• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/5/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/5/2026.

13/05/2026 17:14

Phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045 

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 840/QĐ-TTg ngày 13/5/206 phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp công nghệ số giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045 (Chương trình).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/5/2026- Ảnh 1.

Năm 2045, Việt Nam là trung tâm công nghiệp công nghệ số hàng đầu khu vực

Lấy doanh nghiệp làm trung tâm để phát triển công nghiệp công nghệ số

Quan điểm phát triển công nghiệp công nghệ số là phát triển một ngành kinh tế - kỹ thuật, ngành công nghiệp nền tảng, giữ vai trò động lực then chốt để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tạo nền móng vững chắc cho chuyển đổi số quốc gia; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số; đóng vai trò quyết định trong việc hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Lấy doanh nghiệp làm trung tâm, xác định khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất để phát triển công nghiệp công nghệ số, trong đó, chú trọng huy động các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các tập đoàn tư nhân lớn chuyển dịch, đầu tư, phát triển ngành công nghiệp công nghệ số. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, xây dựng hành lang pháp lý, quy hoạch hạ tầng công nghiệp công nghệ số và tạo lập thị trường thông qua việc định hướng, đặt hàng, giao nhiệm vụ thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia, bài toán lớn về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số cho các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.

Phát triển công nghiệp công nghệ số với tinh thần "Make in Viet Nam"

Phát triển công nghiệp công nghệ số với tinh thần "Make in Viet Nam" - sáng tạo tại Việt Nam, làm ra tại Việt Nam để dẫn dắt; doanh nghiệp Việt Nam làm chủ công nghệ, chủ động, sáng tạo trong nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số, làm chủ thị trường trong nước và nâng cao năng lực cạnh tranh, dẫn dắt để vươn ra toàn cầu. Kết hợp hài hòa giữa tự chủ công nghệ với hợp tác quốc tế sâu rộng; chủ động tham gia và tiến tới dẫn dắt ở một số khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút, trọng dụng nhân tài là yếu tố then chốt, đột phá bảo đảm đồng bộ với phát triển hệ sinh thái ngành, gắn kết chặt chẽ theo mô hình "Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp" trong đào tạo và sử dụng nhân lực công nghiệp công nghệ số; phát triển công nghiệp công nghệ số phải gắn liền với mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững; chú trọng hỗ trợ nghiên cứu, cải tiến và chuyển đổi hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số thân thiện với môi trường...

Việt Nam phấn đấu làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược

Mục tiêu tổng quát của Chương trình là phát triển công nghiệp công nghệ số Việt Nam thành ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, với các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược và giải quyết các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia, bài toán lớn của quốc gia về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đưa Việt Nam trở thành một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới, gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nâng cao vị thế và thương hiệu "Make in Viet Nam" trong khu vực và quốc tế.

Đến năm 2030 doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số đạt tối thiểu 300 tỷ USD

Chương trình phấn đấu đến năm 2030 doanh thu ngành công nghiệp công nghệ số đạt tối thiểu 300 tỷ USD; tốc độ tăng trưởng trung bình của ngành trong giai đoạn 2026 - 2030 đạt mức từ 12% trở lên; doanh thu xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số của doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đạt tối thiểu 55 tỷ USD/năm, với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt tối thiểu 30%/năm.

Phấn đấu đạt 100.000 doanh nghiệp công nghệ số; đào tạo và phát triển đội ngũ trên 03 triệu nhân lực công nghiệp công nghệ số.

Hình thành tầm 20 khu công nghệ số tập trung

Chương trình cũng đặt mục tiêu doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có khả năng làm chủ công nghệ để sản xuất, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thuộc Danh mục sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm; phấn đấu mỗi địa phương thực hiện tối thiểu 01 hoạt động cấp phép và triển khai thử nghiệm có kiểm soát sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số phù hợp điều kiện thực tiễn phát triển công nghiệp công nghệ số nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoàn thiện khung pháp lý về công nghiệp công nghệ số.

Hình thành 16 - 20 khu công nghệ số tập trung, trong đó tối thiểu có 01 khu công nghệ số tập trung quy mô lớn, phù hợp với định hướng, mục tiêu phát triển của vùng kinh tế trọng điểm; hình thành ít nhất 01 Trung tâm tính toán hiệu năng cao dùng chung để giải quyết nhiệm vụ, bài toán lớn, hỗ trợ phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm...

Đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành công nghiệp công nghệ số phát triển

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành công nghiệp công nghệ số phát triển, là trung tâm công nghiệp công nghệ số hàng đầu khu vực và vươn lên nhóm dẫn đầu thế giới; công nghiệp công nghệ số trở thành ngành kinh tế chủ đạo, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng và thịnh vượng quốc gia.

Phát triển đội ngũ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực cạnh tranh toàn cầu, làm chủ công nghệ lõi, dẫn dắt xu hướng phát triển và khẳng định vị thế, thương hiệu "Make in Viet Nam" trong chuỗi giá trị toàn cầu; bảo đảm tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số tương đương các nước phát triển, hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến và thu hút thêm ít nhất 05 dự án mới của các tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu, sản xuất tại Việt Nam.

Các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Để đạt được mục tiêu trên, Chương trình đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau: Tiếp tục hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật về công nghiệp công nghệ số; thúc đẩy nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số; phát triển doanh nghiệp công nghệ số; phát triển nguồn nhân lực công nghiệp công nghệ số; phát triển hạ tầng công nghiệp công nghệ số hiện đại, đồng bộ; thúc đẩy, xúc tiến đầu tư cho hoạt động công nghiệp công nghệ số; phát triển thị trường và chuỗi cung ứng công nghiệp công nghệ số; phát triển bền vững công nghiệp công nghệ số; xây dựng, vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu công nghiệp công nghệ số; hỗ trợ phát triển công nghiệp bán dẫn.

Để thúc đẩy nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số, Chương trình hỗ trợ nghiên cứu, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số; triển khai các dự án nghiên cứu, sản xuất sản phẩm, dịch vụ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn theo quy định pháp luật; hỗ trợ, phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trọng điểm...

Đồng thời, Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ công nghệ số; hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số áp dụng các quy trình quản lý chất lượng tiên tiến theo chuẩn quốc tế để nâng cao uy tín sản phẩm, dịch vụ công nghệ số "Make in Viet Nam"; triển khai các hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra thị trường quốc tế...

Để phát triển thị trường và chuỗi cung ứng công nghiệp công nghệ số, Chương trình thúc đẩy sử dụng sản phẩm, dịch vụ công nghệ số "Make in Viet Nam"; tổ chức thường niên Diễn đàn quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam và Giải thưởng "Sản phẩm, dịch vụ công nghệ số Make in Viet Nam" để tôn vinh, quảng bá các sản phẩm xuất sắc, tạo uy tín và niềm tin cho người tiêu dùng trong nước; hỗ trợ đưa sản phẩm, dịch vụ công nghệ số vươn ra thị trường toàn cầu...

Về hỗ trợ phát triển công nghiệp bán dẫn, Chương trình triển khai hỗ trợ kinh phí cho tổ chức, doanh nghiệp thiết kế chip thực hiện; phát triển chuỗi cung ứng và sản xuất thiết bị điện tử nhằm tạo thị trường cho công nghiệp bán dẫn; phát triển và vận hành Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn để hỗ trợ sản xuất thử nghiệm và đo kiểm chip bán dẫn thông qua hoạt động...

Kế hoạch hành động thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 03/10/2025 của Ban Bí thư về thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 13/5/2026 ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 03/10/2025 của Ban Bí thư về thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới (Kế hoạch).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/5/2026- Ảnh 2.

Bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2030

Mục tiêu của Kế hoạch nhằm tổ chức thể chế hóa và thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ và giải pháp đã đề ra trong Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 03/10/2025 của Ban Bí thư về thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới (Chỉ thị số 52-CT/TW).

Đồng thời, xác định nhiệm vụ cụ thể để các Bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW để đạt mục tiêu thực hiện hiệu quả chính sách bảo hiểm y tế trong giai đoạn mới, hướng tới bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2030.

06 nhiệm vụ trọng tâm

Nhằm đạt được mục tiêu Chỉ thị số 52-CT/TW đề ra, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

1- Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch về bảo hiểm y tế, đổi mới công tác truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo hiểm y tế.

2- Tập trung sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế đáp ứng mục tiêu bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.

3- Nâng cao năng lực hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và chất lượng cung ứng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.

4- Tăng cường, nâng cao năng lực cho các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan tổ chức thực hiện về bảo hiểm y tế ở Trung ương và địa phương, bảo đảm quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm y tế hiệu quả, cân đối.

5- Đa dạng, mở rộng các nguồn thu, bảo đảm bền vững và phát triển Quỹ bảo hiểm y tế để từng bước mở rộng phạm vi quyền lợi, triển khai các giải pháp nhằm giảm gánh nặng chi phí y tế cho người bệnh.

6- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cải cách hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm y tế.

Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế

Về nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế, Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật sau:

- Nghị quyết về thí điểm đa dạng hóa các gói bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế bổ sung theo nhu cầu của người dân, tăng cường liên kết, hợp tác giữa bảo hiểm y tế với bảo hiểm sức khoẻ do các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp để tránh trùng lặp thanh toán chi phí y tế, hoàn thành trong Quý II/2028.

- Nghị định về tăng mức đóng bảo hiểm y tế từ năm 2027 theo lộ trình phù hợp với việc mở rộng phạm vi quyền lợi, mức hưởng bảo hiểm y tế trong đó tiếp tục nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách, người thuộc hộ cận nghèo, người khuyết tật, người yếu thế, bảo đảm duy trì bền vững và tăng tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế, hoàn thành trong tháng 3/2027.

- Nghị quyết về thí điểm huy động, đa dạng, mở rộng các nguồn thu để bảo đảm bền vững và phát triển Quỹ bảo hiểm y tế, trong đó có cơ chế sử dụng một phần kinh phí từ thuế đối với các sản phẩm thuốc lá, thuế rượu, bia, đồ uống có đường... để chi trả cho một số dịch vụ phòng bệnh, quản lý bệnh mãn tính, khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc, chẩn đoán và phát hiện sớm một số bệnh, đặc biệt là các bệnh không lây nhiễm, hoàn thành trong Quý IV/2028.

- Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, hoàn thành trong Quý I/2029.

Nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế

Đối với nhiệm vụ nâng cao năng lực hệ thống cơ sở và chất lượng cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, Quyết định yêu cầu:

Từ quý II/2027, từng bước triển khai phân luồng người bệnh giữa các cấp chuyên môn kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh để giảm điều trị các bệnh lý nhẹ, bệnh thông thường ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp chuyên sâu.

Từ quý I/2027, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chủ trì nghiên cứu cơ chế, bảo đảm điều kiện, tiêu chí chuyên môn để triển khai cho người bệnh ra viện vào thứ bảy, chủ nhật, ngày nghỉ, ngày lễ.

Từ tháng 5/2026, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trình cấp có thẩm quyền triển khai xây dựng giá phê duyệt giá dịch vụ y tế mới có cấu phần chi phí quản lý.

Mở rộng phạm vi quyền lợi, giảm gánh nặng tài chính cho người tham gia bảo hiểm y tế

Về nhiệm vụ đa dạng hoá nguồn lực và phát triển bền vững quỹ bảo hiểm y tế để mở rộng phạm vi quyền lợi, giảm gánh nặng tài chính cho người tham gia bảo hiểm y tế, Quyết định yêu cầu:

Tập trung phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, đẩy mạnh bao phủ bảo hiểm y tế theo hộ gia đình để đạt mục tiêu tới năm 2026 tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 95,5% dân số, đến năm 2030 đạt mục tiêu bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.

Từ năm 2026, từng bước thực hiện tăng tỉ lệ, mức thanh toán, chi cho phòng bệnh, chẩn đoán, điều trị sớm một số bệnh và đối tượng ưu tiên phù hợp với lộ trình tăng mức đóng bảo hiểm y tế và khả năng cân đối của Quỹ bảo hiểm y tế. Trong đó, mở rộng phạm vi chi trả của quỹ bảo hiểm y tế đối với một số dịch vụ phòng bệnh, dinh dưỡng, quản lý bệnh mãn tính, khám sức khỏe định kỳ và khám sàng lọc theo yêu cầu chuyên môn.

Bên cạnh đó, xây dựng phương thức hỗ trợ trực tiếp cho người tham gia bảo hiểm y tế khi sử dụng dịch vụ y tế, triển khai thí điểm chương trình hỗ trợ người bệnh để giảm chi phí cùng chi trả của người tham gia bảo hiểm y tế, ưu tiên người bệnh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng chính sách xã hội.

Đồng thời, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về danh mục, tỷ lệ, mức thanh toán chi phí thuốc, thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật y tế thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế, phù hợp với khả năng cân đối của quỹ bảo hiểm y tế.

Quyết định về việc cung ứng xuất bản phẩm sử dụng ngân sách nhà nước giai đoạn 2027 – 2031

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 845/QĐ-TTg ngày 13/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các cơ quan chủ quản nhà xuất bản thực hiện cung ứng xuất bản phẩm sử dụng ngân sách nhà nước.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/5/2026- Ảnh 3.

Thời gian thực hiện cung ứng là 05 năm (từ năm 2027 đến hết năm 2031) với mục tiêu tổ chức hiệu quả việc cung ứng xuất bản phẩm sử dụng ngân sách nhà nước giai đoạn 2027 - 2031 nhằm bảo đảm duy trì và phát triển các xuất bản phẩm thiết yếu phục vụ nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, góp phần nâng cao khả năng tiếp cận tri thức của cán bộ cơ sở, học sinh, sinh viên, đồng bào vùng sâu, vùng xa và phục vụ yêu cầu thông tin đối ngoại khi cần thiết.

Xuất bản 1.000 đầu xuất bản phẩm với 7 mảng đề tài

Mục tiêu xuất bản không quá 1.000 đầu xuất bản phẩm gồm các mảng đề tài: Lý luận, chính trị, thông tin đối ngoại; bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh, quốc phòng; tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kinh tế, nông nghiệp, nông thôn; văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ, văn học - nghệ thuật; phòng, chống dịch bệnh, thiên tai, hiểm họa, phục vụ cộng đồng; dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo, thiếu niên, nhi đồng.

100% xuất bản phẩm được chuyển đổi sang định dạng số và được phát hành trên môi trường điện tử (trang thông tin điện tử của nhà xuất bản, ứng dụng của các thiết bị di động) và kết nối, tích hợp dữ liệu lên Nền tảng sách, báo quốc gia "ebook.gov.vn/sachdientu.vn" (sau đây viết tắt là chuyển đổi sang định dạng số để phát hành điện tử).

Điều kiện thực hiện

Quyết định yêu cầu nhà xuất bản tham gia cung ứng xuất bản phẩm: phải có đủ năng lực, kinh nghiệm, cơ sở vật chất và nhân lực đáp ứng yêu cầu hoạt động xuất bản theo quy định của Luật Xuất bản và các quy định pháp luật khác có liên quan; phải bảo đảm điều kiện chuyển đổi sang định dạng số để phát hành điện tử.

Danh mục đề tài xuất bản phẩm phải được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt; bảo đảm bám sát mục tiêu, nhiệm vụ và thuộc các mảng đề tài quy định ở trên.

Việc sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước để cung ứng xuất bản phẩm phải tuân thủ các quy định của pháp luật ngân sách nhà nước; giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Phương thức thực hiện

Phương thức thực hiện theo quy định của pháp luật về giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Việc cung ứng xuất bản phẩm sử dụng ngân sách nhà nước theo Chương trình này cho phép nhà xuất bản được tiếp tục khai thác xuất bản phẩm sau khi hoàn thành nghiệm thu, quyết toán theo quy định nhằm mục tiêu kinh doanh; đồng thời bảo đảm tuân thủ các quy định của Luật Xuất bản và Luật Sở hữu trí tuệ.

Nguồn kinh phí thực hiện

Quyết định nêu rõ kinh phí thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật về ngân sách nhà nước và các quy định pháp luật liên quan để thực hiện các nhiệm vụ: Thực hiện bản thảo (bản mẫu), biên tập nội dung theo quy trình xuất bản; in, phát hành xuất bản phẩm (đối với xuất bản phẩm in); thực hiện chuyển đổi sang định dạng số để phát hành điện tử.

Các nhà xuất bản được cơ quan chủ quản giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc trúng thầu cung ứng xuất bản phẩm sử dụng ngân sách nhà nước quy định ở trên chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng kinh phí đúng mục đích, hiệu quả, đúng quy định pháp luật về ngân sách nhà nước và quy định pháp luật liên quan; đồng thời bố trí kinh phí thực hiện những nhiệm vụ liên quan không quy định ở trên bảo đảm đúng quy định pháp luật.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 08/2025/QĐ-TTg về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp 

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 22/2026/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 08/2025/QĐ-TTg ngày 4/4/2025 về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/5/2026- Ảnh 4.

Bổ sung chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp

Quyết định số 22/2026/QĐ-TTg đã sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 2 Điều 3 của Quyết định số 08/2025/QĐ-TTg theo hướng thay đổi quy định về mức bồi dưỡng cho một người thực hiện giám định loại vật gây thương tích, độc chất, ADN, mô bệnh học, trên hồ sơ và các loại việc giám định khác trong lĩnh vực pháp y.

Theo quy định mới, mức bồi dưỡng cho một người thực hiện giám định loại vật gây thương tích, độc chất, ADN, mô bệnh học, trên hồ sơ và các loại việc giám định khác trong lĩnh vực pháp y được quy định như sau:

Mức 250.000 đồng/vụ việc giám định định tính ma túy trong mẫu dịch sinh học, tóc hoặc định lượng cồn trong máu hoặc giám định đơn chất trong dịch sinh học; mức 400.000 đồng/vụ việc giám định định lượng ma túy trong dịch sinh học, tóc; mức 400.000 đồng/vụ việc giám định độc chất từ mẫu vật.

Mức 300.000 đồng/vụ việc giám định ADN nhân tế bào; mức 500.000 đồng/vụ việc giám định ADN ti thể.

Mức 500.000 đồng/vụ việc giám định cơ chế, loại vật gây thương tích.

Mức 600.000 đồng/vụ việc giám định độc chất mẫu phủ tạng, dịch sinh học.

Mức 800.000 đồng/vụ việc giám định mô bệnh học.

Mức 1.000.000 đồng/vụ việc giám định qua hồ sơ.

Trường hợp vụ việc có từ 10 mẫu trở lên thì số tiền bồi dưỡng giám định được tăng thêm 20% so với mức bồi dưỡng được hưởng.

Trường hợp các loại việc trên do giám định viên thuộc lĩnh vực kỹ thuật hình sự thực hiện thì áp dụng chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp theo ngày công quy định tại Điều 2 Quyết định số 08/2025/QĐ-TTg.

Như vậy, so với quy định tại Quyết định số 08/2025/QĐ-TTg thì Quyết định số 22/2026/QĐ-TTg đã bổ sung chế độ bồi dưỡng trong vụ việc giám định độc chất từ mẫu vật là 400.000 đồng/vụ việc.

Đồng thời, bổ sung trường hợp các loại việc tại điểm đ khoản 2 Điều 3 Quyết định số 08/2025/QĐ-TTg do giám định viên thuộc lĩnh vực kỹ thuật hình sự thực hiện thì áp dụng chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp theo ngày công quy định tại Điều 2 Quyết định số 08/2025/QĐ-TTg.

Sửa đổi quy định về nguồn kinh phí và nguyên tắc chi trả tiền bồi dưỡng giám định tư pháp

Quyết định số 22/2026/QĐ-TTg cũng sửa đổi quy định về nguồn kinh phí và nguyên tắc chi trả tiền bồi dưỡng giám định tư pháp.

Theo đó, kinh phí chi trả bồi dưỡng giám định tư pháp đối với các vụ việc, vụ án hình sự hoặc vụ việc giám định khác do người có thẩm quyền tố tụng trưng cầu thì do ngân sách nhà nước bảo đảm và được bố trí trong dự toán kinh phí hằng năm của cơ quan, đơn vị nhà nước được trưng cầu, thực hiện giám định. Kinh phí chi trả bồi dưỡng cho người được cơ quan tiến hành tố tụng cử thực hiện nhiệm vụ trong trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi, khai quật tử thi thì do ngân sách nhà nước bảo đảm theo dự toán kinh phí hằng năm của cơ quan đó.

Hằng năm, cơ quan, đơn vị nhà nước do ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động được trưng cầu, thực hiện giám định phải lập dự toán và đề nghị cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, cấp phát kinh phí bảo đảm chi trả bồi dưỡng giám định tư pháp cho người giám định tư pháp, người giúp việc cho người giám định tư pháp thuộc thẩm quyền quản lý của mình. Cơ quan tiến hành tố tụng phải lập dự toán và đề nghị cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và cấp phát kinh phí bảo đảm chi trả bồi dưỡng giám định tư pháp cho người của cơ quan mình được giao trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ khi giám định đối với trường hợp khám nghiệm tử thi, mổ tử thi, khai quật tử thi.

Việc lập, chấp hành và quyết toán kinh phí chi trả bồi dưỡng giám định tư pháp thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật về kế toán.

Trình tự, thủ tục, hồ sơ tạm ứng, thanh toán chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về tạm ứng, thanh toán, chi trả các khoản chi của ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước.

Việc bổ sung dự toán trong năm, xử lý thu, chi ngân sách nhà nước cuối năm thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Trường hợp cơ quan, tổ chức đang áp dụng cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù theo quy định của pháp luật thì nguồn kinh phí chi trả chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp được lấy từ nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị đó theo quy định của pháp luật chuyên ngành và quy định pháp luật khác có liên quan.

Kinh phí chi trả bồi dưỡng giám định tư pháp đối với các vụ việc dân sự, vụ án hành chính do cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu theo yêu cầu của đương sự do đương sự chi trả theo quy định của pháp luật về tố tụng, chi phí giám định tư pháp.

Cơ quan, đơn vị nhà nước cử người thực hiện giám định tư pháp có trách nhiệm tạm ứng, thanh toán tiền bồi dưỡng giám định cho người giám định tư pháp, người giúp việc cho người giám định tư pháp khi giao nhiệm vụ giám định và khi hoàn thành việc giám định.

Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạm ứng, thanh toán tiền bồi dưỡng giám định cho người được giao nhiệm vụ trong quá trình khám nghiệm tử thi, mổ tử thi, khai quật tử thi.

Quyết định số 22/2026/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2026. Trường hợp vụ việc giám định đã được tiếp nhận, thực hiện giám định trước thời điểm Quyết định này có hiệu lực thi hành thì việc chi trả chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp thực hiện theo Quyết định số 08/2025/QĐ-TTg ngày 4/4/2025 về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp.

Phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2026-2031 

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 842/QĐ-TTg ngày 13/5/2026 phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2026-2031 đối với ông Lê Công Lý, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp Cần Thơ./.