Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1033/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030 (Chương trình).

Xây dựng nền kinh tế số năng động dựa trên nền tảng số, dữ liệu và AI
Mục tiêu xây dựng nền kinh tế số năng động dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo; từng bước hình thành phương thức sản xuất mới, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động, phát triển xanh và bền vững.
Đồng thời, kiến tạo xã hội số văn minh, an toàn và bao trùm, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận và thụ hưởng các thành quả của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của người dân.
Hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số
Về kinh tế số, Chương trình phấn đấu tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%; hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu.
Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP. Tỷ trọng quy mô đào tạo giáo dục đại học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán (STEM) đạt 40%.
Về xã hội số, phấn đấu tỷ lệ hộ gia đình được tiếp cận mạng Internet băng rộng cáp quang với tốc độ 1 Gb/s đạt 100%.
Mạng băng rộng di động 5G đạt tốc độ tối thiểu 100 Mb/s, phủ sóng 99% dân số; 100% công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên có căn cước, tài khoản định danh điện tử; tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác đạt 95%; tỷ lệ dân số từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân đạt trên 70%; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực số cơ bản cho tối thiểu 10.000.000 lượt người trong độ tuổi lao động.
Phát triển hạ tầng số nhanh, đồng bộ, hiện đại, an toàn và bền vững
Để đạt được những mục tiêu trên, Chương trình đưa ra 15 nhiệm vụ, giải pháp trọng tầm cần thực hiện:
1. Hoàn thiện thể chế, xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế số, xã hội số.
Trọng tâm là hoàn thiện thể chế về dữ liệu; phát triển kinh tế dữ liệu; ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các mô hình kinh tế mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; thúc đẩy thị trường số cạnh tranh lành mạnh; hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn phù hợp với thông lệ quốc tế; tăng cường điều phối liên ngành và hiệu quả thực thi.
Xây dựng, cập nhật và công bố hệ thống chỉ tiêu thống kê, phương pháp đo lường, cơ chế báo cáo và chia sẻ dữ liệu thống kê về kinh tế số.
2. Phát triển hạ tầng số nhanh, đồng bộ, hiện đại, an toàn và bền vững, bảo đảm kết nối số toàn dân và tạo nền tảng cho kinh tế số, xã hội số.
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư các hạ tầng số chiến lược và hạ tầng số công cộng thiết yếu; doanh nghiệp phát triển các hạ tầng số khác theo cơ chế thị trường.
Đẩy mạnh phát triển hạ tầng băng rộng, 5G và thế hệ mạng di động tiếp theo, Internet vệ tinh quỹ đạo tầm thấp.
Phát triển hạ tầng tính toán và lưu trữ dữ liệu gồm trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, hạ tầng tính toán hiệu năng cao, hạ tầng phục vụ trí tuệ nhân tạo theo mô hình dịch vụ.
Phát triển hạ tầng số tin cậy, bảo đảm an ninh mạng; tối ưu hóa, thông minh hóa hạ tầng truyền thống; thúc đẩy phát triển hạ tầng số xanh, tiết kiệm năng lượng.
Tăng cường kết nối, liên thông và công nhận lẫn nhau hạ tầng số công cộng trong nước và quốc tế.
Thúc đẩy doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số phục vụ quản trị, sản xuất, kinh doanh
3. Phát triển nền tảng số dùng chung, nền tảng số quốc gia và hệ sinh thái số do Việt Nam làm chủ, ưu tiên giải quyết các bài toán kinh tế, xã hội và môi trường mang tính liên ngành, liên vùng.
Thúc đẩy doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số phục vụ quản trị, sản xuất, kinh doanh; hình thành hệ thống dữ liệu thời gian thực, tăng cường chia sẻ và tích hợp dịch vụ.
Khuyến khích doanh nghiệp phát triển nền tảng số theo mô hình dịch vụ, mở API, kết nối liên thông, hình thành hệ sinh thái số theo từng ngành, lĩnh vực.
4. Phát triển kinh tế dữ liệu trở thành nguồn lực mới và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế số.
Tập trung xây dựng, phát triển các cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu chuyên ngành; xây dựng mô hình quản trị dữ liệu, trong đó thúc đẩy chia sẻ, kết nối dữ liệu giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, tạo điều kiện cho việc khai thác, sử dụng dữ liệu mở, dữ liệu được chia sẻ và dữ liệu đã được xử lý, ẩn danh theo quy định của pháp luật để phát triển sản phẩm, dịch vụ số; phát triển dữ liệu mở và hình thành thị trường dữ liệu bảo đảm phù hợp với khung kiến trúc dữ liệu, khung quản trị, quản lý dữ liệu, từ điển dữ liệu.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài sản dữ liệu, quyền sở hữu, khai thác và phân phối giá trị dữ liệu; thí điểm sàn giao dịch dữ liệu và cơ chế lưu chuyển dữ liệu, bao gồm luồng dữ liệu xuyên biên giới phù hợp với quy định về an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Phát triển hạ tầng dữ liệu, công nghiệp dữ liệu và các nền tảng khai thác, phân tích dữ liệu; tổ chức nghiên cứu, xây dựng phương pháp đo lường kinh tế dữ liệu phục vụ hoạch định chính sách và thúc đẩy đổi mới sáng tạo dựa trên dữ liệu.
Xây dựng các tình huống khai thác, sử dụng, tái sử dụng dữ liệu trong các hoạt động kinh tế - xã hội trên môi trường số.
Thúc đẩy ứng dụng AI trong các ngành, lĩnh vực nhằm nâng cao năng suất
5. Thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong các ngành, lĩnh vực nhằm nâng cao năng suất, tối ưu hóa vận hành và đổi mới phương thức ra quyết định trên dữ liệu, bảo đảm các nguyên tắc về đạo đức trí tuệ nhân tạo, an toàn và bảo vệ quyền riêng tư.
Mỗi bộ, ngành, lĩnh vực xác định và triển khai các bài toán trọng điểm có thể giải quyết hiệu quả bằng AI để thí điểm, đánh giá và nhân rộng các mô hình thành công.
Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận và ứng dụng AI trong sản xuất, kinh doanh, góp phần hình thành hệ sinh thái ứng dụng AI rộng khắp trong nền kinh tế và xã hội.
6. Bảo đảm an ninh mạng để xây dựng niềm tin số trong phát triển kinh tế số và xã hội số.
Hoàn thiện thể chế về an ninh mạng theo nguyên tắc an toàn từ khâu thiết kế, phát triển và vận hành hạ tầng số, nền tảng số; triển khai mô hình bảo vệ nhiều lớp, tăng cường giám sát và ứng cứu sự cố.
Phổ cập các công cụ, nền tảng bảo vệ người dân và doanh nghiệp trên môi trường số; xây dựng hệ sinh thái tín nhiệm mạng và phát triển thị trường bảo hiểm an ninh mạng.
Đồng thời nâng cao năng lực quốc gia về an ninh mạng thông qua việc xây dựng các trung tâm an ninh mạng theo chuẩn quốc tế; ban hành các tiêu chuẩn an toàn cho các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối, điện toán đám mây, dữ liệu lớn và các công nghệ tiên tiến khác.
Phát triển nguồn nhân lực số toàn diện
7. Phát triển nguồn nhân lực số toàn diện, bao gồm nhân lực công nghệ số, chuyên gia công nghệ số và lực lượng lao động có năng lực số; phổ cập năng lực số toàn xã hội.
Đào tạo nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ số chiến lược; thúc đẩy học tập suốt đời và chuyển đổi kỹ năng cho người lao động phù hợp với xu thế công nghệ và nhu cầu thị trường lao động. Thúc đẩy các mô hình đào tạo gắn với thực tiễn và doanh nghiệp, tăng cường liên kết giữa cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo.
Phát triển thị trường lao động và cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài, chuyên gia công nghệ số trong và ngoài nước, lực lượng chuyên trách bảo đảm an ninh mạng phù hợp với đặc thù ngành, lĩnh vực, vùng, miền.
Nâng cao năng lực dự báo nhu cầu nhân lực và xu thế nghề nghiệp trong lĩnh vực công nghệ; kết nối lao động và việc làm thông qua các nền tảng số ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo.
8. Phát triển công dân số và văn hóa số làm nền tảng xã hội số an toàn, lành mạnh và bao trùm.
Hình thành công dân số với định danh điện tử, năng lực số an toàn, có trách nhiệm; tăng cường hợp tác quốc tế, thúc đẩy các sáng kiến khu vực về công dân số và công nhận lẫn nhau về năng lực số, tiêu chuẩn nghề nghiệp.
Phát triển các nền tảng số và mạng xã hội an toàn, lành mạnh mang bản sắc Việt Nam. Tổ chức đánh giá toàn diện tác động của công nghệ đối với đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa để chủ động kiểm soát, giảm thiểu các tác động tiêu cực do công nghệ mang lại.
Mở rộng các tiện ích trên nền tảng VNeID phục vụ người dân, doanh nghiệp và các hoạt động kinh tế - xã hội; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu khác, từng bước nghiên cứu khả năng liên thông, công nhận lẫn nhau giữa các quốc gia trong khu vực.
Phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt
9. Phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt, làm chủ công nghệ số chiến lược, phát triển hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm "Make in Vietnam" và vươn ra thị trường quốc tế.
Phát huy vai trò dẫn dắt của các doanh nghiệp công nghệ lớn, doanh nghiệp nhà nước thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Khuyến khích doanh nghiệp công nghệ số chủ động áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật về an ninh mạng và tăng cường phối hợp, trao đổi, cung cấp thông tin với cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật.
10. Phát triển quản trị số quốc gia dựa trên dữ liệu, minh bạch, hiệu quả; đẩy mạnh số hóa, tự động hóa quản lý và cung cấp dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp.
Thúc đẩy ra quyết định dựa trên dữ liệu thời gian thực; hoàn thiện cơ chế quản trị nền tảng số và thử nghiệm chính sách; tăng cường sự tham gia của người dân, doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả giám sát, đánh giá.
11. Thúc đẩy phát triển các thị trường hiện đại phục vụ kinh tế số, trong đó tập trung vào thị trường đổi mới sáng tạo và công nghệ, thị trường dữ liệu, thị trường tín chỉ carbon, sàn giao dịch tài sản và hệ thống các tổ chức định giá độc lập, trung tâm phân tích và cảnh báo rủi ro chuỗi cung ứng; bảo đảm vận hành minh bạch, an toàn, hiệu quả, công bằng.
12. Phát triển kinh tế số và xã hội số ngành, lĩnh vực: Nông nghiệp; tài nguyên và môi trường; du lịch; văn hóa, thể thao; thương mại; Logistics; công nghiệp chế biến, chế tạo; năng lượng; giáo dục và đào tạo; lao động và việc làm; an sinh xã hội;...
13. Tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương với doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở đào tạo và các chủ thể kinh tế trong đầu tư, xây dựng, khai thác hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu và dịch vụ số; phát triển nguồn nhân lực số; triển khai thử nghiệm có kiểm soát với công nghệ, dịch vụ mới; tăng cường chia sẻ, nhân rộng các mô hình hiệu quả.
Thu hút công nghệ, tri thức và nhân lực chất lượng cao từ nước ngoài gắn với chuyển giao công nghệ; chủ động tham gia các sáng kiến, thỏa thuận quốc tế về kinh tế số, xã hội số; thúc đẩy xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường quốc tế cho doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.
14. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức về kinh tế số, xã hội số thông qua các diễn đàn, hội nghị, triển lãm trong nước và quốc tế; lan tỏa hình ảnh Việt Nam chủ động trong kỷ nguyên số gắn với phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa và du lịch.
Phát triển các kênh truyền thông, hỗ trợ tư vấn, hỏi đáp và trợ lý ảo nhằm giúp người dân, doanh nghiệp hiểu, tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi hiệu quả từ công nghệ số.
15. Chủ động nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế, cập nhật các xu hướng công nghệ mới và mô hình phát triển tiên tiến để kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế số và xã hội số; bảo đảm Chương trình có tính mở, linh hoạt và thích ứng cao trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1039/QĐ-TTg về việc giao bổ sung dự toán ngân sách trung ương, kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách trung ương cho các bộ, cơ quan trung ương, UBND các tỉnh, thành phố thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia, phòng chống ma túy đến năm 2030 và Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035, giai đoạn I từ năm 2025-2030.
Quyết định nêu rõ, giao bổ sung dự toán ngân sách trung ương, kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách trung ương năm 2026 cho các bộ, cơ quan trung ương và UBND tỉnh, thành phố thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 và Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035, giai đoạn I từ năm 2025 đến năm 2030 tại Phụ lục kèm theo.
Căn cứ dự toán ngân sách trung ương, kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách trung ương năm 2026 được giao bổ sung, các bộ, cơ quan trung ương và UBND tỉnh, thành phố thực hiện việc phân bổ, giao bổ sung dự toán ngân sách nhà nước, kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 của Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 và Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035, giai đoạn I từ năm 2025 đến năm 2030 cho các cơ quan, đơn vị, cấp trực thuộc bảo đảm tuân thủ quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Nghị định số 358/2025/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Chính phủ quy định cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các quy định có liên quan; ưu tiên bố trí vốn đầu tư công cho các nhiệm vụ, dự án đủ thủ tục đầu tư; sử dụng ngân sách tiết kiệm, hiệu quả, không trùng lặp với các chương trình, dự án khác hoặc trùng lặp nội dung sử dụng kinh phí thường xuyên và vốn đầu tư công trong cùng chương trình; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, đặc biệt là chi hội nghị, hội thảo, đi công tác trong và ngoài nước theo đúng chủ trương tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 02 tháng 4 năm 2026 của Ban Chấp hành Trung ương về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số".
Bố trí ngân sách địa phương thực hiện từng chương trình theo quy định tại Điều 7 Quyết định số 41/2025/QĐ-TTg ngày 10 tháng 11 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035 và tại điểm c khoản 2 Điều 5 Quyết định số 05/2026/QĐ-TTg ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030.
Các bộ, cơ quan trung ương và UBND tỉnh, thành phố báo cáo kết quả phân bổ ngân sách trung ương, bố trí ngân sách địa phương và kết quả giải ngân vốn đầu tư công, kinh phí thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2026 của từng chương trình mục tiêu quốc gia về Bộ Tài chính, Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước ngày 20 hằng tháng.
Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm giám sát, đôn đốc tiến độ phân bổ dự toán ngân sách nhà nước, kế hoạch đầu tư công năm 2026 và tổ chức thực hiện, giải ngân đạt 100% dự toán, kế hoạch từng chương trình mục tiêu quốc gia tại các bộ, cơ quan trung ương và địa phương; tổng hợp tình hình thực hiện, giải ngân dự toán ngân sách nhà nước, kế hoạch đầu tư công năm 2026 của Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống ma túy đến năm 2030 và Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035, giai đoạn I từ năm 2025 đến năm 2030, gửi Bộ Tài chính trước ngày 25 hằng tháng.
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1040/QĐ-TTg ngày 11/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển giao Vườn quốc gia Ba Vì thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường về Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội quản lý.

Chuyển giao Vườn quốc gia Ba Vì về Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội quản lý.
Quyết định nêu rõ: Chuyển thẩm quyền quản lý và chuyển giao nguyên trạng Vườn quốc gia Ba Vì thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường về Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội quản lý.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức bàn giao nguyên trạng tổ chức bộ máy, nhân sự, tài nguyên rừng, đất đai, tài sản, tài chính, tài liệu và các quyền, nghĩa vụ có liên quan của Vườn quốc gia Ba Vì về Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội quản lý theo đúng quy định.
Đồng thời, giao Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức tiếp nhận Vườn quốc gia Ba Vì từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và thực hiện quản lý theo đúng quy định pháp luật.
Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ thống nhất quản lý toàn bộ diện tích, ranh giới Vườn quốc gia Ba Vì thuộc địa giới hành chính của tỉnh Phú Thọ theo quy định pháp luật đất đai, tài nguyên, tài sản, đầu tư, ngân sách nhà nước và các quy định pháp luật khác có liên quan.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (11/6/2026).
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Quyết định số 1038/QĐ-TTg ngày 11/6/2026 ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Xây dựng.
Theo đó, 30 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Xây dựng bao gồm:
1. Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông vận tải.
2. Viện Khoa học công nghệ xây dựng.
3. Viện Vật liệu xây dựng.
4. Viện Kinh tế xây dựng.
5. Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia.
6. Viện Kiến trúc quốc gia.
7. Học viện Hàng không Việt Nam.
8. Trường Đại học Hàng hải Việt Nam.
9. Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh.
10. Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải.
11. Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội.
12. Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh.
13. Trường Đại học Xây dựng miền Trung.
14. Trường Đại học Xây dựng miền Tây.
15. Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh.
16. Ban Quản lý dự án Thăng Long.
17. Ban Quản lý dự án 2.
18. Ban Quản lý dự án 7.
19. Ban Quản lý dự án 85.
20. Ban Quản lý dự án Hàng hải và Đường thủy.
21. Ban Quản lý dự án Đường sắt.
22. Ban Quản lý dự án Mỹ Thuận.
23. Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng chuyên ngành - Bộ Xây dựng.
24. Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Trung ương I.
25. Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Trung ương II.
26. Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Trung ương III.
27. Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Trung ương IV.
28. Trường Cao đẳng Giao thông vận tải Trung ương V.
29. Nhà xuất bản Xây dựng.
30. Trung tâm Y tế - Môi trường lao động Xây dựng.
Quyết định trên có hiệu lực từ ngày 11/6/2026; thay thế Quyết định số 181/QĐ-TTg ngày 19/2/2024 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Giao thông vận tải và Quyết định số 996/QĐ-TTg ngày 25/8/2023 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Xây dựng.
Quyết định nêu rõ, Trường Cao đẳng nghề Lilama 1, Trung tâm Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Sầm Sơn trực thuộc Bộ Xây dựng tiếp tục duy trì hoạt động và được bố trí kinh phí hoạt động trong dự toán ngân sách nhà nước của Bộ Xây dựng cho đến khi hoàn thành việc chuyển giao nguyên trạng về địa phương quản lý.
Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan và Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (nơi có trụ sở của các đơn vị sự nghiệp công lập) khẩn trương thực hiện việc chuyển giao nguyên trạng Trường Cao đẳng nghề Lilama 1 và Trung tâm Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Sầm Sơn về địa phương quản lý, hoàn thành trước ngày 31/12/2026.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1033/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 - 2030 (Chương trình).
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 203/2026/NĐ-CP ngày 11/6/2026 quy định về thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc.
Nghị định này quy định về quy trình thực hiện việc tiêm thuốc độc; thuốc tiêm, cở sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện sử dụng cho thi hành án tử hình; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án tử hình; chi phí mai táng người đã bị thi hành án tử hình và chế độ, chính sách đối với người tham gia thi hành án tử hình bằng tiêm thuốc độc.
Quy trình thực hiện tiêm thuốc độc
Quy trình tiêm thuốc độc đối với người bị thi hành án tử hình được thực hiện như sau:
Chuẩn bị các điều kiện trước khi tiêm thuốc độc
1. Thi hành án tử hình phải thực hiện đúng quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 77 Luật Thi hành án hình sự năm 2025; quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Thuốc sử dụng cho thi hành án tử hình phải được Hội đồng thi hành án tử hình kiểm tra, mở niêm phong và lập biên bản theo quy định.
3. Người bị thi hành án tử hình được cố định vào giường với tư thế nằm ngửa, bảo đảm không làm cản trở sự lưu thông máu.
Tiến hành tiêm thuốc độc
Cán bộ trực tiếp thi hành án tử hình chịu trách nhiệm thực hiện các bước sau:
1. Tiếp nhận 03 liều thuốc từ Hội đồng thi hành án tử hình (trong đó có 02 liều thuốc dự phòng).
2. Xác định tĩnh mạch người bị thi hành án tử hình để thực hiện tiêm thuốc độc; trường hợp không xác định được tĩnh mạch thì báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để yêu cầu cán bộ y tế hỗ trợ xác định tĩnh mạch.
3. Đưa kim tiêm vào tĩnh mạch đã được xác định và nối với đường ống dẫn được gắn sẵn vào máy tiêm thuốc theo quy trình:
Bước 1: Tiêm thuốc làm mất tri giác;
Sau khi tiêm thuốc xong cán bộ chuyên môn thực hiện thi hành án tử hình phải tiến hành kiểm tra nếu người bị thi hành án tử hình chưa mất tri giác thì tiếp tục tiêm thuốc cho đến khi họ mất tri giác;
Bước 2: Tiêm thuốc làm liệt hệ vận động;
Bước 3: Tiêm thuốc làm ngừng hoạt động của tim.
4. Kiểm tra hoạt động tim của người bị thi hành án tử hình qua máy theo dõi điện tim. Trường hợp sau mười phút tiêm xong liều thứ nhất mà người bị thi hành án tử hình chưa chết, cán bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để ra lệnh tiêm liều thứ hai.
Sau mười phút tiêm liều thứ hai mà người bị thi hành án tử hình chưa chết, cán bộ kiểm tra phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình để ra lệnh tiêm liều thứ ba.
Trường hợp tiêm hết liều thuốc thứ ba sau mười phút mà người bị thi hành án chưa chết thì Đội trưởng Đội Thi hành án tử hình phải báo cáo Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình quyết định tạm dừng thi hành án tử hình.
5. Việc thực hiện các bước tiêm theo quy định tại các khoản 3 và 4 Điều này có thể được tiến hành theo phương pháp tự động hoặc trực tiếp.
Kết thúc tiêm thuốc độc
1. Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, bác sĩ pháp y tiến hành kiểm tra, xác định tình trạng của người đã bị thi hành án tử hình và báo cáo kết quả cho Hội đồng thi hành án tử hình.
2. Sau khi bác sĩ pháp y kết luận người đã bị thi hành án tử hình đã chết, theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, cán bộ thi hành án tử hình rút kim tiêm, đường ống dẫn ra khỏi người đã bị thi hành án tử hình.
3. Hội đồng thi hành án tử hình lập biên bản theo quy định về việc người bị thi hành án tử hình đã chết.
4. Thuốc dự phòng không sử dụng hết thì cán bộ thi hành án tử hình bàn giao lại để bảo quản theo quy định.
Ngoài ra, Điều 13 của Nghị định 203/2026/NĐ-CP cũng quy định trách nhiệm của trại tạm giam nơi giam giữ người bị kết án tử hình, trong đó nêu rõ việc tổ chức cho người chấp hành án tử hình ăn, uống (được hưởng bằng 5 lần tiêu chuẩn của ngày Lễ, Tết quy định đối với người bị tạm giam), viết thư, ghi âm lời nói gửi lại gia đình của người chấp hành án.
Đồng thời, bàn giao cho gia đình hoặc người đại diện hợp pháp của người đã bị thi hành án tử hình đầy đủ giấy tờ, đồ vật, tài sản, tiền mà người bị thi hành án tử hình gửi lại trong thời gian bị giam giữ (nếu có); hồ sơ của người đã bị thi hành án tử hình theo quy định.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026./.