với nhiệm kỳ trước.

Từ đó, TS. Cấn Văn Lực đề xuất một loạt giải pháp. Trước hết là triển khai hiệu quả các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị và các luật mới được Quốc hội ban hành, đặc biệt là khoảng 7-8 nghị quyết mang tính nền tảng. Thứ hai, cần cải thiện thực chất môi trường đầu tư kinh doanh, đáp ứng yêu cầu cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục theo chỉ đạo của Thủ tướng, qua đó củng cố niềm tin cho doanh nghiệp và nhà đầu tư. Thứ ba là tháo gỡ kịp thời các nút thắt cho tăng trưởng và an sinh xã hội, nhất là những vướng mắc phát sinh trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cần được chỉ đạo quyết liệt để xử lý ngay từ quý I/2026. 

Đặc biệt, ông lưu ý đến khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân, vốn đóng góp tỷ trọng lớn cho tăng trưởng nhưng đang gặp nhiều khó khăn. Các kiến nghị trọng tâm gồm: Hướng dẫn rõ ràng việc áp dụng thuế kê khai; không hồi tố chính sách; tăng cường hỗ trợ kỹ thuật, phần mềm; đẩy mạnh truyền thông để giảm tâm lý lo ngại. Khi niềm tin bị ảnh hưởng, người dân và doanh nghiệp sẽ dè dặt trong kinh doanh và tiêu dùng, tác động ngược trở lại nền kinh tế.

Về đột phá trong năm 2026, TS. Cấn Văn Lực cho rằng cần tập trung mạnh vào nâng cao năng suất lao động. Đồng thời, phải phát huy các động lực tăng trưởng mới, trong đó có việc đo lường, lượng hóa chính xác kinh tế số, kinh tế AI và kinh tế dữ liệu, lĩnh vực hiện còn nhiều tranh luận.

Chuyên gia này nhấn mạnh, dù đặt mục tiêu tăng trưởng cao đến đâu cũng không được lơ là ổn định kinh tế vĩ mô. Muốn tăng trưởng 9-10%, cần tính toán rất cụ thể nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội và phương thức huy động. Theo phân tích của TS. Cấn Văn Lực, cơ cấu vốn hiện nay vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng. Vì vậy, trong nhiệm kỳ tới, cần đa dạng hóa nguồn vốn, đặc biệt là tăng mạnh vai trò của thị trường chứng khoán, qua đó giảm dần sự lệ thuộc vào tín dụng, bảo đảm tăng trưởng bền vững và an toàn hơn cho nền kinh tế.

Bài 2: Giữ nhịp tăng trưởng cho năm 2026: Khuyến nghị từ chuyên gia- Ảnh 3.

TS. Lê Xuân Nghĩa: Trong 3 yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế là lao động, đầu tư và khoa học công nghệ thì đầu tư vẫn là yếu tố quan trọng nhất - Ảnh: VGP/Vũ Phong

Đầu tư: Yếu tố quan trọng nhất

Phân tích sâu hơn về động lực tăng trưởng, TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng trong 3 yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế là lao động, đầu tư và khoa học công nghệ thì đầu tư vẫn là yếu tố quan trọng nhất đối với Việt Nam hiện nay. Trong khi đó, đóng góp của khoa học công nghệ vào tăng trưởng còn hạn chế, nội lực của nền kinh tế vẫn chưa đủ mạnh.

TS. Lê Xuân Nghĩa đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đầu tư nước ngoài, nhất là trong các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn như năng lượng. Theo ông, với quy mô đầu tư năng lượng rất lớn, nếu chỉ trông chờ vào nguồn lực trong nước thì sẽ khó đáp ứng và việc huy động vốn đầu tư nước ngoài là tất yếu.

TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tỷ lệ đầu tư toàn xã hội cần cao hơn đáng kể so với mức 33-33,7% GDP như trong báo cáo của Bộ Tài chính. Năm 2025, tăng trưởng GDP đạt khoảng 8% khi đầu tư đã chiếm tới 32% GDP, cho thấy dư địa cho mục tiêu cao hơn là rất hạn chế nếu không có những giải pháp đột phá.

TS. Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh ba hướng cần được đặc biệt thúc đẩy. Thứ nhất là mở rộng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong bối cảnh nội lực của khu vực doanh nghiệp trong nước còn yếu, FDI vẫn là nguồn lực quan trọng để tạo tăng trưởng. Việc FDI tăng gần 9% trong năm 2025 là tín hiệu tích cực và cần tiếp tục được phát huy trong nhiệm kỳ tới.

Thứ hai là đầu tư cho năng lượng, đặc biệt là huy động nguồn lực nước ngoài. Theo ông, nếu không có những cơ chế đủ thông thoáng, nguy cơ thiếu hụt năng lượng trong thập kỷ tới là rất lớn, không chỉ với Việt Nam mà trên phạm vi toàn cầu. Với nhu cầu đầu tư năng lượng lên tới hàng chục tỷ USD mỗi năm, khu vực tư nhân trong nước khó có thể đáp ứng nếu không có sự tham gia mạnh mẽ của nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ ba là mở rộng các khu thương mại tự do như một công cụ thu hút FDI và thúc đẩy nội địa hóa công nghệ thông qua chuyển giao khoa học - công nghệ từ nước ngoài. Đồng thời, ông cho rằng cần xem xét cho phép doanh nghiệp Việt Nam vay vốn nước ngoài với cơ chế phù hợp, bởi việc hạn chế lâu nay đang khiến nền kinh tế bỏ lỡ một nguồn vốn quan trọng trong bối cảnh vốn trong nước khan hiếm.

TS. Lê Xuân Nghĩa cũng bày tỏ quan điểm rằng việc đưa lãi suất tiền gửi bằng USD về mức 0% để chống đô la hóa là một biện pháp quá cực đoan, cần được đánh giá lại. Bên cạnh đó, ông lưu ý mô hình chính quyền hai cấp đang tạo ra những ách tắc nhất định, khi khoảng 65% dự án đầu tư công nằm ở cấp huyện, trong khi cấp này đã giải thể, khiến nhiều dự án không thể giải ngân.

Thể chế và năng lực thực thi: Điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng bền vững

Từ bài học năm 2025, TS. Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng thách thức lớn của nhiệm kỳ tới không chỉ nằm ở việc ban hành chính sách, mà ở năng lực thực thi. Theo ông, để cải thiện hiệu quả điều hành, cần tách bạch rõ hành pháp chính trị với hành chính công vụ. Hành pháp chính trị tập trung vào hoạch định chính sách, chiến lược và giám sát, trong khi bộ máy hành chính công vụ cần được xây dựng theo hướng chuyên nghiệp, có năng lực thực thi cao.

Ông nhấn mạnh rằng hiện nay, năng lực của đội ngũ ở cấp cơ sở còn nhiều hạn chế, trong khi đây lại là nơi trực tiếp cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp. Nếu năng lực chuyên môn không bảo đảm, công việc sẽ ách tắc, kéo theo khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và ảnh hưởng tiêu cực đến cả phía cầu của nền kinh tế.

Bài 2: Giữ nhịp tăng trưởng cho năm 2026: Khuyến nghị từ chuyên gia- Ảnh 4.

TS. Võ Trí Thành: Cần thay đổi tư duy trong ứng phó với thiên tai, từ cách tiếp cận "phục hồi sau thiên tai" sang phòng ngừa và quản trị rủi ro - Ảnh: VGP/Vũ Phong

Kích cầu tiêu dùng nội địa và củng cố niềm tin thị trường

Một khuyến nghị quan trọng khác được nhiều chuyên gia nhấn mạnh là cần chú trọng hơn đến kích cầu tiêu dùng nội địa. TS. Trần Đình Thiên cho rằng sức mua yếu phản ánh sức lực của nền kinh tế còn hạn chế, trong khi tiêu dùng là một trong ba động lực tăng trưởng quan trọng nhất.

Theo ông, nếu không có giải pháp đủ mạnh để kích cầu tiêu dùng trong nước, doanh nghiệp nội địa, vốn tập trung chủ yếu vào thị trường trong nước, sẽ tiếp tục gặp khó khăn, từ đó ảnh hưởng đến khả năng phục hồi và mở rộng sản xuất.

Theo TS. Võ Trí Thành, tăng trưởng 8% của năm 2025 vẫn phụ thuộc khá lớn vào tín dụng. Điều này cho thấy bài toán tái cấu trúc nền kinh tế, vốn được đặt ra suốt 5 năm qua, chưa đạt được kết quả như kỳ vọng. Bản chất của tái cấu trúc là phân bổ lại nguồn lực một cách hiệu quả hơn, nhưng từ thị trường vốn, thị trường lao động đến công nghệ, Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và đi sau một số nước trong khu vực.

Bên cạnh đó, các mô hình kinh tế mới như đổi mới sáng tạo, kinh tế ban đêm, kinh tế sáng tạo, kinh tế văn hóa vẫn đang trong giai đoạn khởi đầu, thiếu đồng bộ cả về thể chế, cách tiếp cận và mức độ sẵn sàng chấp nhận rủi ro.

Một bài học quan trọng khác là xây dựng niềm tin để thu hút và khơi thông nguồn lực. Dù tỉ lệ tiết kiệm của Việt Nam ở mức cao (36-37% GDP), tiêu dùng trong nước vẫn suy giảm, cho thấy tâm lý thận trọng ngay cả trong tầng lớp trung lưu. Việc củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp vì vậy có ý nghĩa quyết định.

Cuối cùng, TS. Võ Trí Thành cho rằng cần thay đổi tư duy trong ứng phó với thiên tai, từ cách tiếp cận "phục hồi sau thiên tai" sang phòng ngừa và quản trị rủi ro, coi đây là một thách thức nội tại gắn chặt với quy hoạch, đầu tư và quản trị phát triển bền vững.

Từ góc độ đối ngoại, ông Phạm Quang Vinh cho rằng môi trường quốc tế trong thời gian tới nhìn chung vẫn có những thuận lợi cho Việt Nam, nhờ vị trí và vai trò ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên, thách thức chung của thế giới và thách thức riêng của Việt Nam sẽ gia tăng, đặc biệt trong các vấn đề liên quan đến thuế quan, thương mại và chuỗi cung ứng.

Ông lưu ý rằng trong khi Việt Nam đang có lợi thế nhất định, những thay đổi về chính sách thuế, trong đó có thuế trung chuyển, có thể làm thu hẹp lợi thế này. Do đó, việc theo dõi sát diễn biến quốc tế và có phản ứng chính sách kịp thời là hết sức quan trọng.

Ngoài ra, các vấn đề liên quan đến năng lượng, công nghệ và hợp tác quốc tế cần được rà soát kỹ lưỡng, nhất là trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng và các cam kết quốc tế có sự điều chỉnh theo thời gian.

Anh Thơ