• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/3/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/3/2026.

10/03/2026 18:42

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ 

Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/3/2026- Ảnh 1.

Trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm bị phạt tới 40 triệu đồng.

Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/05/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC và CNCH) được ban hành đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tạo hành lang pháp lý hữu hiệu để đảm bảo công tác xử lý, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC và CNCH. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện công tác xử phạt vi phạm trong lĩnh vực PCCC và CNCH quy định tại Nghị định số 106/2025/NĐ-CP còn gặp một số vướng mắc, bất cập.

Để đảm bảo phù hợp với các quy định mới của pháp luật, bảo đảm tính khả thi, tăng cường răn đe, giáo dục cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính, kịp thời trong việc sửa đổi, bổ sung các chính sách mới, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025.

Trong đó, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 6 về vi phạm quy định về tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ PCCC và CNCH theo hướng bổ sung đối tượng "người đứng đầu cơ sở" tại điểm c khoản 1 Điều 45 Luật PCCC và CNCH" chưa được huấn luyện nghiệp vụ PCCC và CNCH để phù hợp với quy định tại Nghị định số 105/2025/NĐ-CP.

Theo quy định mới, phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức, cá nhân sử dụng đối tượng quy định tại các điểm c, d, đ, e và điểm g khoản 1 Điều 45 Luật PCCC và CNCH thực hiện nhiệm vụ PCCC và CNCH nhưng chưa có văn bản thông báo kết quả huấn luyện nghiệp vụ PCCC và CNCH.

Sửa đổi quy định xử phạt vi phạm về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc

Đối với vi phạm quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP bổ sung cụm từ "không đủ đối tượng bảo hiểm" tại khoản 1 Điều 17: "Mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc không đủ đối tượng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc hoặc không đúng mức phí bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc theo quy định đối với cơ sở phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc" để phù hợp với Điều 35 Nghị định số 105/2025/NĐ-CP và Điều 23 Nghị định số 67/2023/NĐ-CP quy định về đối tượng bảo hiểm.

Trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm bị phạt tới 40 triệu đồng

Đồng thời, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP bổ sung điểm c của khoản 8 Điều 20 vi phạm quy định về trang bị, lắp đặt phương tiện PCCC và CNCH.

Theo quy định mới, hành vi trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

Không duy trì trữ lượng nước chữa cháy theo quy định bị phạt tới 5 triệu đồng

Đồng thời, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 21; trong đó, bổ sung quy định về yêu cầu kĩ thuật và duy trì trữ lượng nước chữa cháy theo quy định.

Cụ thể, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Không duy trì đủ số lượng hoặc không bảo đảm yêu cầu kĩ thuật theo quy định của phương tiện chữa cháy thông dụng, dụng cụ phá dỡ thô sơ đã được trang bị, lắp đặt; không duy trì trữ lượng nước chữa cháy theo quy định.

Sửa đổi quy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về ngăn cháy

Bên cạnh đó, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 2, 4, 5 Điều 25 vi phạm quy định về ngăn cháy như sau:

"2. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi không duy trì vật liệu ngăn cháy hoặc cửa ngăn cháy hoặc vách ngăn cháy hoặc màn ngăn cháy hoặc rèm ngăn cháy hoặc vật liệu chống cháy đã được trang bị, lắp đặt.".

"4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không duy trì khoảng cách phòng cháy, chữa cháy giữa nhà, công trình.".

"5. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi không trang bị, lắp đặt vật liệu ngăn cháy hoặc cửa ngăn cháy hoặc vách ngăn cháy hoặc màn ngăn cháy hoặc rèm ngăn cháy hoặc vật liệu chống cháy".

Mức phạt tiền quy định ở trên là mức phạt được áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân.

Hộ gia đình, hộ kinh doanh, cộng đồng dân cư vi phạm các quy định bị áp dụng mức phạt tiền đối với cá nhân vi phạm hành chính.

Sửa đổi, bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Ngoài ra, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh có thẩm quyền tại Điều 31, 32, 33, 34, 35 và Điều 36, đồng thời bổ sung thêm Điều 36a về thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo chuyên ngành, lĩnh vực.

Theo quy định mới, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Công an nhân dân được quy định như sau:

- Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 5.000.000 đồng và tịch thu tang vật vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt được quy định ở trên.

- Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động cấp đại đội có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 10.000.000 đồng và tịch thu tang vật vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt được quy định ở trên; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

- Trưởng đồn Công an, Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động cấp tiểu đoàn, Thủy đội trưởng, Trưởng trạm, Đội trưởng có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 15.000.000 đồng; đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt được quy định ở trên; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

- Trưởng Công an cấp xã có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 25.000.000 đồng; đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a và điểm k khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội gồm: Trưởng phòng Hướng dẫn, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và pháo, Trưởng phòng Hướng dẫn, quản lý các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự và con dấu; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát giao thông gồm: Trưởng phòng Hướng dẫn tuyên truyền, điều tra, giải quyết tai nạn giao thông, Trưởng phòng Hướng dẫn, đăng ký và kiểm định phương tiện, Trưởng phòng Hướng dẫn, đào tạo, sát hạch, quản lý giấy phép của người điều khiển phương tiện giao thông, Trưởng phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ, đường sắt, Trưởng phòng Hướng dẫn điều khiển giao thông và dẫn đoàn, Trưởng phòng Hướng dẫn tuần tra, kiểm soát và đấu tranh phòng, chống tội phạm trên đường thủy nội địa, Thủy đoàn trưởng; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát PCCC và CNCH gồm: Trưởng phòng Công tác phòng cháy, Trưởng phòng Thẩm duyệt về phòng cháy, chữa cháy, Trưởng phòng Công tác chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Trưởng phòng Quản lý khoa học - công nghệ và kiểm định phương tiện PCCC và CNCH; Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm: Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát cơ động, Trưởng phòng Cảnh sát PCCC và CNCH có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 40.000.000 đồng; đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a và điểm k khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

- Giám đốc Công an cấp tỉnh có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép là văn bản thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy, văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy; đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a và điểm k khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

- Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Cục trưởng Cục Cảnh sát PCCC và CNCH có quyền: Phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép là văn bản thẩm định thiết kế về phòng cháy và chữa cháy, văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu về phòng cháy và chữa cháy; tịch thu tang vật vi phạm hành chính; đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a và điểm k khoản 1 Điều 28 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Nghị định số 69/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 20/4/2026.

Điều khoản chuyển tiếp

Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC và CNCH xảy ra và kết thúc trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực mà bị phát hiện nhưng chưa hết thời hiệu xử phạt hoặc đang xem xét, giải quyết khi Nghị định số 69/2026/NĐ-CP đã có hiệu lực thì áp dụng Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm để xử lý.

Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC và CNCH xảy ra trước thời điểm Nghị định số 69/2026/NĐ-CP có hiệu lực nhưng vẫn đang diễn ra khi Nghị định số 69/2026/NĐ-CP đã có hiệu lực thì áp dụng quy định của Nghị định số 69/2026/NĐ-CP để xử lý.

Đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được ban hành hoặc đã được thi hành xong trước thời điểm Nghị định số 69/2026/NĐ-CP có hiệu lực, mà tổ chức, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính còn khiếu nại thì áp dụng quy định về xử phạt vi phạm hành chính tại thời điểm ban hành quyết định xử phạt để giải quyết.

Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử 

Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2026/NĐ-CP ngày 09/3/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử. Trong đó, đáng chú ý là các quy định xử phạt vi phạm về giấy phép tiến hành công việc bức xạ.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/3/2026- Ảnh 2.

Quy định xử phạt vi phạm về giấy phép thực hiện công việc bức xạ.

Nghị định gồm 4 chương, 57 điều quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với vi phạm quy định về khai báo, cấp giấy phép; vi phạm về an toàn bức xạ, bảo vệ bức xạ; vi phạm về an ninh nguồn phóng xạ, an ninh vật liệu hạt nhân, thanh sát hạt nhân; vi phạm về an toàn, an ninh nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu; vi phạm về hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử, chuyển đổi số, hoạt động thanh tra, kiểm tra; thẩm quyền xử phạt...

Theo Nghị định, vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử là hành vi có lỗi do tổ chức, cá nhân thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong hai hình thức xử phạt là cảnh cáo và phạt tiền.

Căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau: (1) Tước quyền sử dụng giấy phép tiến hành công việc bức xạ; giấy phép xây dựng nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân nghiên cứu; giấy đăng ký hoạt động dịch vụ hỗ trợ ứng dụng năng lượng nguyên tử hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; (2) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; (3) Trục xuất.

Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đối với cá nhân đến 1.000.000.000 đồng, đối với tổ chức đến 2.000.000.000 đồng.

Phạt từ 10 – 20 triệu đồng đối với hành vi xuất, nhập khẩu chất phóng xạ, nguồn phóng xạ không có giấy phép

Đối với vi phạm quy định về giấy phép tiến hành công việc bức xạ, Điều 6 Nghị định quy định như sau:

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi tiến hành một trong các công việc bức xạ sau đây mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định:

a) Sử dụng thiết bị bức xạ không gắn nguồn phóng xạ, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 14 Điều này;

b) Thay đổi quy mô, phạm vi hoạt động, chấm dứt hoạt động cơ sở bức xạ;

c) Nhập khẩu chất phóng xạ, nguồn phóng xạ;

d) Xuất khẩu chất phóng xạ, nguồn phóng xạ.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi tiến hành một trong các công việc bức xạ sau đây mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

a) Sử dụng nguồn phóng xạ;

b) Lưu giữ nguồn phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng.

3. Mức phạt tiền đối với hành vi quy định tại điểm a, điểm c, điểm d khoản 1 và khoản 2 Điều này trong trường hợp tiến hành công việc bức xạ có nhiều hơn 01 nguồn phóng xạ mức độ nguy hiểm dưới trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phân nhóm, phân loại nguồn phóng xạ hoặc nhiều hơn 01 thiết bị bức xạ không gắn nguồn phóng xạ được quy định như sau:

a) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng trong trường hợp vi phạm với số lượng từ 02 đến dưới 05 nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ không gắn nguồn phóng xạ;

b) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng trong trường hợp vi phạm với số lượng từ 05 đến dưới 10 nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ không gắn nguồn phóng xạ;

c) Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 110.000.000 đồng trong trường hợp vi phạm với số lượng từ 10 đến dưới 20 nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ không gắn nguồn phóng xạ;

d) Phạt tiền từ 120.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng trong trường hợp vi phạm với số lượng từ 20 nguồn phóng xạ, thiết bị bức xạ không gắn nguồn phóng xạ trở lên.

4. Phạt tiền gấp 1,5 lần mức tiền phạt đối với hành vi quy định tại điểm c, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều này và tương ứng với số lượng nguồn phóng xạ quy định tại khoản 3 Điều này trong trường hợp nguồn phóng xạ có mức độ nguy hiểm trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phân nhóm, phân loại nguồn phóng xạ.

5. Phạt tiền gấp 02 lần mức tiền phạt đối với hành vi quy định tại điểm c, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều này và tương ứng với số lượng nguồn phóng xạ quy định tại khoản 3 Điều này trong trường hợp nguồn phóng xạ có mức độ nguy hiểm trên trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phân nhóm, phân loại nguồn phóng xạ.

6. Trường hợp hành vi quy định tại điểm c, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều này với nhiều nguồn phóng xạ có mức độ nguy hiểm khác nhau thì áp dụng mức phạt tiền theo số lượng từng loại nguồn tương ứng quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều này.

Phạt từ 15 – 25 triệu đồng đối với việc vận chuyển nguồn phóng xạ, chất phóng xạ, chất thải phóng xạ không phép

7. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi vận chuyển nguồn phóng xạ, chất phóng xạ, chất thải phóng xạ mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

8. Mức phạt tiền đối với hành vi quy định tại khoản 7 Điều này trong trường hợp tiến hành công việc bức xạ có nhiều hơn 01 nguồn phóng xạ mức độ nguy hiểm dưới trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phân nhóm, phân loại nguồn phóng xạ được quy định như sau:

a) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trong trường hợp vi phạm với số lượng từ 02 đến dưới 05 nguồn phóng xạ;

b) Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng trong trường hợp vi phạm với số lượng từ 05 đến dưới 10 nguồn phóng xạ;

c) Phạt tiền từ 120.000.000 đồng đến 160.000.000 đồng trong trường hợp vi phạm với số lượng từ 10 đến dưới 20 nguồn phóng xạ;

d) Phạt tiền từ 240.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng trong trường hợp vi phạm với số lượng từ 20 nguồn phóng xạ trở lên.

9. Phạt tiền gấp 1,5 lần mức tiền phạt đối với hành vi quy định tại khoản 7 Điều này và tương ứng với số lượng nguồn phóng xạ quy định tại khoản 8 Điều này trong trường hợp nguồn phóng xạ có mức độ nguy hiểm trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phân nhóm, phân loại nguồn phóng xạ.

10. Phạt tiền gấp 02 lần mức tiền phạt đối với hành vi quy định tại khoản 7 Điều này và tương ứng với số lượng nguồn phóng xạ quy định tại khoản 8 Điều này trong trường hợp nguồn phóng xạ có mức độ nguy hiểm trên trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phân nhóm, phân loại nguồn phóng xạ.

11. Trường hợp hành vi quy định tại khoản 7 Điều này với nhiều nguồn phóng xạ có mức độ nguy hiểm khác nhau thì áp dụng mức phạt tiền theo số lượng từng loại nguồn tương ứng quy định tại khoản 8, khoản 9, khoản 10 Điều này.

Phạt từ 20-30 triệu đồng đối với hành vi xử lý, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ không phép

12. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi xử lý, chôn cất chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định.

13. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi thăm dò khoáng sản có tính phóng xạ mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

14. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi tiến hành một trong các công việc bức xạ sau đây mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định:

a) Vận hành thiết bị chiếu xạ là máy gia tốc;

b) Khai thác, chế biến khoáng sản có tính phóng xạ.

Phạt từ 40- 60 triệu đồng đối với việc vận hành thiết bị chiếu xạ sử dụng nguồn phóng xạ không phép

15. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi tiến hành một trong các công việc bức xạ sau đây mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

a) Sản xuất, chế biến chất phóng xạ;

b) Vận hành thiết bị chiếu xạ sử dụng nguồn phóng xạ;

c) Vận chuyển chất phóng xạ, chất thải phóng xạ quá cảnh lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

16. Mức phạt tiền đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 14, điểm b khoản 15 Điều này trong trường hợp tiến hành công việc bức xạ có nhiều hơn 01 thiết bị chiếu xạ được quy định như sau:

a) Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng trong trường hợp vi phạm với số lượng từ 02 đến dưới 05 thiết bị chiếu xạ;

b) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 140.000.000 đồng trong trường hợp vi phạm với số lượng từ 05 đến dưới 10 thiết bị chiếu xạ;

c) Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng trong trường hợp vi phạm với số lượng từ 10 thiết bị chiếu xạ trở lên.

Phạt từ 100 - 200 triệu đồng đối với hành vi xử lý, chôn cất nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng không phép

17. Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với hành vi tiến hành một trong các công việc bức xạ sau đây mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định:

a) Nhập khẩu vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân, thiết bị hạt nhân;

b) Xuất khẩu vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân, thiết bị hạt nhân;

c) Xử lý, chôn cất nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng.

18. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối với hành vi tiến hành một trong các công việc bức xạ sau đây mà không có giấy phép hoặc có giấy phép đã hết hạn theo quy định nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

a) Vận chuyển vật liệu hạt nhân nguồn, nhiên liệu hạt nhân, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng;

b) Vận chuyển vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân, nhiên liệu hạt nhân, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng quá cảnh lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

c) Lưu giữ nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng.

Biện pháp khắc phục hậu quả

Nghị định cũng quy định các biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm nêu trên, cụ thể như sau:

Buộc thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn bức xạ, an ninh nguồn phóng xạ, an toàn hạt nhân, an ninh hạt nhân theo quy định đối với hành vi quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 7, khoản 12, khoản 13, khoản 14, khoản 15, khoản 17, khoản 18 Điều này;

Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện (là chất phóng xạ, nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân nguồn, nhiên liệu hạt nhân, nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng) hoặc thực hiện các biện pháp quản lý bảo đảm an toàn, an ninh trong trường hợp không thể đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 1, điểm c khoản 15, điểm a khoản 17, điểm b khoản 18 Điều này;

Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đối với hành vi quy định tại điểm c khoản 1, điểm c khoản 15, điểm a khoản 17, điểm b khoản 18 Điều này trong trường hợp hành vi vi phạm gây nhiễm bẩn phóng xạ môi trường trên mức quy định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.

Bãi bỏ quy định tại Điều 4 Nghị định số 126/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ; năng lượng nguyên tử.

Nghị định số 107/2013/NĐ-CP ngày 20/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.

Thành lập Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương, Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu 

Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 405/QĐ-TTg ngày 09/3/2026 thành lập Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương, Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 10/3/2026- Ảnh 3.

Thủ tướng Chính phủ thành lập Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương, Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu.

Thành lập Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương

Theo Quyết định, Chủ tịch Hội đồng là 01 đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ.

Các Phó Chủ tịch Hội đồng gồm: Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Chủ tịch Thường trực; đồng chí Bộ trưởng Bộ Công an; đồng chí Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; 01 đồng chí Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương.

Các Ủy viên Hội đồng gồm: đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; 01 đồng chí Thứ trưởng Bộ Công an; 01 đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (Phụ trách công tác Dân quân tự vệ, giáo dục quốc phòng và an ninh); 01 đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; đồng chí Giám đốc Học viện Quốc phòng; 01 đồng chí Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; 01 đồng chí Thứ trưởng Bộ Tài chính; 01 đồng chí Thứ trưởng Bộ Nội vụ; 01 đồng chí Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo; 01 đồng chí Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; 01 đồng chí Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; 01 đồng chí Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; 01 đồng chí Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam; 01 đồng chí Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam; đồng chí Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Bộ Quốc phòng; đồng chí Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ Quốc phòng; đồng chí Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Quốc phòng; đồng chí Chánh Văn phòng, Bộ Quốc phòng; đồng chí Chủ tịch Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh các Quân khu: 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9; đồng chí Chủ tịch Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh thành phố Hà Nội; đồng chí Cục trưởng Cục Tài chính, Bộ Quốc phòng; đồng chí Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam; đồng chí Cục trưởng Cục Đào tạo, Bộ Công an; đồng chí Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Mời tham gia Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương: 01 đồng chí Phó Trưởng Ban Tuyên giáo - Dân vận Trung ương; 01 đồng chí Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương; 01 đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; 01 đồng chí Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; 01 đồng chí Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; đồng chí Cục trưởng Cục Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ, Ban Tổ chức Trung ương.

Ban Thường trực Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương gồm:

Trưởng ban: Đồng chí Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Các Phó Trưởng ban: Đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (Phụ trách công tác Dân quân tự vệ, giáo dục quốc phòng và an ninh), Phó Trưởng ban Thường trực; đồng chí Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam;

Các ủy viên: Đồng chí Cục trưởng Cục Tài chính, Bộ Quốc phòng; đồng chí Chánh Văn phòng, Bộ Quốc phòng; đồng chí Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; đồng chí Cục trưởng Cục Đào tạo, Bộ Công an; đồng chí Vụ trưởng Vụ Nội chính, Văn phòng Chính phủ; đồng chí Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Dân tộc và Tôn giáo; đồng chí Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; đồng chí Vụ trưởng Vụ Giáo dục quốc phòng và an ninh, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương

Quyết định quy định Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương phối hợp liên ngành làm tham mưu, tư vấn cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trên phạm vi toàn quốc.

Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương có nhiệm vụ xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Hằng năm, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Bí thư Trung ương Đảng kết quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh; thực hiện các nhiệm vụ khác khi cấp có thẩm quyền giao.

Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương chỉ đạo Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp, phối hợp với cơ quan, tổ chức, địa phương liên quan thực hiện công tác giáo dục quốc phòng và an ninh theo quy định của pháp luật về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh; có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức và địa phương cung cấp thông tin về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh.

Hằng năm hoặc giai đoạn xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, khen thưởng, báo cáo kết quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh; giải quyết hoặc đề nghị cấp trên giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về công tác giáo dục quốc phòng và an ninh.

Thành lập Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu

Theo Quyết định, đồng chí Tư lệnh Quân khu làm Chủ tịch Hội đồng.

Các Phó Chủ tịch Hội đồng gồm: Đồng chí Chính ủy Quân khu; đồng chí Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu, Phó chủ tịch Thường trực; các đồng chí Phó Tư lệnh, Phó Chính ủy Quân khu.

Các ủy viên Hội đồng gồm: đồng chí Chủ tịch Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh cấp tỉnh trên địa bàn quân khu; đồng chí Chủ nhiệm Chính trị Quân khu; đồng chí Phó Tham mưu trưởng Quân khu (Phụ trách công tác Dân quân tự vệ, giáo dục quốc phòng và an ninh); đồng chí Chủ nhiệm Hậu cần - Kỹ thuật Quân khu; đồng chí Tư lệnh Vùng Hải quân (đóng quân trên địa bàn quân khu); đồng chí Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh trên địa bàn quân khu; đồng chí Giám đốc Công an cấp tỉnh trên địa bàn quân khu; đồng chí Hiệu trưởng Trường Quân sự Quân khu; đồng chí Giám đốc (hiệu trưởng) cơ sở giáo dục đại học có trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh trên địa bàn quân khu do Tư lệnh Quân khu quyết định; đồng chí Trưởng phòng Tài chính Quân khu; đồng chí Chánh Văn phòng Quân khu; đồng chí Trưởng phòng Dân quân tự vệ, Bộ Tham mưu Quân khu; đồng chí Trưởng phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị Quân khu.

Ban Thường trực Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu gồm:

Trưởng ban là đồng chí Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu.

Các Phó Trưởng ban: Đồng chí Chủ nhiệm Chính trị Quân khu; đồng chí Phó Tham mưu trưởng Quân khu (Phụ trách công tác Dân quân tự vệ, giáo dục quốc phòng và an ninh), Phó trưởng Ban thường trực.

Các ủy viên gồm: Đồng chí Hiệu trưởng Trường Quân sự Quân khu; đồng chí Trưởng phòng Tài chính Quân khu; đồng chí Trưởng phòng Dân quân tự vệ, Bộ Tham mưu Quân khu; đồng chí Trưởng phòng Tuyên huấn, Cục Chính trị Quân khu.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu

Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu có chức năng tham mưu, tư vấn giúp Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trên địa bàn.

Giúp Tư lệnh Quân khu xây dựng kế hoạch, đề án về giáo dục quốc phòng và an ninh trình Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phê duyệt.

Định kỳ hằng tháng, quý, 6 tháng, 01 năm hoặc đột xuất báo cáo kết quả giáo dục quốc phòng và an ninh với Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu, Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương;

Tham mưu cử sĩ quan biệt phái cho các cơ sở đào tạo môn học giáo dục quốc phòng và an ninh, tổ chức quản lý, tập huấn, bồi dưỡng về giáo dục quốc phòng và an ninh cho sĩ quan biệt phái trên địa bàn.

Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh quân khu chỉ đạo Hội đồng Giáo dục quốc phòng và an ninh cấp tỉnh, cấp xã trên địa bàn thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh theo thẩm quyền.

Phối hợp với cơ quan, tổ chức, địa phương liên quan thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh theo thẩm quyền; có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức và địa phương cung cấp thông tin về giáo dục quốc phòng và an ninh.

Hằng năm hoặc giai đoạn xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, tổ chức kiểm tra, sơ kết, tống kết, khen thưởng, báo cáo kết quả công tác giáo dục quốc phòng và an ninh trên địa bàn; giải quyết hoặc đề nghị cấp trên giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về giáo dục quốc phòng và an ninh.

Phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND 2 tỉnh Thái Nguyên và Lào Cai 

Ngày 9/3/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình đã ký các quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND các tỉnh Thái Nguyên và Lào Cai.

Cụ thể, tại Quyết định số 415/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2021 - 2026 đối với ông Dương Văn Lượng, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Bí thư Đảng ủy phường Phan Đình Phùng.

Đồng thời, tại Quyết định số 419/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2021 - 2026 đối với ông Phan Trung Bá, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Lào Cai./.