Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
Họp phiên toàn thể tại Hội trường vào sáng nay (12/4), Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi).
Cơ bản nhất trí với sự cần thiết sửa đổi toàn diện luật trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, thông tin không còn chỉ tồn tại dưới dạng văn bản, hồ sơ, tài liệu giấy mà ngày càng tồn tại nhiều dưới dạng dữ liệu số, cơ sở dữ liệu dùng chung, dữ liệu liên thông, nhiều ý kiến cho rằng việc sửa đổi luật lần này không chỉ là sửa một đạo luật về thủ tục cung cấp thông tin mà là hoàn thiện nền tảng pháp lý cho quản trị công khai, minh bạch trong kỷ nguyên số.
Minh bạch thông tin chính là chìa khóa để xây dựng lòng tin của nhân dân
Đại biểu Hoàng Thị Thanh Thúy (đoàn Tây Ninh) cho rằng, điều quan tâm lớn nhất đối với dự luật này là xử lý mối quan hệ hài hòa giữa quản lý nhà nước về vấn đề bảo mật, an toàn và quyền của công dân về minh bạch và tiếp cận. Việc bảo vệ bí mật nhà nước và an toàn thông tin với quyền tiếp cận thông tin của công dân là mối quan hệ biện chứng. Ở góc độ xung đột giữa tính bảo mật và minh bạch, vùng cấm thông tin càng rộng sẽ vô hình chung thu hẹp tiếp cận thông tin của người dân.
Thực tế thời gian qua vẫn có những trường hợp cá nhân, tổ chức, cơ quan lạm dụng việc bảo vệ bí mật Nhà nước để trở thành cớ để hạn chế quyền tiếp cận thông tin của công dân, làm giảm tính công khai, minh bạch, quyền dân chủ, giám sát của nhân dân và né tránh trách nhiệm giải trình.
Từ sự phân tích nêu trên, Đại biểu Hoàng Thị Thanh Thúy nêu rõ, sửa Luật Tiếp cận thông tin không chỉ là sửa đổi câu từ mà là thay đổi tư duy quản lý từ tư duy ban phát thông tin sang tư duy phục vụ thông tin. Minh bạch thông tin chính là chìa khóa để xây dựng lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, là tiền đề để kiểm soát quyền lực và đẩy lùi tham nhũng. Đây cũng là động lực quan trọng trong việc khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tiến bộ và công bằng xã hội, tạo sự ổn định cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Công khai thông tin trên môi trường số phải được xem là phương thức chủ yếu
Về nguyên tắc thực hiện quyền tiếp cận thông tin, tại Khoản 3, Điều 3 của dự thảo quy định "việc cung cấp thông tin phải đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tăng cường cung cấp thông tin trên môi trường số, bảo đảm việc cung cấp thông tin kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân", dẫn chiếu nội dung này, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng) nhấn mạnh khác với một số ý kiến đại biểu Quốc hội lo ngại việc ứng dụng công nghệ thông tin có thể trở thành rào cản đối với người dân, cách quy định này mới chỉ dừng ở mức định hướng, thể hiện tinh thần đẩy mạnh, tăng cường nhưng chưa tạo ra nghĩa vụ pháp lý đủ rõ.
Trong khi đó, nếu đã xác định xây dựng Nhà nước số thì công khai thông tin trên môi trường số phải được xem là phương thức chủ yếu, không nên chỉ là phương thức khuyến khích. Đại biểu đề nghị nghiên cứu sửa khoản 3 Điều 3 theo hướng nhấn mạnh hơn trách nhiệm công khai trên môi trường số, ít nhất đối với các nhóm thông tin thuộc diện bắt buộc công khai theo Điều 17 của luật này.
Về các trường hợp thông tin công dân không được tiếp cận tại Điều 15 của dự thảo, Đại biểu cho rằng đây là điều khoản rất quan trọng vì liên quan trực tiếp đến ranh giới giữa bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và việc hạn chế quyền này. Tại Khoản 4 Điều 15 dự thảo quy định "trường hợp pháp luật chưa quy định, căn cứ vào điều kiện thực tiễn người đứng đầu cơ quan, đơn vị có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cung cấp thông tin".
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga băn khoăn với quy định này, bởi Khoản 4 Điều 3 của chính dự thảo đã xác định rất rõ việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin phải do luật định, nếu luật chưa quy định mà giao cho người đứng đầu cơ quan xem xét, quyết định, trên thực tế sẽ rất dễ dẫn đến tình trạng cơ quan vừa nắm giữ thông tin, vừa tự đánh giá, vừa tự quyết định có cung cấp hay không; cách thiết kế như vậy là chưa thật chặt chẽ.
Từ đó, đại biểu đề nghị rà soát lại Khoản 4 Điều 15 theo hướng thu hẹp tối đa không gian quyết định mang tính chủ quan của cơ quan có thông tin, trường hợp cần thiết, phải có tiêu chí rõ hơn và cơ chế kiểm soát chặt chẽ hơn. Cũng tại Điều 15 Khoản 5 quy định về thông tin thuộc bí mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định của pháp luật, đại biểu cho rằng khái niệm "bí mật công tác" hiện chưa thật rõ, chưa được quy định trong hệ thống pháp luật, rất dễ trở thành vùng xám để mở rộng diện thông tin không cung cấp; đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục làm rõ hoặc rà soát để tránh chồng lấn, trùng lặp, thậm chí mở rộng quá mức so với hệ thống pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
Về chất lượng thông tin công khai tại Điều 17 của dự thảo, một số ý kiến đại biểu phát biểu tại thảo luận cho rằng vấn đề hiện nay không chỉ là công khai điều gì mà còn là công khai như thế nào để người dân thực sự tiếp cận và sử dụng được thông tin. Thực tế, có tình trạng thông tin được đăng tải nhưng ở dạng khó tra cứu, khó trích xuất, khó tái sử dụng. Nói cách khác là có công khai nhưng hiệu quả tiếp cận rất thấp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện Điều 17 theo hướng gắn yêu cầu công khai với yêu cầu về chất lượng dữ liệu, nhất là trong môi trường số. Cần hướng đến thông tin công khai phải dễ tìm kiếm, dễ truy cập, dễ khai thác, không chỉ dừng ở việc có đăng tải.
Về thời hạn cung cấp thông tin theo yêu cầu tại Điều 26 của dự thảo quy định thời hạn cung cấp thông tin là 10 ngày làm việc, có ý kiến cho rằng quy định này có thể phù hợp với những trường hợp thông tin cần rà soát, tập hợp, xử lý phức tạp nhưng đối với thông tin đã có sẵn trên môi trường số đã được số hóa thì thời hạn như vậy vẫn còn dài. Do đó, cần nghiên cứu phân loại thời hạn cung cấp thông tin theo tính chất thông tin, với thông tin có sẵn, đã số hóa cần rút ngắn thời hạn, còn thông tin phức tạp có thể giữ thời hạn như dự thảo, làm như vậy sẽ phù hợp hơn với yêu cầu cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số hiện nay.
Tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người
Đại biểu Lý Anh Thư (An Giang) khẳng định, tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản của con người, của công dân đã được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại Điều 25. Quy định này không chỉ khẳng định vị trí quan trọng của quyền tiếp cận thông tin trong hệ thống quyền cơ bản mà còn đặt ra trách nhiệm cho Nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để đảm bảo quyền này được thực thi hiệu quả trong thực tiễn.
Trong bối cảnh hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, nhu cầu tiếp cận thông tin của người dân ngày càng gia tăng cả về phạm vi và chất lượng, đồng thời Nhà nước đang triển khai nhiều chủ trương lớn như xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan, hướng tới nền quản trị hiện đại, công khai, minh bạch, phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong quá trình thi hành, Luật Tiếp cận thông tin đã bộc lộ một số hạn chế, nhất là trong việc thích ứng với môi trường số, cơ chế chia sẻ dữ liệu và yêu cầu minh bạch thông tin trong thực tiễn. Do đó, việc sửa đổi, bổ sung luật là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về mặt thể chế và thực tiễn.
Về quy định quyền được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời tại điểm a khoản 1 Điều 8 dự thảo luật, đại biểu Lý Anh Thư thống nhất về nguyên tắc, tuy nhiên, đại biểu cho rằng cần làm rõ việc thực hiện quyền này phải đặt trong khuôn khổ pháp luật có liên quan, bao gồm Luật Tiếp cận thông tin và các luật chuyên ngành khác như pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nếu không có quy định mang tính liên thông, thống nhất có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng không đồng nhất, thậm chí phát sinh tâm lý e ngại trong cung cấp thông tin hoặc là hạn chế quyền tiếp cận thông tin của công dân. Vì vậy, đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, bổ sung quy định theo hướng đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời nâng cao tính khả thi và tổ chức thực hiện.
Đại biểu Lý Anh Thư cho rằng, quy định tại điểm b Điều 13 của dự thảo luật có nội dung trùng lặp với quy định tại điểm b Điều 8 của dự thảo luật. Khoản 1 Điều 8 đã quy định quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện trong khi khoản 2 Điều 13 lại tiếp tục lặp lại quyền tố cáo. Việc này tuy không sai về nguyên tắc nhưng chưa đảm bảo tính tinh gọn và rõ ràng của văn bản luật. Sự trùng lặp có thể gây ra khó khăn trong áp dụng luật dẫn đến cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan và người dân. Do đó, đại biểu đề nghị chỉ quy định thống nhất tại Điều 8 và các khoản khác nếu cần thì viện dẫn, tránh lặp lại không cần thiết, đảm bảo chuẩn mực kỹ thuật luật pháp hiện đại.
Về cơ chế thu phí và miễn phí tại Điều 25 dự thảo luật quy định "người yêu cầu cung cấp thông tin có trách nhiệm thanh toán trước cho cơ quan, đơn vị chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin". Quy định yêu cầu cung cấp thông tin thanh toán chi phí in, sao, chụp, gửi thông tin là phù hợp về nguyên tắc nhằm đảm bảo trách nhiệm sử dụng quyền và chia sẻ chi phí với cơ quan cung cấp thông tin. Tuy nhiên, cần đánh giá đầy đủ tác động của chính sách này đối với khả năng tiếp cận thông tin của người dân, nhất là các đối tượng yếu thế.
Về vấn đề này, Đại biểu Lý Anh Thư đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu quy định mức hợp lý, công khai và minh bạch. Đồng thời xây dựng cơ chế miễn, giảm phù hợp đối với trường hợp đặc thù hoặc tiếp cận thông tin phục vụ lợi ích cao cả. Trên thực tiễn, đại biểu cho rằng, nhiều quốc gia như Anh, Pháp, Canada, Australia áp dụng cơ chế thu phí có giới hạn, minh bạch và đi kèm với chính sách hỗ trợ. Qua đó, vừa đảm bảo trách nhiệm của người yêu cầu và vừa không làm cản trở việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân.
Nguyễn Hoàng