Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Trước hết cần nhấn mạnh lại rằng nói đến cải cách là nói đến việc thay đổi một cách cơ bản một trạng thái, một đối tượng, làm cho nó thay đổi phù hợp với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển, làm cho nó tốt hơn theo nhu cầu của con người.
Cải cách hành chính có nghĩa là thay đổi trạng thái đang tồn tại của cơ chế hành chính hiện tại, làm cho nó thay đổi các hoạt động phù hợp với yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước. Cần chú ý rằng cải cách hành chính không làm thay đổi nền tảng của nền hành chính Nhà nước mà chỉ làm thay đổi cơ chế vận hành của nó theo yêu cầu quản lý đất nước thời kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Đây là một xu thế khách quan của thời kỳ hiện nay, không riêng gì ở nước ta.
Công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam được tiến hành từ đầu những năm 1990 của thế kỷ trước với một số đặc điểm nổi bật. Đó là đất nước đã bước vào thời kỳ đổi mới được một thời gian với những thành công ban đầu. Chúng ta đã vượt qua được cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội kéo dài trong nhiều năm. Nền kinh tế nước ta đã bắt đầu chuyển động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.
Trên thế giới, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ đã ảnh hưởng mạnh đến tình hình nước ta. Nhiều nước cũng tiến hành cải cách hành chính để đổi mới hoạt động của bộ máy Nhà nước.
Công cuộc cải cách hành chính ở nước ta được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới do Đảng ta đề ra.
Tại sao chúng ta phải tiến hành cải cách nền hành chính Nhà nước vào thời điểm nói trên? Đó là vì những lý do sau đây: Thứ nhất, sau một thời gian thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế của nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, sự khởi sắc của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước cũng đồng thời đặt ra nhiều vấn đề trong việc quản lý.
Cơ chế quản lý cũ hình thành trong quá trình bao cấp đã kéo dài trong nhiều năm không những bất cập với tình hình mới, mà điều quan trọng hơn, nó còn cản trở sự đi lên của nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế mới. Muốn thúc đẩy kinh tế tiếp tục phát triển, tất yếu phải tiến hành cải cách hành chính. Đó là một nhu cầu khách quan có tính quy luật.
Thứ hai, bản thân nền hành chính Nhà nước ta được hình thành và vận hành qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, tuy đã có nhiều đóng góp cho việc quản lý đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhưng thực tế cũng cho thấy nền hành chính ấy ngày càng bộc lộ nhiều khuyết tật, đặc biệt là “bệnh” quan liêu, xa dân, với bộ máy có cơ cấu rất cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả.
Thủ tục điều hành mà chúng ta gọi là thủ tục hành chính rất nặng nề, gây nhiều phiền hà cho công dân và tổ chức. Trách nhiệm công vụ không rõ ràng, cán bộ, công chức có nhiều người sách nhiễu dân, lãng phí và tham nhũng ngày càng trở nên phổ biến, tinh vi, có tổ chức và trở thành quốc nạn. Như vậy, chúng ta không thể nào không tiến hành cải cách để đổi mới nền hành chính Nhà nước để tiếp tục đưa đất nước đi lên. Điều này ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ.
Thứ ba, quá trình đổi mới của nước ta đồng thời cũng là quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan rã, nước ta không thể tự cô lập mình trên trường quốc tế mà Đảng ta chủ trương Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trên thế giới. Để thực hiện được điều đó cần thay đổi cách nhìn nhận về thế giới bên ngoài của nền hành chính cũ, phải tạo ra sự năng động và linh hoạt mà nền hành chính cũ còn thiếu do quan hệ với thế giới bên ngoài còn hạn hẹp. Phải đổi mới luật lệ, cải cách thủ tục hành chính theo một số thông lệ quốc tế, bồi dưỡng cán bộ để thích ứng với nhu cầu hội nhập.
Chương trình tổng thể cải cách nền hành chính Nhà nước gồm hai giai đoạn. Giai đoạn 1 từ 2001 đến 2010 và giai đoạn 2 từ 2011 đến 2020 được xây dựng nhằm giải quyết các tồn tại trên và Chính phủ đã phê duyệt, tổ chức thực hiện. Công cuộc cải cách hành chính của chúng ta đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng nhiều vấn đề đến nay vẫn chưa giải quyết được.
Ví dụ, bộ máy hành chính vẫn mang nặng nhiều dấu ấn cũ trong quá trình điều hành (quan liêu, bao cấp), không theo kịp yêu cầu của giai đoạn mới. Cụ thể, về bộ máy quản lý hành chính Nhà nước thì chức năng, nhiệm vụ, phân công, phân cấp chưa rõ ràng, chưa phù hợp với cơ chế thị trường; hệ thống thể chế thì thiếu đồng bộ; thủ tục hành chính vẫn còn nhiều rườm rà, nặng nề; kỷ cương quản lý không nghiêm. Nạn lãng phí, tham nhũng chưa bị đẩy lùi, thậm chí có xu hướng tăng; cuộc chiến chống tham nhũng đang đầy cam go.
Sau nhiều năm tiến hành đổi mới chúng ta vẫn đang nhìn thấy một bộ máy quản lý Nhà nước còn cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực và hiệu quả, không nắm hết được yêu cầu của dân. Cơ chế quản lý tài chính công không thích hợp. Công chức còn nhiều người yếu kém năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm, phẩm chất chưa tương xứng với yêu cầu của thời kỳ mới, xử lý tình huống phức tạp còn lúng túng. Những điều đó đã được nói đến nhiều lần và cũng đã được chứng minh trong thực tế là chính xác.
Vấn đề là nguyên nhân ở đâu và sự lãnh đạo của Đảng để giải quyết các vấn đề đó sẽ phải đặt ra như thế nào?
Cải cách hành chính là chủ trương của Đảng để đưa đất nước tiến lên. Một khi làm không có hiệu quả thì có lẽ nào chúng ta đành bất lực và hô một vài khẩu hiệu quen thuộc đại loại như “ra sức, quyết tâm, không thể nóng vội… và…”.
Có người còn nói cần chú ý đưa cả hệ thống chính trị vào cuộc nhưng lại không chỉ ra được đưa như thế nào? Đưa vào đâu để hệ thống chính trị các cấp có thể phát huy vai trò của mình trong công cuộc cải cách hành chính nóng bỏng hiện nay?
Chúng tôi cho rằng muốn lãnh đạo thành công công cuộc cải cách nền hành chính đã được phát động phải thấy rõ những khó khăn và rào cản của quá trình cải cách để tìm giải pháp vượt qua.
Có thể nói ngay rằng khó khăn lớn nhất và cũng là cơ bản nhất đó là sức ì của bộ máy hành chính rất lớn. Nạn quan liêu, tham nhũng quá nặng nề, đã bám rễ sâu vào nền hành chính nước ta từ nhiều năm mà chúng ta chưa tìm ra cách lãnh đạo hữu hiệu để loại bỏ. Các sai lầm thường được xuê xoa, che đậy và coi như sai lầm tập thể nên không thể khắc phục nhanh chóng.
Khó khăn thứ hai đó là sự lạc hậu trong lý luận và trong tư duy hành chính. Tại sao chúng ta lại không quyết tâm lãnh đạo để chuyển đổi chức năng Nhà nước từ cai trị với thể chế áp đặt là chính theo truyền thống xưa nay sang chức năng phục vụ là chính như nhiều nước đã làm thành công? Chúng ta loay hoay chuyển đổi nền công vụ từ chức nghiệp sang công vụ việc làm nhưng không có kết quả rõ rệt và chế độ ngạch bậc đã làm chúng ta thừa rất nhiều cán bộ, công chức, viên chức. Có phải là việc lãnh đạo của Đảng phải tập trung vào những vấn đề như thế để thúc đẩy công cuộc cải cách hành chính đi lên? Thay vì các khẩu hiệu chúng ta cần có những quyết sách cụ thể và Đảng phải chịu trách nhiệm lãnh đạo thực hiện.
Khó khăn thứ ba đó là chúng ta thiếu một cơ chế tổng hợp, đồng bộ trong quá trình giải quyết công việc để giúp cho nền hành chính có thể hoạt động hữu hiệu. Trước một vướng mắc trong công việc chúng ta phải loay hoay để tìm cơ chế thích hợp nhằm giải quyết cho được dưới, được trên, cho yên tâm mà thiếu những cơ chế cho phép giải quyết vấn đề triệt để, dám chịu trách nhiệm.
Và cuối cùng đó là khó khăn về đội ngũ cán bộ, công chức của chúng ta. Đội ngũ này tuy làm được một số công việc do tổ chức giao phó nhưng không khó để nhận ra rằng không ít người trong đó không chỉ thiếu chuyên nghiệp khi làm việc mà còn thiếu cả đạo đức công vụ. Cải cách hành chính với một đội ngũ không đồng đều trên nhiều phương diện như vậy thì thành công còn hạn chế là điều dễ hiểu.
Không nghi ngờ gì rằng Đảng lãnh đạo là Đảng vạch ra đường lối và tổ chức thực hiện đường lối đã vạch ra nhưng sẽ rất không đúng nếu các chủ trương, đường lối không hướng tới những vấn đề cụ thể mà ở cấp nào cũng đưa ra những quyết sách chung chung, không thiết thực.
Những chủ trương trong cải cách hành chính chẳng hạn, phải chỉ ra cách khắc phục những khó khăn vừa kể trên và phải phân công người thực hiện.
Ví dụ, nếu cơ quan thừa biên chế, lại có nhiều người không có năng lực hoàn thành nhiệm vụ thì ai giải quyết và cách nào để khắc phục? Nếu không hoàn thành nhiệm vụ mà lại được đề bạt thì trách nhiệm thuộc về ai? Nếu các quy định của pháp luật mà ban hành chồng chéo lẫn nhau thì người dân sẽ rất khổ bởi những công chức nhỏ nhen sẽ lợi dụng. Những chế tài nào, chủ trương nào từ phía lãnh đạo sẽ giúp hạn chế điều đó…?
Có một nữ đại biểu Quốc hội của tỉnh Thái Nguyên từng nói rằng theo bà biết thì xưa nay, chưa có người nào ký văn bản sai mà bị kỷ luật cả. Cho nên mới nói cải cách hành chính chỉ mới chỉ ở trên bề mặt thôi. Lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc này có nên đi sâu vào chiều sâu của vấn đề mà nhân dân đang mong đợi hay không?
Chắc chắn là rất nên!
GS.TSKH Nguyễn Văn Thâm