• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 11/3/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 11/3/2026.

11/03/2026 18:14

Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 66/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Giáo dục; trong đó quy định rõ đối tượng, điều kiện được phong tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự, Giáo sư danh dự.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 11/3/2026- Ảnh 1.

Điều kiện được phong tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự, Giáo sư danh dự được quy định tại Nghị định số 66/2026/NĐ-CP của Chính phủ.

Điều kiện phong tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự

Nghị định quy định đối tượng được phong tặng là nhà giáo, nhà khoa học; nhà hoạt động chính trị, xã hội.

Để được phong tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự thì nhà giáo, nhà khoa học; nhà hoạt động chính trị, xã hội phải đáp ứng các điều kiện sau:

1- Nhà giáo, nhà khoa học là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người nước ngoài có nhiều thành tích đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và khoa học của Việt Nam, được một cơ sở giáo dục đại học đào tạo trình độ tiến sĩ của Việt Nam căn cứ vào mức độ đóng góp với lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu thế mạnh hoặc định hướng phát triển của cơ sở giáo dục đại học và tiêu chí của cơ sở giáo dục đại học để phong tặng.

2- Nhà hoạt động chính trị, xã hội là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc người nước ngoài có nhiều thành tích đóng góp cho sự nghiệp giáo dục và khoa học của Việt Nam, có uy tín quốc tế, có nhiều thành tích, công lao đóng góp cho tình hữu nghị, cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam và được một cơ sở giáo dục đại học đào tạo trình độ tiến sĩ của Việt Nam căn cứ vào mức độ đóng góp với lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu thế mạnh hoặc định hướng phát triển của cơ sở giáo dục đại học và theo tiêu chí của cơ sở giáo dục đại học để phong tặng.

Quy trình phong tặng được quy định như sau:

Cơ sở giáo dục đại học tổ chức họp hội đồng khoa học và đào tạo để xem xét việc phong tặng bảo đảm đúng đối tượng, điều kiện theo quy định theo quy định trên.

Căn cứ quyết nghị của hội đồng khoa học và đào tạo, giám đốc hoặc hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học công lập ra quyết định phong tặng và tổ chức lễ trao tặng danh hiệu hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định phong tặng (nếu có).

Căn cứ quyết nghị của hội đồng khoa học và đào tạo, giám đốc, hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập trình hội đồng trường xem xét, thông qua. Trên cơ sở nghị quyết của hội đồng trường, giám đốc hoặc hiệu trưởng ra quyết định phong tặng và tổ chức lễ trao tặng danh hiệu hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định phong tặng (nếu có).

Trong trường hợp cần thiết, hiệu trưởng hoặc giám đốc cơ sở giáo dục đại học có văn bản đề nghị Bộ Công an hoặc Cơ quan đại diện của nước có người được đề nghị phong tặng có ý kiến về việc không vi phạm pháp luật của Việt Nam, pháp luật của nước sở tại và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Bằng Tiến sĩ danh dự phải ghi rõ danh hiệu "Tiến sĩ danh dự", không ghi "học vị Tiến sĩ"

Cơ sở giáo dục đại học đào tạo trình độ tiến sĩ thiết kế, in phôi, cấp phát và quản lý bằng Tiến sĩ danh dự. Bằng Tiến sĩ danh dự phải ghi rõ danh hiệu "Tiến sĩ danh dự", không ghi "học vị Tiến sĩ" và không ghi ngành đào tạo; công khai thông tin của người được phong tặng trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học và gửi quyết định phong tặng về Bộ Giáo dục và Đào tạo (bản giấy hoặc bản điện tử) sau mỗi lần phong tặng để Bộ Giáo dục và Đào tạo thống kê, theo dõi việc phong tặng của các cơ sở giáo dục đại học.

Danh hiệu Tiến sĩ danh dự không được sử dụng thay thế học vị, học hàm trong giao dịch hành chính, học thuật, pháp lý. Không phong tặng đối với cá nhân đang bị truy cứu trách nhiệm pháp lý, đang có tranh chấp, khiếu nại nghiêm trọng liên quan đến đạo đức, uy tín khoa học.

Điều kiện phong tặng danh hiệu Giáo sư danh dự

Đối tượng được phong tặng là nhà giáo, nhà khoa học; nhà hoạt động chính trị, xã hội.

Để được phong tặng danh hiệu Giáo sư danh dự thì nhà giáo, nhà khoa học; nhà hoạt động chính trị, xã hội phải đáp ứng 2 điều kiện nêu trên, đồng thời phải có bằng tiến sĩ.

Quy trình phong tặng danh hiệu Giáo sư danh dự được thực hiện theo quy trình phong tặng danh hiệu Tiến sĩ danh dự.

Danh hiệu Giáo sư danh dự không được sử dụng thay thế học vị, học hàm trong giao dịch hành chính, học thuật, pháp lý

Nghị định nêu rõ Quyết định phong tặng danh hiệu Giáo sư danh dự phải ghi rõ danh hiệu "Giáo sư danh dự". Cơ sở giáo dục đại học công khai thông tin của người được phong tặng trên trang thông tin điện tử của cơ sở giáo dục đại học và gửi quyết định phong tặng về Bộ Giáo dục và Đào tạo (bản giấy hoặc bản điện tử) sau mỗi lần phong tặng để Bộ Giáo dục và Đào tạo thống kê, theo dõi việc phong tặng của các cơ sở giáo dục đại học.

Danh hiệu Giáo sư danh dự không được sử dụng thay thế học vị, học hàm trong giao dịch hành chính, học thuật, pháp lý. Không phong tặng đối với cá nhân đang bị truy cứu trách nhiệm pháp lý, đang có tranh chấp, khiếu nại nghiêm trọng liên quan đến đạo đức, uy tín khoa học.

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/3/2026.

Nghị định nêu rõ, các hồ sơ phong tặng Tiến sĩ danh dự, Giáo sư danh dự đã nộp cho Hội đồng trường của cơ sở giáo dục đại học công lập xem xét trước ngày 1/1/2026 được chuyển giao cho Giám đốc hoặc hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học công lập xem xét, quyết định theo thẩm quyền quy định tại Nghị định.

Phê duyệt Đề án chuyển đổi số trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự 

Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình ký Quyết định số 422/QĐ-TTg ngày 10/3/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự.

Hiện đại hóa các cơ quan hoạt động tố tụng, thi hành án hình sự

Mục đích của Đề án là việc quản lý hồ sơ, tài liệu trong hoạt động tố tụng hình sự và thi hành án hình sự được triển khai thống nhất, liên thông trong toàn bộ các khâu (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự); bảo đảm yêu cầu an ninh mạng, bảo mật thông tin, an toàn dữ liệu theo quy định.

Đề án được tổ chức triển khai theo mô hình mỗi ngành, cơ quan liên quan xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu điện tử tập trung, phù hợp chức năng, nhiệm vụ; nâng cao hiệu quả quản lý, rút ngắn thời gian xử lý, tăng cường tính công khai, minh bạch, bảo đảm tuân thủ pháp luật, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với hoạt động tư pháp.

Đề án hướng tới hiện đại hóa các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam và cơ quan thi hành án hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Hết Quý IV năm 2026 đưa vào vận hành cơ sở dữ liệu dùng chung tại Trung tâm Dữ liệu Quốc gia

Đề án đưa ra mục tiêu là đến hết Quý III năm 2026 là 100% các cơ quan, bộ, ngành tham gia Đề án (Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính) hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử tập trung của từng ngành; nâng cấp, hoàn thiện phần mềm nghiệp vụ chuyên ngành (điều tra; truy tố; xét xử; tạm giữ, tạm giam; thi hành án hình sự) đáp ứng yêu cầu số hóa hồ sơ, quản lý hồ sơ điện tử, tích hợp chữ ký số công vụ, sẵn sàng kết nối liên thông; thống nhất sử dụng mã hồ sơ điện tử duy nhất cho mỗi vụ án hình sự làm căn cứ quản lý xuyên suốt.

Đến hết Quý IV năm 2026, hoàn thành xây dựng và đưa vào vận hành cơ sở dữ liệu dùng chung tại Trung tâm Dữ liệu Quốc gia làm nền tảng trung gian điều phối, liên thông dữ liệu giữa các cơ quan trong toàn bộ quy trình tố tụng hình sự và thi hành án hình sự; quản lý danh mục và trạng thái dữ liệu chia sẻ liên ngành (hồ sơ vụ án, quyết định tố tụng, lịch xét xử, bản án, quyết định thi hành án...); đồng bộ tự động theo phân quyền và cảnh báo, nhắc việc khi phát sinh cập nhật; bảo đảm thông tin liên thông được ký số, ghi nhật ký đầy đủ, đúng thẩm quyền, an toàn và bảo mật.

Vận hành toàn trình tố tụng hình sự trên toàn quốc vào cuối năm 2027

Đến hết năm 2027, triển khai trên phạm vi toàn quốc, bảo đảm vận hành toàn trình tố tụng hình sự và thi hành án hình sự trên môi trường số, đạt các chỉ tiêu: 100% tài liệu, hồ sơ vụ án hình sự đủ điều kiện được số hóa và quản lý thống nhất trong hồ sơ điện tử; văn bản tố tụng được tạo lập điện tử và ký số ngay khi ban hành, tài liệu giấy/chứng cứ được số hóa và gắn vào hồ sơ điện tử; hồ sơ giấy chỉ lưu theo yêu cầu bắt buộc để đối chiếu/kiểm tra.

100% tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được cấp chứng thư chữ ký số chuyên dùng công vụ; 100% văn bản điện tử đủ điều kiện được ký số theo thẩm quyền, ghi nhật ký đầy đủ, bảo đảm tính toàn vẹn và giá trị pháp lý.

100% hệ thống thông tin trong phạm vi Đề án được triển khai biện pháp bảo đảm an toàn thông tin theo cấp độ; dữ liệu bí mật nhà nước được bảo vệ theo quy định cơ yếu, quản lý truy cập theo phân quyền và lưu vết đầy đủ.

Bảo đảm kết nối đồng bộ giữa các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của từng ngành, từng lĩnh vực

Để đạt được mục tiêu trên, Đề án triển khai hoàn thiện môi trường pháp lý; xây dựng hạ tầng kỹ thuật; nâng cấp hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu; triển khai chữ ký số và số hóa hồ sơ điện tử; bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin; đào tạo và triển khai áp dụng.

Trong đó, mỗi bộ, ngành, cơ quan liên quan đến hoạt động tố tụng tận dụng tối đa hạ tầng kỹ thuật hiện có; xây dựng, hoàn thiện nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ, bảo đảm kết nối đồng bộ, thống nhất giữa các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu của từng ngành, từng lĩnh vực. Hạ tầng trung tâm dữ liệu được chuẩn hóa về máy chủ, hệ thống lưu trữ, sao lưu - khôi phục, thiết bị mạng, thiết bị an toàn thông tin, kèm nguồn điện dự phòng (UPS), hệ thống điều hòa, hệ thống phòng cháy chữa cháy và các thiết bị phụ trợ khác; đảm bảo đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, vận hành ổn định, lâu dài.

Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu nội bộ được thực hiện thông qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật về tích hợp, liên thông, đáp ứng đầy đủ yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh mạng và bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật; sử dụng nền tảng điều phối, chia sẻ dữ liệu tại Trung tâm Dữ liệu Quốc gia làm hạ tầng trung gian để kết nối, chia sẻ dữ liệu ngành.

Nâng cấp phát triển các phần mềm

Về phần mềm, Bộ Công an nâng cấp và phát triển phần mềm Điều tra hình sự phục vụ toàn bộ quy trình điều tra; tích hợp chữ ký số; chuẩn hóa dữ liệu; bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống; đáp ứng đầy đủ chức năng cho các Cơ quan điều tra và Cơ quan được giao một số hoạt động điều tra trên toàn quốc (bao gồm lực lượng thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo phạm vi chức năng); nâng cấp phần mềm quản lý tạm giữ, tạm giam và phần mềm quản lý thi hành án hình sự bảo đảm tích hợp chữ ký số, chuẩn hóa dữ liệu, bảo mật hệ thống; đáp ứng yêu cầu kết nối và phục vụ cả cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam và cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng theo cơ chế phối hợp.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao nâng cấp, hoàn thiện phần mềm nghiệp vụ kiểm sát, truy tố, tích hợp chữ ký số; chuẩn hóa dữ liệu; bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống; triển khai thống nhất đến các đơn vị trong ngành, bao gồm Viện kiểm sát quân sự.

Tòa án nhân dân tối cao nâng cấp, hoàn thiện phần mềm quản lý vụ án, vụ việc phục vụ xét xử, tích hợp chữ ký số; chuẩn hóa dữ liệu; bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống; triển khai thống nhất đến các cấp Tòa án, bao gồm Tòa án quân sự.

Về Cơ sở dữ liệu, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu hồ sơ điện tử tập trung của từng ngành, lưu trữ trên hạ tầng máy chủ của từng ngành (trong đó bao gồm cơ sở dữ liệu của cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án hình sự).

Số hóa toàn bộ tài liệu

Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam và cơ quan thi hành án hình sự số hóa toàn bộ tài liệu, văn bản phát sinh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Mỗi văn bản (biên bản hỏi cung, lời khai, kết luận giám định, cáo trạng, bản án, quyết định thi hành án hình sự...) được tạo lập dưới dạng điện tử và được ký số ngay khi ban hành theo quy định. Đối với chứng cứ vật chất hoặc tài liệu giấy, phải quét (scan) thành tệp điện tử và gắn vào hồ sơ điện tử...

Phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định số 423/QĐ-TTg ngày 11/3/2026 phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 (Quy hoạch).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 11/3/2026- Ảnh 2.

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch chung thành phố Hải Phòng đến 2050, tầm nhìn đến 2075.

Mục tiêu của Quy hoạch nhằm xây dựng phát triển Hải Phòng trở thành đô thị biển hiện đại, thông minh, có sức hút lan tỏa, khả năng cạnh tranh quốc tế; phát triển cân bằng giữa kinh tế - xã hội - môi trường; là hình mẫu về quản trị phát triển đô thị bền vững có bản sắc, bảo vệ tài nguyên và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đồng thời, cụ thể hóa các định hướng phát triển thành phố Hải Phòng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và vùng; làm cơ sở pháp lý quan trọng về quản lý quy hoạch đô thị và nông thôn; hoạch định các chính sách, kiến tạo các động lực phát triển; làm cơ sở cho việc lập, điều chỉnh các quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, chương trình phát triển đô thị và quản lý đầu tư xây dựng theo quy hoạch.

Bên cạnh đó, tạo lập nền tảng không gian và hạ tầng cho phát triển các đô thị, các trung tâm về văn hóa, kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; nâng cao năng lực liên kết vùng, kết nối quốc gia và quốc tế.

Tổng diện tích tự nhiên lập quy hoạch khoảng 3.194,72 km²

Theo phê duyệt, phạm vi quy hoạch là toàn bộ địa giới hành chính của thành phố Hải Phòng sau sáp nhập (theo Nghị quyết số 1669/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) và khu vực không gian biển có liên quan theo quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm 114 đơn vị hành chính cấp xã.

Tổng diện tích tự nhiên lập quy hoạch khoảng 3.194,72 km² (theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp Tỉnh), bao gồm phần đất liền, khu vực đảo ven bờ và biển đảo.

Về quy mô dân số, dự kiến đến năm 2040, tổng quy mô dân số toàn thành phố là khoảng 6,50 - 6,80 triệu người (trong đó dân số thực tế thường trú khoảng: 5,20 - 5,50 triệu người). Dự kiến đến năm 2050, tổng quy mô dân số toàn thành phố là khoảng 8,50 - 9,50 triệu người (trong đó dân số thực tế thường trú khoảng: 7,50 - 8,00 triệu người).

Về quy mô đất đai, dự báo đất xây dựng toàn đô thị (chưa bao gồm đất dành cho công trình hạ tầng đầu mối quy mô lớn) đến năm 2040 là khoảng 100.000 - 120.000 ha; đến năm 2050 là khoảng 160.000 - 180.000 ha.

8 yêu cầu trọng tâm đối với quy hoạch

Quyết định đưa ra 8 yêu cầu trọng tâm đối với quy hoạch chung như sau:

1. Nghiên cứu phát triển thành phố Hải Phòng trong mối liên kết chặt chẽ với các tỉnh, thành phố trong vùng động lực phía Bắc, vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Thủ đô Hà Nội; làm rõ vai trò của Hải Phòng là cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế biển, cửa ngõ giao thương quốc tế của khu vực.

Đồng thời, định hướng tổ chức không gian và hạ tầng bảo đảm phát huy vai trò liên kết vùng, tăng cường tính bổ trợ và phân công chức năng giữa Hải Phòng với các đô thị lớn trong vùng.

2. Rà soát, đánh giá việc thực hiện các quy hoạch đã được phê duyệt; xác định các nội dung kế thừa, các tồn tại, hạn chế và những vấn đề chưa phù hợp trong bối cảnh phát triển mới và sau sáp nhập đơn vị hành chính.

Nghiên cứu cập nhật, tích hợp các chủ trương, định hướng của quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng và các quy hoạch ngành có liên quan; tổ chức không gian phát triển đồng bộ giữa khu vực phía Đông và phía Tây thành phố Hải Phòng.

3. Nghiên cứu định hướng phát triển khung hạ tầng giao thông và các đầu mối vận tải đa phương thức tại các khu vực động lực kinh tế, gắn với hệ thống cảng biển, cảng hàng không, đường sắt quốc gia và mạng lưới giao thông thủy.

Đồng thời, làm rõ vai trò của tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, tuyến đường sắt Đông Anh - Gia Bình - Hạ Long; nghiên cứu mạng lưới đường sắt đô thị, mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD) tại các khu vực trọng điểm; bảo đảm kết nối đồng bộ với các tỉnh trong vùng Thủ đô Hà Nội và vùng đồng bằng sông Hồng theo từng giai đoạn.

4. Nghiên cứu định hướng phát triển không gian đối với các khu vực trọng điểm của thành phố, trong đó tập trung tái thiết, chỉnh trang các khu đô thị cũ và khu vực trung tâm lịch sử, bao gồm khu phố cũ phía Đông (thành phố Hải Phòng cũ), khu phố cũ phía Tây (thành phố Hải Dương cũ); nghiên cứu tổ chức không gian và trục kết nối các cụm phường với khu vực trung tâm hành chính thành phố.

Bên cạnh đó, định hướng quy hoạch khung tự nhiên và thiết kế đô thị - cảnh quan đối với các không gian mặt nước ven sông, ven biển; xác định rõ các khu vực bảo tồn sinh thái, vùng đệm chuyển tiếp và khu vực phát triển có kiểm soát, đặc biệt là vùng núi Chí Linh - Côn Sơn, quần đảo Cát Bà, vùng trũng ven biển và hệ thống rừng ngập mặn; định hướng trục không gian đô thị hai bên sông Cấm.

Bảo tồn, phát huy các giá trị kiến trúc đô thị; nghiên cứu mối quan hệ giữa không gian biển với hệ thống cảng biển (Lạch Huyện, Nam Đồ Sơn), không gian du lịch và các khu vực bảo tồn sinh thái biển.

5. Nghiên cứu định hướng phát triển mạng lưới khu, cụm công nghiệp và dịch vụ logistics theo hướng hiện đại, chuyên sâu, tích hợp với hạ tầng giao thông và các đầu mối vận tải đa phương thức; bảo đảm hiệu quả sử dụng đất, kiểm soát môi trường và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế biển.

6. Đề xuất các mô hình phát triển nông nghiệp tập trung, nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao gắn với vùng sản xuất nông nghiệp đặc sản; định hướng tổ chức không gian cư trú nông thôn phù hợp với quá trình đô thị hóa, bảo đảm sinh kế bền vững và gìn giữ bản sắc nông thôn.

7. Định hướng phát triển không gian ngầm và hạ tầng kỹ thuật theo quy định pháp luật, trong đó yêu cầu tập trung bổ sung, nghiên cứu sâu và tham khảo kinh nghiệm quốc tế vào các chuyên đề: Hệ thống đường sắt đô thị và mô hình TOD; quy hoạch và khai thác hiệu quả không gian ngầm đô thị; giải pháp phát triển đô thị thông minh gắn với hạ tầng thông tin, khoa học và công nghệ; hệ thống vận tải đa phương thức và logistics; mạng lưới giao thông thủy nội vùng; luận chứng xác định vị trí, quy mô các cảng hàng không; hệ thống bãi đỗ xe tại các khu vực có mật độ dân cư và hoạt động cao; phát triển vận tải công cộng bằng xe buýt gắn với chuyển đổi xanh; giải pháp tăng cường khả năng chống chịu trước thiên tai và biến đổi khí hậu; bảo đảm an toàn cung cấp nước, bảo vệ nguồn nước và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, năng lượng xanh.

Đồng thời, giải quyết các tồn tại, bất cập về giao thông chồng chéo giữa giao thông đối nội và đối ngoại; nghiên cứu bố trí bến xe đối ngoại, tổ hợp đa chức năng gắn với các đầu mối giao thông và logistics; hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật khung còn thiếu như nhà máy nước, cơ sở xử lý rác thải, nước thải, nhà tang lễ, nghĩa trang.

Ngoài ra, thống nhất, đồng bộ dữ liệu dự báo và định hướng phát triển; bảo đảm liên thông với Quy hoạch thành phố Hải Phòng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và các quy hoạch ngành, quy hoạch chuyên ngành đang triển khai.

8. Đề xuất các giải pháp phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại, chất lượng cao; giải quyết các vấn đề môi trường đô thị và nông thôn, hướng tới phát triển bền vững.

Ngoài ra, Quyết định cũng đề ra các yêu cầu nghiên cứu đối với các nội dung quy hoạch như: nghiên cứu, phân tích vị trí, vai trò và liên kết vùng; đánh giá hiện trạng tổng hợp về hệ thống đô thị và khu chức năng, dân số và phân bố dân cư, sử dụng đất, kiến trúc cảnh quan, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và môi trường; đánh giá công tác quản lý và thực hiện quy hoạch; bám sát định hướng quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch thành phố; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế; dự báo quy mô dân số, lao động, đất đai; xác định mô hình phát triển đô thị, cấu trúc không gian tổng thể; định hướng phát triển không gian ngầm và hạ tầng kỹ thuật; đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu; xác định các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư theo từng giai đoạn…

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 426/QĐ-TTg ngày 11/3/2026 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam.

Theo Quyết định, Ủy ban sông Mê Công Việt Nam là tổ chức phối hợp liên ngành, giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những công việc quan trọng, liên ngành, liên tỉnh, liên quốc gia nhằm quản lý và sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan trên lưu vực sông Mê Công, bao gồm cả các lưu vực sông Cửu Long và sông Sê San - Srêpốk của Việt Nam theo quy định của Hiệp định Hợp tác Phát triển Bền vững lưu vực sông Mê Công, Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản pháp luật có liên quan.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam

Ủy ban sông Mê Công Việt Nam có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ phương hướng, giải pháp để giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành, liên quốc gia trên lưu vực sông Mê Công, bao gồm cả các lưu vực sông Cửu Long và sông Sê San - Srêpốk của Việt Nam.

Giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, đôn đốc việc phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, đối tác quốc tế, khu vực, trong nước và các cá nhân có liên quan trong theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các hoạt động liên ngành trên lưu vực sông Mê Công, bao gồm cả các lưu vực sông Cửu Long và sông Sê San - Srêpốk của Việt Nam.

Giúp Thủ tướng Chính phủ đôn đốc các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện Hiệp định Hợp tác Phát triển Bền vững lưu vực sông Mê Công và các quy chế, thủ tục liên quan; thực hiện các quy hoạch về tài nguyên nước và các quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch tỉnh, quy hoạch liên tỉnh, liên ngành, quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành có nội dung khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên các lưu vực sông Cửu Long và sông Sê San - Srêpốk; thực hiện các chương trình, đề án, dự án đã được phê duyệt trên các lưu vực sông Cửu Long và sông Sê San- Srêpốk.

Đồng thời, phối hợp với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố liên quan trình Thủ tướng Chính phủ các chương trình, đề án, dự án, hoạt động về phát triển bền vững, sử dụng, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan trên lưu vực sông Mê Công, bao gồm cả các lưu vực sông Cửu Long và sông Sê San - Srêpốk.

Ủy ban sông Mê Công Việt Nam là đầu mối hợp tác với các quốc gia trong lưu vực Mê Công, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế để cụ thể hoá và tổ chức thực hiện Hiệp định Hợp tác Phát triển Bền vững lưu vực sông Mê Công; phối hợp, tham gia ý kiến đối với các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế hợp tác tiểu vùng Mê Công có liên quan.

Tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ và đề xuất các giải pháp giảm thiểu tác động của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia thượng nguồn tới các vùng lãnh thổ của Việt Nam thuộc lưu vực sông Mê Công trong bối cảnh biến đổi khí hậu; tác động của các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong lưu vực sông Mê Công có tác động xuyên biên giới.

Theo dõi, giám sát diễn biến tài nguyên nước, các hoạt động sử dụng, bảo vệ, phát triển bền vững tài nguyên nước và tài nguyên liên quan trên lưu vực sông Mê Công nhằm đảm bảo sử dụng công bằng và hợp lý nguồn nước sông Mê Công, bảo vệ quyền lợi của Việt Nam thông qua quy hoạch tổng thể, các dự án hợp tác và nghiên cứu khoa học công nghệ cho lưu vực Mê Công, đặc biệt là các dự án trên dòng chính.

Xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước và tài nguyên liên quan trên lưu vực sông Mê Công phục vụ việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam và các cam kết quốc tế có liên quan; tổ chức tuyên truyền về phát triển bền vững, sử dụng, quản lý hiệu quả và bảo vệ tài nguyên nước và tài nguyên liên quan trên lưu vực sông Mê Công; huy động các nguồn lực trong nước và quốc tế để hỗ trợ việc thực hiện các nhiệm vụ về tài nguyên nước và bảo vệ môi trường trên các lưu vực sông Cửu Long và sông Sê San - Srêpốk...

Cơ cấu tổ chức của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam

Chủ tịch Ủy ban sông Mê Công Việt Nam là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiêm Ủy viên Hội đồng Ủy hội sông Mê Công quốc tế của Việt Nam.

Phó Chủ tịch gồm: Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Phó Chủ tịch Thường trực); Thứ trưởng Bộ Ngoại giao và Thứ trưởng Bộ Tài chính.

Ủy viên của Ủy ban sông Mê Công Việt Nam là đại diện lãnh đạo các Bộ: Công Thương, Xây dựng, Khoa học và Công nghệ, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Quốc phòng, Công an. Chánh Văn phòng Ủy ban sông Mê Công Việt Nam kiêm Ủy viên Ủy ban Liên hợp Ủy hội sông Mê Công quốc tế của Việt Nam.

Ngoài ra, Ủy viên của Ủy ban còn có đại diện lãnh đạo các Cục: Quản lý tài nguyên nước, Môi trường, Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Đại diện lãnh đạo của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có diện tích/ địa giới hành chính thuộc lưu vực sông Cửu Long và lưu vực sông Sê San -Srêpốk, bao gồm: An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, Đắk Lắk, Đồng Tháp, Gia Lai, Lâm Đồng, Tây Ninh, Vĩnh Long, và Quảng Ngãi.

Đại diện lãnh đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam; đại diện một số tổ chức khai thác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước có quy mô lớn hoặc có tác động lớn tới nguồn nước của lưu vực sông Mê Công; các nhà khoa học; các tổ chức chính trị - xã hội được mời tham gia các cuộc họp của Ủy ban và các Tiểu ban khi cần thiết.

Ủy ban sông Mê Công Việt Nam có Tiểu ban lưu vực sông Cửu Long và Tiểu ban lưu vực sông Sê San - Srêpốk.

Văn phòng Thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam

Văn phòng Thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam là tổ chức giúp việc Ủy ban sông Mê Công Việt Nam, đặt tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Văn phòng Thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam có Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Lãnh đạo Văn phòng Thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam có Chánh Văn phòng, không quá 03 Phó Chánh Văn phòng chuyên trách do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chủ tịch Ủy ban bổ nhiệm, miễn nhiệm./.