• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Bài cuối: Chuyển đổi số và tự chủ chiến lược trong công nghiệp văn hoá Việt Nam

(Chinhphu.vn) - Chuyển đổi số sẽ tạo ra nguồn dữ liệu quý báu và những tính năng ưu việt từ công nghệ số để phát triển các ngành công nghiệp văn hoá. Công cuộc chuyển đổi số này cần được khai thác hiệu quả để doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá nội địa vững chân tại thị trường Việt Nam cũng như vươn xa ra thế giới. Trong đó, kinh tế nền tảng là một thành tố quan trọng.

20/04/2026 15:45
Bài cuối: Chuyển đổi số và tự chủ chiến lược trong công nghiệp văn hoá Việt Nam- Ảnh 1.

Luật sư Nguyễn Hưng Quang

Những viên gạch đầu tiên

Nhiều bạn bè quốc tế quan tâm tới văn hoá Việt Nam nhưng chưa dễ tiếp cận với các sản phẩm của công nghiệp văn hoá nước ta. Theo các chuyên gia đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về công nghiệp văn hoá Hàn Quốc và những quốc gia khác, để phát triển công nghiệp văn hoá Việt Nam thì đầu tiên phải dựa trên nội dung. Tiếp đến, cần có hoạt động chuyển đổi số để đạt tới bước tiến vượt bậc, cuối cùng dựa trên kinh tế nền tảng để đưa sản phẩm đến với người thưởng thức trong và ngoài nước.

Tới thời điểm này, những viên gạch đầu tiên để tạo dựng một nền móng phù hợp cho nền công nghiệp văn hoá của Việt Nam đã được đặt xuống. Mới đây nhất, Chính phủ đã có Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (Đề án 611), trong đó, nêu rõ quan điểm, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hoá là đột phá quan trọng hàng đầu để mở rộng không gian sáng tạo, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất…

Đề án cũng đặt ra mục tiêu, đến năm 2030, phấn đấu 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung; 100% các loại hình di sản văn hóa đã số hóa được chuẩn hóa dữ liệu theo khung chuẩn quốc gia và chia sẻ theo quy định; 80% di sản văn hóa số công có mã định danh số để xác lập quyền sở hữu, kiểm soát khai thác…; ít nhất 70% bảo tàng, thư viện, nhà hát, đoàn nghệ thuật, liên đoàn thể thao, khu du lịch, cơ quan báo chí và doanh nghiệp nội dung số có dữ liệu chia sẻ, kết nối với hạ tầng dữ liệu dùng chung…

Luật sư (LS) Nguyễn Hưng Quang, chuyên gia tư vấn xây dựng các quy định về công nghiệp văn hoá trong Luật Thủ đô 2024, nhận định, Đề án 611 thể hiện quyết tâm rất lớn của Chính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt (Nghị quyết 80), cũng như thực thi Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 (Chiến lược 2486).

Để đạt được những mục tiêu đặt ra trong gần 4 năm tới (đến năm 2030), khối lượng công việc có thể nói là rất lớn, đòi hỏi sự tập trung nguồn lực tài chính, thể chế và con người.

“Nếu như chúng ta đạt được các chỉ tiêu này hoặc ít nhất là được 2/3 của các chỉ tiêu này thì cũng thúc đẩy công nghiệp văn hoá tại Việt Nam phát triển đáng kể. Ví dụ như khi 100% các loại hình di sản văn hóa được số hóa và chuẩn hóa theo khung chuẩn quốc gia, tài nguyên văn hóa sẽ được mở rộng chia sẻ hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội.

Những người làm công tác sáng tạo, sản xuất các sản phẩm văn hoá, như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, phần mềm trò chơi, du lịch văn hoá… có thể tiếp cận kho tư liệu khổng lồ về lịch sử, nghệ thuật dân gian, trang phục, âm nhạc truyền thống — những di sản mà hiện đang bị lưu trữ phân tán, khó tiếp cận, khai thác”, LS Nguyễn Hưng Quang phân tích.

Giải bài toán “kinh tế nền tảng”

Về phát triển kinh tế nền tảng, đặc biệt là các nền tảng số dùng chung cung cấp tài nguyên văn hoá trên nền tảng số và tạo thị trường cho các sản phẩm văn hoá, theo LS Nguyễn Hưng Quang, nổi trội nhất là hoạt động kinh tế của trò chơi trực tuyến (game online). Doanh thu trong lĩnh vực này đã đạt đến mốc hàng tỷ đô la Mỹ nhưng có lẽ do mục tiêu xuất khẩu, các game của Việt Nam sản xuất vẫn còn ít mang bản sắc văn hoá Việt Nam.

Thứ hai, dù các dịch vụ truyền tải dữ liệu trực tuyến (OTT) đang phát triển mạnh mẽ, như công nghiệp điện ảnh, truyền hình, quảng cáo thì có VTVGo, VieOn, FPT Play, Netflix, Youtube…, công nghiệp âm nhạc có Spotify, Apple Music, Tidal, ZingMP3, Youtube Music, nhiếp ảnh có Getty Image… nhưng các doanh nghiệp nền tảng nước ngoài đang chiếm ưu thế về người dùng tại Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực phim ảnh và âm nhạc. Các nền tảng của doanh nghiệp Việt chưa cạnh tranh được về quy mô lẫn thuật toán.

Vị chuyên gia chỉ rõ những điểm yếu đang tồn tại. Một là các nền tảng bị phân tán, thiếu liên thông, kết nối. Mỗi đơn vị văn hoá (như bảo tàng, trung tâm nghiên cứu…) nếu xây dựng nền tảng số về văn hoá của đơn vị mình thì cũng không có kết nối hoặc không thể kết nối với nhiều nền tảng khác. Hai là, các loại hình nghệ thuật truyền thống như tuồng, chèo, cải lương, múa rối, ca trù, quan họ hầu như chưa có nền tảng số nào đáng kể, trong khi các loại nghệ thuật này là kho tàng bản sắc Việt Nam.

“Đề án 611 sẽ giúp hoá giải hai vướng mắc nêu trên nên vấn đề còn lại cũng là điểm yếu có tính cốt lõi trong phát triển kinh tế nền tảng là quyền tác giả trong môi trường số, gồm chất lượng của quy định pháp luật và năng lực thực thi của cơ quan có thẩm quyền và các cơ chế hỗ trợ kỹ thuật trong việc thực thi. Tồn tại này khiến cho các nền tảng của Việt Nam gặp khó khăn trong hoạt động tổ chức kinh doanh, bảo vệ quyền tài sản của mình trên môi trường số.

Trong khi đó, các nền tảng nước ngoài có được sự bảo trợ về thể chế (pháp luật và hệ thống thực thi) và có năng lực tài chính để thực hiện tốt công tác bảo vệ quyền tác giả để có thể khai thác hiệu quả quyền tài sản trí tuệ trong lĩnh vực văn hoá trên môi trường số. Nghị quyết 80 đã đặt nhiệm vụ phát triển nền tảng phân phối nội dung số và công cụ bảo vệ bản quyền, đây là tiền đề để hoá giải điểm yếu còn lại này”, LS Nguyễn Hưng Quang chỉ rõ.

Để có các tập đoàn công nghiệp văn hoá

Nhiều chuyên gia cho rằng, làm chủ nền tảng phân phối các sản phẩm văn hoá là tự chủ trong định hướng nội dung và thị trường số của công nghiệp văn hoá. Còn theo LS Nguyễn Hưng Quang, việc không làm chủ được về nền tảng sẽ ảnh hưởng tới hoạt động phân phối sản phẩm văn hoá, những người sáng tạo văn hoá sẽ gặp khó khăn khi thương mại hoá sản phẩm của mình, doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ bị đội thêm kinh phí khi phải quảng bá và “bán” sản phẩm thông qua các nền tảng nước ngoài…

Để giải quyết vấn đề này, vị chuyên gia cho rằng, các chính sách của Nhà nước nên tập trung vào một số vấn đề như:

(1) Xác định việc xây dựng nền tảng dữ liệu và hạ tầng số không chỉ là công cụ để quản lý tài sản, di sản văn hoá mà là cơ sở hạ tầng kinh tế cho toàn bộ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Các cơ sở dữ liệu, nền tảng dùng chung nên mở và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân, nghệ sĩ sáng tác… được sử dụng, khai thác;

(2) Cải cách thủ tục hành chính và điều kiện đầu tư kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển nền tảng dùng chung trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá của Việt Nam phát triển, thậm chí tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư thâu tóm (M&A) hoặc hợp tác kinh doanh (BCC) với doanh nghiệp nền tảng nước ngoài để có thể thúc đẩy lĩnh vực kinh tế của hoạt động nền tảng số dùng chung nói riêng và hoạt động kinh tế của các lĩnh vực công nghiệp văn hoá;

(3) Hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế bảo đảm thi hành về quyền tác giả trên môi trường số phù hợp với thực tiễn thị trường để tạo điều kiện thuận lợi, bảo vệ quyền tài sản cho doanh nghiệp và những người hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực công nghiệp văn hoá của Việt Nam.

Việc hình thành các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn công nghiệp văn hoá góp phần xây dựng các nền tảng phân phối hay cung ứng những sản phẩm văn hoá chất lượng, vừa đáp ứng được nhu cầu của người thưởng thức, vừa mang đậm bản sắc Việt Nam cũng là một trụ cột quan trọng.

Theo LS Nguyễn Hưng Quang, Nghị quyết 80 có tầm chiến lược lâu dài và đặt ra mục tiêu đến năm 2030, xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hoá, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hoá tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo. Đến năm 2045, Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hoá, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế; trở thành một trong những trung tâm công nghiệp văn hoá - sáng tạo năng động.

Dựa trên kinh nghiệm của Hàn Quốc và Trung Quốc trong hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công nghiệp văn hoá, LS Nguyễn Hưng Quang đề xuất, Việt Nam cân nhắc chính sách ưu đãi về thuế và đầu tư của Nhà nước đối với các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo trong các lĩnh vực công nghiệp văn hoá tương tự như các ưu đãi đang dành cho hoạt động về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo để thúc đẩy hoạt động chuyển đổi số trong công nghiệp văn hoá.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm có nguồn vốn Nhà nước và khuyến khích thành lập và hoạt động quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá, trong đó có nội dung chuyển đổi số để hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển các dự án nền tảng, dữ liệu dùng chung và các hoạt động về nội dung văn hoá (content) trong các lĩnh vực công nghiệp văn hoá.

Hoàng Hạnh