Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Chính phủ ban hành Nghị định số 206/2026/NĐ-CP ngày 15/6/2026 quy định chi tiết về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.
Nghị định này quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chi phí đầu tư xây dựng tại Điều 74, khoản 7 Điều 76 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 gồm: sơ bộ tổng mức đầu tư xây dựng, tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng, giá gói thầu xây dựng, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn xây dựng, chi phí khác, hệ thống công cụ định mức xây dựng, giá và chỉ số giá xây dựng; quyền và trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng; trách nhiệm quản lý nhà nước về chi phí đầu tư xây dựng của các cơ quan nhà nước.
Nguyên tắc quản lý chi phí đầu tư xây dựng
Về nguyên tắc quản lý chi phí đầu tư xây dựng, Nghị định quy định quản lý chi phí đầu tư xây dựng phải đảm bảo các nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều 73 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15.
Chi phí đầu tư xây dựng được xác định cho dự án, công trình và gói thầu xây dựng; việc xác định chi phí phải bảo đảm tính đồng bộ, tương ứng với thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn, quy chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật, công nghệ được sử dụng cho dự án, công trình, gói thầu, làm cơ sở lựa chọn nhà thầu, lựa chọn nhà đầu tư và quản lý hợp đồng xây dựng, hợp đồng dự án PPP.
Đối với dự án phân chia dự án thành phần, dự án thành phần độc lập, việc xác định chi phí đầu tư xây dựng của từng dự án thành phần, dự án thành phần độc lập thực hiện như quy định trên.
Đối với các dự án đầu tư xây dựng phục vụ quốc phòng, an ninh việc thẩm định tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng công trình thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an.
Đối với dự án PPP, việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định tại Nghị định này và quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư; việc quản lý, sử dụng chi phí dự phòng được quy định trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu lựa chọn nhà đầu tư và hợp đồng dự án PPP; việc sử dụng chi phí dự phòng trong trường hợp áp dụng hình thức chỉ định nhà đầu tư hoặc lựa chọn nhà đầu tư trong trường hợp đặc biệt phải có ý kiến của cơ quan ký kết hợp đồng dự án PPP.
Hệ thống giá, định mức xây dựng, chỉ số giá xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, công bố và chi phí đầu tư xây dựng các dự án, công trình đã phê duyệt, được cập nhật vào Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng.
Việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng đối với dự án đầu tư công được thực hiện trên cơ sở phân cấp, phân quyền và nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư; người quyết định đầu tư thực hiện kiểm tra việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng của chủ đầu tư trong quá trình thực hiện dự án.
Các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư xây dựng
Về tổng mức đầu tư xây dựng, Nghị định quy định tổng mức đầu tư xây dựng được quy định tại Điều 75 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15. Nội dung các khoản mục chi phí trong tổng mức đầu tư xây dựng gồm:
- Chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gồm: chi phí bồi thường về đất, nhà, công trình trên đất, các tài sản gắn liền với đất, trên mặt nước và chi phí bồi thường khác theo quy định; các khoản hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất; chi phí tái định cư; chi phí bảo đảm cho việc tổ chức bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; chi phí tư vấn liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (nếu có); chi phí sử dụng đất, thuê đất tính trong thời gian xây dựng và các khoản chi phí khác liên quan đến việc sử dụng, chuyển mục đích sử dụng đất, tài nguyên nước, tài nguyên biển theo quy định của pháp luật (nếu có); chi phí chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, chi phí trồng rừng thay thế theo quy định của pháp luật (nếu có); chi phí bảo vệ, phát triển đất trồng lúa (nếu có); chi phí di dời, hoàn trả cho phần hạ tầng kỹ thuật đã được đầu tư xây dựng phục vụ giải phóng mặt bằng (nếu có); các chi phí có liên quan khác.
- Chi phí xây dựng gồm: chi phí xây dựng các công trình, hạng mục công trình của dự án; chi phí xây dựng công trình, hạng mục công trình xây dựng tạm, phụ trợ phục vụ thi công; chi phí phá dỡ các công trình xây dựng không thuộc phạm vi của công tác phá dỡ giải phóng mặt băng đã được xác định trong chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Chi phí thiết bị gồm chi phí thiết bị công trình và thiết bị công nghệ của công trình, dự án, trong đó bao gồm chi phí mua sắm thiết bị; chi phí quản lý mua sắm thiết bị (nếu có); chi phí mua bản quyền (nếu có); chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ (nếu có); chi phí gia công, chế tạo thiết bị cần gia công, chế tạo (nếu có); chi phí lắp đặt, thí nghiệm, hiệu chỉnh; chi phí chạy thử thiết bị theo yêu cầu kỹ thuật (nếu có); chi phí vận chuyển; bảo hiểm; thuế và các loại phí; vật tư, thiết bị dự phòng (nếu có); chi phí liên quan khác.
Đối với thiết bị công nghệ được lựa chọn, chi phí mua sắm thiết bị công nghệ của đối tác, nhà cung cấp phải đảm bảo phù hợp mức độ chuyển giao, tiêu chuẩn nhà cung cấp, sản xuất, tiêu chuẩn áp dụng cho dự án, bao gồm các chi phí đào tạo, làm chủ khai thác vận hành, duy tu, bảo trì (nếu có).
- Chi phí quản lý dự án gồm các chi phí cần thiết để tổ chức quản lý việc thực hiện và thực hiện các công việc quản lý dự án từ giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện dự án đến giai đoạn kết thúc xây dựng. Chi phí quản lý dự án quy định tại Điều 25 Nghị định này.
- Chi phí tư vấn xây dựng gồm các chi phí cần thiết để thực hiện các công việc tư vấn đầu tư xây dựng từ giai đoạn chuẩn bị dự án, giai đoạn thực hiện dự án đến giai đoạn kết thúc xây dựng. Chi phí tư vấn xây dựng quy định tại Điều 26 Nghị định này;
- Chi phí khác gồm các khoản chi phí cần thiết để thực hiện dự án đầu tư xây dựng không thuộc các khoản mục chi phí quy định ở trên.
- Chi phí dự phòng gồm chi phí dự phòng cho khối lượng, công việc phát sinh và chi phí dự phòng cho yếu tố trượt giá trong thời gian thực hiện dự án.
Nghị định nêu rõ, đối với dự án trong giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo kinh tế - kỹ thuật được tách thành dự án thành phần; dự án thành phần độc lập; dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng độc lập (nếu có) theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Luật Xây dựng số 135/2025/QH15:
1 - Tổng mức đầu tư xây dựng của dự án gồm tổng mức đầu tư xây dựng của các dự án thành phần, dự án thành phần độc lập, dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng độc lập (nếu có) và các chi phí chung cần thiết khác của dự án.
2 - Nội dung tổng mức đầu tư xây dựng dự án thành phần, dự án thành phần độc lập gồm toàn bộ hoặc một số khoản mục chi phí như quy định tại 1, được xác định phù hợp với phạm vi, quy mô, tính chất của mỗi dự án thành phần.
3- Đối với dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng độc lập (nếu có), tổng mức đầu tư xây dựng của dự án gồm một số hoặc toàn bộ chi phí quy định tại chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở trên, các khoản mục chi phí có liên quan khác theo quy định của pháp luật về đất đai (nếu có) và chi phí dự phòng.
Quản lý nhà nước về chi phí đầu tư xây dựng
Nghị định quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Cụ thể:
Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về chi phí đầu tư xây dựng; hướng dẫn về nội dung, phương pháp xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình, gồm: sơ bộ tổng mức đầu tư xây dựng, tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng, định mức xây dựng và giá xây dựng, giá các yếu tố chi phí trực tiếp cấu thành giá công tác xây dựng, chỉ số giá xây dựng, chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn xây dựng, chi phí khác.
Ban hành định mức xây dựng; công bố suất vốn đầu tư xây dựng, suất chi phí, giá bộ phận, đơn vị kết cấu công trình, chỉ số giá xây dựng quốc gia, định mức các hao phí và các dữ liệu cơ bản để tính giá ca máy, hướng dẫn xác định khối lượng công trình. Tổ chức rà soát thường xuyên và tổng hợp kết quả rà soát điều chỉnh, bổ sung các định mức và ban hành theo quy định. Tổ chức cập nhật hệ thống công cụ đã ban hành vào hệ thống cơ sở dữ liệu quy định tại Nghị định quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng.
Hướng dẫn việc thực hiện các quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng. Kiểm tra theo kế hoạch việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về chi phí đầu tư xây dựng của các Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; việc thực hiện các quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng tại các dự án quan trọng quốc gia theo hình thức đầu tư công.
Bộ Tài chính quy định về thu, chi của chủ đầu tư, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng có dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước.
Các bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành căn cứ phương pháp lập định mức dự toán xây dựng, suất vốn đầu tư, suất chi phí, giá bộ phận, đơn vị kết cấu công trình, giá ca máy và thiết bị thi công do Bộ Xây dựng hướng dẫn, tổ chức xây dựng và ban hành các định mức dự toán xây dựng cho các công tác xây dựng thuộc chuyên ngành quản lý nhưng chưa có trong hệ thống định mức do Bộ Xây dựng ban hành; công bố suất vốn đầu tư, suất chi phí, giá bộ phận, đơn vị kết cấu xây dựng của chuyên ngành, định mức các hao phí và các dữ liệu cơ bản để tính giá ca máy của các loại máy và các thiết bị chuyên ngành.
Định kỳ rà soát hệ thống định mức xây dựng do mình ban hành và ban hành sau khi rà soát theo quy định, đồng thời gửi những định mức xây dựng mới, định mức điều chỉnh về Bộ Xây dựng để theo dõi, quản lý theo quy định.
Tổ chức cập nhật hệ thống công cụ đã ban hành vào hệ thống cơ sở dữ liệu quy định tại Nghị định quy định về điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng...
UBND cấp tỉnh giám sát việc kê khai, niêm yết giá
UBND cấp tỉnh hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về chi phí đầu tư xây dựng thuộc phạm vi, thẩm quyền quản lý. Căn cứ phương pháp lập định mức xây dựng do Bộ Xây dựng hướng dẫn, tổ chức xây dựng, rà soát, ban hành định mức dự toán cho các công tác xây dựng trên địa bàn địa phương chưa được Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành ban hành và gửi về Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành để theo dõi, quản lý theo quy định.
Đồng thời, ban hành quy chế phối hợp và quy định trách nhiệm, chế tài xử lý đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc khảo sát, thu thập thông tin giá các yếu tố chi phí trực tiếp cấu thành giá công tác xây dựng trên địa bàn, bảo đảm công bố giá kịp thời, khách quan và phù hợp với biến động của thị trường; kiểm tra, giám sát việc kê khai, niêm yết giá, việc chấp hành pháp luật về giá, đảm bảo công khai, minh bạch.
Căn cứ phương pháp xác định suất vốn đầu tư, suất chi phí, giá bộ phận, đơn vị kết cấu xây dựng, giá các yếu tố chi phí trực tiếp cấu thành nên giá công tác xây dựng, chỉ số giá xây dựng do Bộ Xây dựng hướng dẫn, tổ chức xác định, công bố suất vốn đầu tư xây dựng, giá bộ phận, đơn vị kết cấu công trình tại địa phương; công bố kịp thời thông tin giá các loại vật liệu xây dựng, giá nhân công xây dựng, giá ca máy và thiết bị thi công, giá thuê máy và thiết bị thi công xây dựng; định mức các hao phí và các dữ liệu cơ bản để tính giá ca máy của các loại máy và các thiết bị chưa được Bộ Xây dựng, các Bộ quản lý công trình xây dựng công bố và chỉ số giá xây dựng...
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 304/TB-VPCP ngày 15/6/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.
Thông báo nêu: Trong 05 tháng đầu năm 2026, mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết tâm cao, nỗ lực lớn, đạt được nhiều kết quả khá toàn diện. Tăng trưởng GRDP Quý I năm 2026 đạt 8,27%, cao hơn bình quân chung của cả nước và là mức tăng cao nhất trong 5 năm qua. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IPP), tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, du lịch, xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài đạt kết quả tích cực. Thu ngân sách nhà nước đạt 50% dự toán. Cải cách hành chính, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện mạnh mẽ. Mô hình chính quyền địa phương 02 cấp sau hợp nhất được vận hành cơ bản ổn định, thông suốt, bước đầu phát huy hiệu quả.
Thành phố là một trong các địa phương đi đầu trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, bước đầu tạo chuyển biến rõ nét trong mô hình tăng trưởng; xử lý được số lượng lớn các dự án tồn đọng, kéo dài theo Công điện số 112/CĐ-TTg. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, đào tạo tiếp tục được phát triển; an ninh, quốc phòng được giữ vững; có nhiều chiến công trong phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự xã hội. Đặc biệt, Thành phố đã đổi mới phương thức làm việc, đã hoàn thành việc xây dựng Đề án đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 31-NQ/TW và trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới; chủ động, tích cực phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc khẩn trương xây dựng dự án Luật Đô thị đặc biệt. Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao nỗ lực cũng như các kết quả nổi bật mà Thành phố đã đạt được trong thời gian qua, đóng góp tích cực vào thành tựu chung của cả nước.
Bên cạnh các kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần được Thành phố nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá để có giải pháp khắc phục trong thời gian tới. Tư duy đổi mới, sáng tạo của lãnh đạo Thành phố cần được lan tỏa mạnh mẽ hơn tới các cấp, các ngành, cơ sở; vẫn còn tâm lý trông chờ, né tránh trách nhiệm và chưa chủ động, mạnh dạn quyết định theo thẩm quyền được giao. GRDP Quý I tăng khá nhưng chưa đạt kịch bản đề ra, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và dư địa phát triển của Thành phố, trong đó các khu vực dịch vụ, công nghiệp - xây dựng đều tăng trưởng thấp hơn kịch bản; tạo áp lực rất lớn cho việc đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm. Việc triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù theo các Nghị quyết của Quốc hội còn chậm, chưa tạo ra nhiều kết quả cụ thể, đóng góp chưa nhiều vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế...
Để khắc phục những tồn tại trên, Thủ tướng yêu cầu Thành phố trong thời gian tới cần quán triệt, triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả; cụ thể hóa thành các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ; nhất là Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới, Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc ngày 27/4/2026. Trong đó tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm được giao tại Kết luận 18-KL/TW (Xử lý triệt để tài sản công là nhà, đất dôi dư, không sử dụng trong Quý II; hoàn thành việc cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, 50% chi phí tuân thủ, hoàn thành trong Quý II; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu kết nối liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia, chia sẻ dữ liệu khu vực công cho khu vực tư, hoàn thành trong Quý II; thực hiện 100% dịch vụ công đủ điều kiện trực tuyến toàn trình trong Quý III; thực hiện tiết kiệm 10% chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2026 và phấn đấu tiết kiệm thêm trên 5% ...).
Thủ tướng khẳng định: Việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng 2 con số của cả nước phụ thuộc rất lớn vào các cực tăng trưởng, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh có vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, Thành phố phải đổi mới nhận thức, tư duy và phương thức làm việc, kiên định, quyết tâm thực hiện đạt và vượt các mục tiêu đã đề ra.
Tập trung tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh
Trong đó, Thành phố lưu ý cần rà soát kỹ lưỡng, cập nhật kịch bản tăng trưởng cho phù hợp với tình hình, yêu cầu thực tiễn; nhận diện rõ dư địa từng ngành, lĩnh vực, nhất là chế biến chế tạo, dược phẩm, logistics, tài chính ngân hàng...; tập trung tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh, bảo đảm nguồn cung hàng hóa, nguyên vật liệu. Giao nhiệm vụ, thời hạn hoàn thành cụ thể cho từng cấp, từng ngành, địa phương, doanh nghiệp; phân công các đồng chí trong Ban Thường vụ Thành ủy trực tiếp chỉ đạo các ngành, lĩnh vực, địa bàn cụ thế.
Tập trung chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả hơn nữa giải ngân đầu tư công, giao trách nhiệm cụ thể, rõ ràng cho các cơ quan, đơn vị, cá nhân liên quan để phấn đấu đạt 100% kế hoạch được giao; xử lý nghiêm trường hợp chậm trễ do nguyên nhân chủ quan; thực hiện điều chuyển vốn linh hoạt giữa các dự án theo quy định.
Khai thác hiệu quả các chính sách đặc thù, cụ thể hóa thành chương trình, dự án, nguồn lực, định lượng được kết quả đầu ra; khẩn trương phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan liên quan xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, trình Quốc hội tại Kỳ họp không thường lệ (cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8/2026).
Đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm (Vành đai 3, nút An Phú, nút Mỹ Thủy, QL50...); khởi công trong 6 tháng cuối năm các công trình lớn (như Metro số 2 Bến Thành - Thủ Thiêm, cầu vượt biển cần Giờ - Bà Rịa Vũng Tàu, cảng Cái Mép Hạ, đường sắt Thủ Thiêm - Long Thành, cầu Thủ Thiêm 4, đường Bình Tiên...).
Hình thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn
Thành phố cần phát huy mạnh mẽ vị thế, vai trò là địa phương đứng đầu cả nước về thương mại, dịch vụ, trong đó tập trung: (i) Ưu tiên đầu tư, phát triển logistics gắn với hệ thống cảng biển và siêu cảng trung chuyển quốc tế (như Cần Giờ, Cái Mép - Thị Vải...); (ii) Kích cầu tiêu dùng, nâng cao chất lượng dịch vụ, thúc đẩy thương mại điện tử, phát triển kinh tế đêm; (iii) Đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ trong lĩnh vực y tế, giáo dục.
Hình thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn, liên kết chặt chẽ sản xuất - tiêu thụ gắn với truy xuất nguồn gốc; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao trong công tác chọn, tạo và sản xuất giống cây trồng, vật nuôi chủ lực, canh tác và chăn nuôi chất lượng cao. Phát triển các trung tâm chế biến, xuất nhập khẩu nông sản chuyên nghiệp, gắn với du lịch và bảo tồn đa dạng sinh học.
Tiếp tục rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính; nâng cao năng lực cạnh tranh của Thành phố; phát triển mạnh mẽ hơn nữa kinh tế tư nhân, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông, chia sẻ dữ liệu công - tư.
Xây dựng và vận hành hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh; thu hút các tổ chức tài chính, các nhà đầu tư quốc tế tham gia. Các Bộ, ngành liên quan, trong đó Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Thành phố tiếp tục xây dựng cơ chế, chính sách, thiết kế sản phẩm tài chính cụ thể, hấp dẫn, có cơ chế kiểm soát rủi ro nhằm huy động các nguồn vốn phục vụ tăng trưởng 2 con số và bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia.
Đẩy mạnh phát triển nhà ở cho thuê
Thủ tướng yêu cầu Thành phố phải đẩy nhanh tiến độ hoàn thành Quy hoạch tổng thể Thành phố, trong đó phải quán triệt đầy đủ tinh thần Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị và kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, bảo đảm phù hợp, thống nhất với Quy hoạch tổng thể quốc gia và Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ vừa được phê duyệt. Quy hoạch Thành phố cần gắn với tầm nhìn dài hạn, mang tầm quốc tế; lưu ý về khai thác không gian ngầm; quy hoạch các khu, cụm công nghiệp; hạn chế phát triển nhà ở riêng lẻ thấp tầng, tập trung phát triển nhà ở cao tầng, nhà ở cho thuê tại các khu vực đô thị; phát triển các không gian công cộng, không gian xanh, vùng đệm giữa các khu vực đô thị.
Quán triệt và triển khai đồng bộ chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ về phát triển nhà ở cho thuê, phải coi đây là ưu tiên chiến lược trong phát triển nhà ở. Chuyển đổi mạnh mẽ tư duy, từ chú trọng hỗ trợ sở hữu nhà ở sang bảo đảm quyền có chỗ ở cho mọi người dân theo quy định của Hiến pháp, người dân chưa có đủ điều kiện để sở hữu nhà riêng phải tiếp cận được quỹ nhà ở cho thuê, giá hợp lý. Thành phố cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch, ưu tiên bố trí, dành quỹ đất thỏa đáng, trong đó cần xác định vị trí, quy mô khu nhà ở cho thuê, cần phát triển nhà ở cho thuê gắn với các KCN, KCX; phấn đấu khởi công ít nhất 01 dự án nhà ở cho thuê quy mô lớn trong Quý III/2026; khẩn trương kiện toàn hoặc thành lập Quỹ nhà ở địa phương, bố trí nguồn lực vận hành ngay trong tháng 6 năm 2026.
Đẩy mạnh phong trào "Bình dân học vụ số"
Bên cạnh đó, Thành phố cần bảo đảm vận hành bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp thông suốt, hiệu quả. Rà soát, đánh giá kỹ lưỡng, đầy đủ tính khả thi, hiệu quả về phân cấp, phân quyền cho cấp xã để có kiến nghị cụ thể. Thực hiện tổng rà soát đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ công chức cấp xã để có căn cứ đánh giá, bố trí, sắp xếp phù hợp. Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, quản lý, sử dụng tài sản công, trụ sở dôi dư. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với đổi mới, sáng tạo và khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số, nền tảng số, dữ liệu số bảo đảm kết nối thông suốt giữa các cấp chính quyền từ Trung ương đến cấp xã.
Triển khai thực chất, hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, phát huy tối đa lợi thế là trung tâm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo lớn nhất cả nước để thí điểm, đặt hàng nghiên cứu ứng dụng; đẩy mạnh phong trào "Bình dân học vụ số"; tạo môi trường thuận lợi cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Thực hiện các giải pháp nâng cao tỷ trọng kinh tế số và chỉ số đổi mới sáng tạo địa phương để đạt mục tiêu kinh tế số chiếm 30% GRDP năm 2026 và 40% GRDP năm 2030, thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới của Thành phố...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1061/QĐ-TTg về việc mở rộng và ban hành Quy chế hoạt động của Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh.

Mở rộng Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
Quyết định nêu rõ, mở rộng Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó, khu vực mở rộng có quy mô diện tích 194,84 ha thuộc địa bàn phường Long Phước, Thành phố Hồ Chí Minh.
Khu vực mở rộng Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh là một phần của Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược, sản xuất thử nghiệm sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm công nghệ chiến lược hình thành từ kết quả nghiên cứu và phát triển được thực hiện trong Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh; hỗ trợ ươm tạo, đào tạo, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược và các nhiệm vụ, chức năng khác của Khu Công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm chủ trì chỉ đạo, tổ chức triển khai, bảo đảm cân đối bố trí nguồn lực (nguồn vốn, nhân lực) để thực hiện các nhiệm vụ về đầu tư xây dựng và phát triển, hoạt động quản lý nhà nước, các chính sách hỗ trợ và các nhiệm vụ khác đối với Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh sau khi mở rộng theo đúng mục tiêu và nhiệm vụ được phê duyệt; chịu trách nhiệm trước Chính phủ về các hoạt động, hiệu quả đầu tư của Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh sau khi mở rộng.
Triển khai việc lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết và xác định ranh giới, vị trí khu vực mở rộng Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh đảm bảo thống nhất với vị trí và quy mô diện tích đã được quy định.
Quy chế hoạt động của Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh
Quy chế này quy định hoạt động đầu tư, xây dựng và phát triển; hoạt động quản lý nhà nước tại Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (Khu Công nghệ cao), bao gồm khu vực mở rộng Khu Công nghệ cao (Khu vực mở rộng) và khu vực Khu Công nghệ cao đã triển khai được thành lập tại Quyết định số 145/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Khu Công nghệ cao trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Mục tiêu và nhiệm vụ phát triển
Theo Quy chế, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện các nhiệm vụ của khu công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao, trong đó tập trung phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng công nghệ hiện đại, đồng bộ, thông minh, thân thiện môi trường; hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đảm bảo kết nối thuận lợi với khu vực xung quanh. Đối với Khu vực mở rộng, hướng tới mục tiêu trung hòa carbon trước năm 2050.
Đối với Khu vực mở rộng, thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ cao, công nghệ chiến lược, sản xuất thử nghiệm sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược hình thành từ kết quả nghiên cứu và phát triển được thực hiện trong Khu Công nghệ cao; thử nghiệm có kiểm soát công nghệ, sản phẩm và chính sách mới về công nghệ cao, công nghệ chiến lược; hỗ trợ ươm tạo, liên kết đào tạo, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ cao, công nghệ chiến lược và các nhiệm vụ, chức năng khác của Khu công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.
Hình thành các trung tâm nghiên cứu, triển khai công nghệ tiên tiến đi đầu trong các lĩnh vực vi điện tử - công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ sinh học và vật liệu mới...; kết nối để hình thành các cụm liên kết ngành công nghiệp, dẫn dắt về hoạt động nghiên cứu và phát triển nhằm thúc đẩy mô hình cộng sinh công nghiệp và gắn kết chặt chẽ với khối đào tạo, nghiên cứu của các trường đại học; là hạt nhân của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Khu Đô thị sáng tạo tương tác cao phía Đông của Thành phố Hồ Chí Minh nhằm thúc đẩy phát triển công nghệ, kinh tế dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng, quy mô nguồn nhân lực.
Yêu cầu đối với hoạt động
Theo quy chế, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết (nếu có) của Khu vực mở rộng phải đảm bảo cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chính là hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược theo đúng mục tiêu và nhiệm vụ được quy định tại Điều 2 Quy chế này và tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành.
Thiết kế quy hoạch, kiến trúc và kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phục vụ Khu Công nghệ cao phải đồng bộ, hiện đại, thân thiện môi trường, có tính thẩm mỹ, cung cấp các tiện ích quản lý thông minh đáp ứng các nhu cầu hoạt động, định hướng theo tiêu chuẩn đô thị thông minh và đảm bảo tính kết nối đồng bộ trong phạm vi Khu Công nghệ cao và khu vực xung quanh.
Việc đầu tư xây dựng và thu hút đầu tư vào Khu Công nghệ cao phải đảm bảo tuân thủ đúng định hướng, mục tiêu phát triển; tính chất, chức năng, nhiệm vụ; các ngành, lĩnh vực ưu tiên; các nguyên tắc, tiêu chí quy định tại pháp luật về công nghệ cao, pháp luật có liên quan.
Các cơ quan quản lý nhà nước, nhà đầu tư và các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân liên quan đến hoạt động của Khu Công nghệ cao thực hiện các trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật về công nghệ cao và quy định pháp luật có liên quan.
Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
Ngoài các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư được quy định tại pháp luật về công nghệ cao và pháp luật khác có liên quan, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các chính sách, biện pháp và bố trí nguồn lực để thu hút, hỗ trợ các dự án đầu tư, các hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong Khu Công nghệ cao đảm bảo đúng quy định.
Các dự án đầu tư thực hiện hoạt động công nghệ cao, công nghệ chiến lược trong Khu Công nghệ cao đáp ứng các nguyên tắc và tiêu chí tương ứng với từng loại hình theo quy định tại pháp luật về công nghệ cao, có mục tiêu và nội dung hoạt động phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển của Khu Công nghệ cao và tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành.
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 303/TB-VPCP ngày 13/6/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội.
Thủ tướng Chính phủ ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao những kết quả tích cực của Thành phố Hà Nội đã đạt được trong thời gian qua. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Thành phố vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, thách thức cần khắc phục trong thời gian tới như: Dư địa phát triển của Thủ đô chưa được khai thác hết; số lượng các dự án công nghệ cao còn ít; huy động vốn khu vực tư nhân đang là điểm nghẽn; số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tăng; kim ngạch xuất khẩu một số nhóm hàng chủ lực sụt giảm; việc triển khai một số dự án đầu tư công còn chậm; tiến độ một số dự án trọng điểm chậm do vướng mắc giải phóng mặt bằng, thiếu quỹ đất, quỹ nhà tái định cư, vật liệu xây dựng; quản lý, phát triển đô thị còn bất cập, tình trạng thiếu hụt trường học và quá tải tập trung ở nhiều cấp học; hạ tầng quá tải dẫn tới tình trạng ùn tắc giao thông, ngập úng đô thị, ô nhiễm không khí, nguồn nước và xử lý rác thải còn nhiều bất cập; tình hình trật tự xã hội còn tiềm ẩn phức tạp...
Đẩy mạnh liên kết, phát triển vùng giữa Hà Nội với các địa phương
Với vai trò là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia; nơi hội tụ và lan tỏa tinh hoa văn hóa, trí tuệ và nguồn lực của đất nước, Thành phố Hà Nội cần xác định mục tiêu, tiêu chuẩn cao hơn để đóng góp nhiều hơn vào mục tiêu chung của cả nước. Trong thời gian tới, Thủ tướng đề nghị Thành phố cần quan tâm, triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
Quán triệt và triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ; Kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; Luật Thủ đô và Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới.
Đẩy mạnh liên kết, phát triển vùng giữa Hà Nội với các địa phương trong vùng Thủ đô và vùng đồng bằng sông Hồng, nhất là liên kết về hạ tầng giao thông; khai thác tài nguyên khoáng sản; quản lý môi trường, nguồn nước; xử lý ô nhiễm không khí; liên kết về chuỗi sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ.
Tích cực triển khai các nhiệm vụ được giao tại Kết luận số 18-KL/TW của Bộ Chính trị có thời hạn hoàn thành trong năm 2026, trong đó tập trung:
Thực hiện đồng bộ các giải pháp với quyết tâm cao nhất, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng 11%. Trên cơ sở kết quả kinh tế - xã hội 06 tháng đầu năm, cần tiếp tục rà soát kịch bản tăng trưởng 6 tháng cuối năm 2026 để giao chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành, xã, phường; phân công các đồng chí trong Ban Thường vụ Thành ủy theo dõi từng địa bàn, lĩnh vực.
Tập trung khai thác dư địa để thúc đẩy tăng trưởng những tháng còn lại như công nghiệp chế biến, chế tạo, bán buôn và bán lẻ, ngân hàng và bảo hiểm, vận tải kho bãi và xây dựng... Thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đảm bảo nguồn cung hàng hóa, nguyên vật liệu. Kiểm soát lạm phát, thực hiện quyết liệt các giải pháp để bình ổn giá, nhất là nguyên nhiên vật liệu và các mặt hàng thiết yếu.
Triển khai hiệu quả, đồng bộ, thống nhất Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm
Tập trung huy động mọi nguồn lực để thúc đẩy tăng trưởng, trong đó: Có các giải pháp tăng thu ngân sách bền vững; tiết kiệm tối thiểu 10% và phấn đấu tiết kiệm thêm trên 5% chi thường xuyên, dành nguồn lực cho các nhiệm vụ an sinh xã hội, các dự án hạ tầng trọng điểm; tối ưu hóa nguồn lực đất đai, sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công gắn với các dự án động lực; huy động có hiệu quả nguồn vốn tư nhân; thu hút vốn ODA, FDI; các nguồn vốn tín dụng và phát triển thị trường vốn; nghiên cứu việc phát hành trái phiếu Thủ đô cho từng dự án động lực cụ thể.
Triển khai hiệu quả, đồng bộ, thống nhất Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm gắn với mục tiêu tăng trưởng trên 10%, bảo đảm phù hợp Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021-2030 và các quy hoạch có liên quan.
Xử lý triệt để khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án tồn đọng, các dự án sử dụng đất trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, giám sát, bản án và các vi phạm pháp luật về đất đai đến trước khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực; hoàn thành trong Quý III/2026 để giải phóng nguồn lực cho phát triển. Khẩn trương xử lý vướng mắc cho các dự án hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng văn hoá, xã hội; hoàn thành trong Quý II/2026.
Hoàn thành rà soát Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, gắn với yêu cầu về hạch toán kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư. Quán triệt nguyên tắc bố trí vốn tập trung, giảm số lượng dự án tối thiểu 30% so với giai đoạn 2021-2025.
Triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước, tắc nghẽn giao thông, ngập úng và xử lý rác thải sinh hoạt, công nghiệp trên địa bàn, hoàn thành cơ bản trong năm 2026.
Phấn đấu giải ngân 100% vốn đầu tư công năm 2026
Phấn đấu cắt giảm ngay 50% số lượng thủ tục hành chính liên quan đến đời sống và sản xuất kinh doanh. Kết nối, liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành và đẩy mạnh xử lý trên môi trường mạng. Thực hiện 100% dịch vụ công đủ điều kiện trực tuyến toàn trình từ Quý III/2026.
Ngoài ra, Thành phố Hà Nội cần tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, phấn đấu giải ngân 100% vốn đầu tư công năm 2026. Triển khai có hiệu quả 08 dự án trọng điểm của Thành phố để thúc đẩy tăng trưởng.
Đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc gắn với chuyển giao công nghệ, ưu tiên các dự án R&D, dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, sạch, thân thiện với môi trường. Thực hiện các giải pháp mạnh mẽ để phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế.
Triển khai đồng bộ các giải pháp khắc phục tập trung dân số quá cao ở khu vực nội đô; cải tạo, chỉnh trang khu phố cổ, cải tạo lại các khu tập thể cũ, hạn chế phát triển công trình cao tầng tại khu vực trung tâm, khắc phục tình trạng đào, lấp mặt đường xuống cấp; chú trọng phát triển các khu đô thị vệ tinh mới. Nhanh chóng khởi công các dự án xây dựng nhà ở cho thuê và tổ chức vận hành hiệu quả. Thúc đẩy phát triển không gian ngầm, không gian xanh và không gian tĩnh nhằm mở rộng không gian phát triển. Đẩy mạnh xây dựng các công trình xanh, tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường.
Bảo đảm vận hành bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp thông suốt, hiệu quả
Bảo đảm vận hành bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp thông suốt, hiệu quả. Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, quản lý, sử dụng tài sản công, trụ sở dôi dư. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với đổi mới, sáng tạo và khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Khẩn trương hoàn thiện việc đánh giá cán bộ cấp phường, xã để chủ động bố trí cán bộ, điều chuyển cán bộ từ các sở ngành xuống để tăng cường cho cấp xã, tuyển dụng bổ sung theo kết luận của Trung ương.
Triển khai quyết liệt thực chất, hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, thúc đẩy mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện trong mọi lĩnh vực; đẩy nhanh tiến độ xây dựng Thành phố thông minh và phát triển hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, phấn đấu đến cuối năm 2026, kinh tế số chiếm 22% GRDP. Xây dựng Hà Nội thành trung tâm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo hàng đầu cả nước, ngang tầm khu vực châu Á.
Tổ chức khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc miễn phí cho người dân ít nhất mỗi năm 1 lần
Bảo vệ môi trường; ưu tiên quy hoạch diện tích cây xanh, mặt nước, giảm phát thải khí nhà kính, tham gia thị trường các-bon. Xử lý triệt để ô nhiễm môi trường sông, cải thiện chất lượng không khí nội đô; sớm triển khai vùng phát thải thấp tại nội đô Hà Nội từ cuối năm 2026.
Tổ chức khám sức khỏe định kỳ, sàng lọc miễn phí cho người dân ít nhất mỗi năm 1 lần. Nhân rộng mô hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi. Sớm bố trí quỹ đất xây trường học, ưu tiên dành 5% quỹ đất phục vụ công cộng và đất chưa khai thác để xây trường học. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, dân tộc, tôn giáo.
Chú trọng công tác xây dựng Đảng và hệ thống cơ quan hành chính của Thành phố bảo đảm công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu. Làm tốt công tác đối thoại, truyền thông, giải thích chính sách, định hướng và cung cấp đầy đủ thông tin để dư luận và người dân yên tâm hiểu chính sách nhằm phát triển kinh tế xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1062/QĐ-TTg ngày 13/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 04-CT/TW ngày 17/3/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động xuất bản trong tình hình mới (Kế hoạch).
Mục tiêu tổng quát của Kế hoạch nhằm bảo đảm hoạt động xuất bản giữ vững và phát huy vai trò là lĩnh vực tư tưởng - văn hóa quan trọng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; tuyên truyền chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng, bồi đắp nền tảng tri thức quốc gia; góp phần xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Bảo đảm hoạt động xuất bản là trụ cột của hệ thống giáo dục, đào tạo và học tập suốt đời; phát triển văn hóa đọc, lấy người đọc làm trung tâm, là mục tiêu của hoạt động xuất bản; đẩy mạnh vai trò xuất bản là công cụ ngoại giao văn hóa, góp phần xây dựng và phát huy sức mạnh mềm quốc gia.
Phát triển hoạt động xuất bản trở thành lĩnh vực kinh tế - công nghệ giữ vai trò hạt nhân của hệ sinh thái kiến tạo giá trị; bộ phận quan trọng của công nghiệp văn hóa, hình thành chuỗi giá trị nội dung số, tài sản số; gia tăng hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh quốc gia.
Bảo đảm Đảng, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong định hướng, kiến tạo hoạt động xuất bản; hoàn thiện cơ chế, chính sách và triển khai mô hình hợp tác công - tư đối với hoạt động xuất bản và văn hóa đọc; phát triển mạnh mẽ công nghệ và hạ tầng số; xây dựng nền xuất bản chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hoạt động xuất bản; đổi mới căn bản chương trình đào tạo và phương pháp quản trị nguồn nhân lực; xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo; bảo đảm có đội ngũ cán bộ, biên tập viên, chuyên gia công nghệ, nhà quản trị giỏi đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới.
Đến năm 2030, có ít nhất 1 đến 2 tập đoàn xuất bản - truyền thông chủ lực
Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, hoàn thiện Luật Xuất bản và hệ thống pháp luật về xuất bản; xây dựng cơ chế, chính sách vượt trội về đầu tư, tài chính, thuế, đất đai, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số; đổi mới phương thức quản lý nhà nước theo hướng kết hợp chặt chẽ giữa tiền kiểm và hậu kiểm có kiểm soát; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; tăng cường bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan; phòng, chống in lậu, phát hành trái phép và vi phạm trên môi trường số.
Phấn đấu đến năm 2030, cơ bản hoàn thiện thể chế phát triển hoạt động xuất bản; khắc phục căn bản chồng chéo, bất cập; giảm rõ rệt tình trạng in lậu, phát hành trái phép; nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bản quyền, nhất là trên môi trường số.
Sắp xếp, củng cố hệ thống nhà xuất bản theo hướng tinh gọn, chất lượng, hiện đại hóa; đổi mới quản trị, nâng cao chất lượng nội dung, năng lực cạnh tranh và thích ứng với cơ chế thị trường, môi trường số; hình thành mô hình xuất bản - truyền thông có vai trò dẫn dắt.
Phấn đấu đến năm 2030, năng lực xuất bản đạt bình quân 6 - 6,5 bản/người/năm; hình thành ít nhất 01 - 02 tập đoàn xuất bản - truyền thông chủ lực, giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức xuất bản phẩm phục vụ nhiệm vụ chính trị, giáo dục, khoa học, văn hóa, có năng lực dẫn dắt thị trường; 80% cơ sở in có công nghệ hiện đại, quy mô và là ngành công nghiệp phụ trợ quan trọng.
Mục tiêu đến năm 2030, 100% nhà xuất bản tham gia xuất bản điện tử và ứng dụng chuyển đổi số
Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động xuất bản; phát triển xuất bản điện tử, xuất bản đa phương tiện và phân phối trên nền tảng số; xây dựng hạ tầng số, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu ngành xuất bản đồng bộ, hiện đại, phục vụ quản lý nhà nước và phát triển thị trường; thúc đẩy tích hợp giữa xuất bản với báo chí, truyền thông, giáo dục, khoa học - công nghệ, hình thành chuỗi giá trị nội dung số.
Phấn đấu đến năm 2030, cơ bản hoàn thành cơ sở dữ liệu ngành xuất bản; phần lớn quy trình xuất bản, phát hành được thực hiện trên môi trường số; xuất bản điện tử và đa phương tiện chiếm tỷ trọng ngày càng cao; gia tăng đáng kể tỷ trọng doanh thu từ nội dung số trong tổng doanh thu ngành; 100% nhà xuất bản tham gia xuất bản điện tử và ứng dụng chuyển đổi số trong quy trình xuất bản; xuất bản phẩm điện tử chiếm khoảng 13 - 15% tổng số đầu sách hằng năm.
Thúc đẩy mạnh mẽ phát triển văn hóa đọc; xây dựng và phát triển đồng bộ hệ thống thiết chế văn hóa đọc; mở rộng tiếp cận sách và tri thức cho người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo; tăng cường liên kết giữa nhà trường, gia đình, thư viện, nhà xuất bản và cộng đồng nhằm hình thành thói quen đọc bền vững; đồng thời đẩy mạnh văn hóa đọc trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thông qua các kho tài liệu số đa ngôn ngữ và không gian đọc trực tuyến.
Phấn đấu đến năm 2030, mức đọc bình quân đạt 7 - 8 bản/người/năm, tiệm cận mức phổ biến của các nước có trình độ phát triển tương tự trong khu vực.
Đến năm 2030, mỗi năm có khoảng 150 - 200 đầu sách Việt Nam được dịch và phát hành ở nước ngoài
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hoạt động xuất bản theo hướng vững vàng về chính trị, tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp; giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, công nghệ và kỹ năng thích ứng với môi trường số.
Phấn đấu đến năm 2030, phần lớn nhân lực ngành được đào tạo, bồi dưỡng về công nghệ số, kỹ năng biên tập, xuất bản trên môi trường điện tử và quản trị hiện đại; từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia về công nghệ, dữ liệu và bản quyền trong hoạt động xuất bản.
Tăng cường hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế của xuất bản Việt Nam; mở rộng thị trường xuất khẩu xuất bản phẩm và bản quyền; tăng số lượng xuất bản phẩm Việt Nam được dịch và phát hành ở nước ngoài; đẩy mạnh hoạt động dịch thuật, giới thiệu, quảng bá xuất bản phẩm Việt Nam có giá trị đến bạn bè quốc tế; đưa các hội sách và sự kiện xuất bản trở thành một cấu phần trong các hoạt động ngoại giao văn hóa của quốc gia.
Phấn đấu đến năm 2030, mỗi năm có khoảng 150 - 200 đầu sách Việt Nam được dịch và phát hành ở nước ngoài; mở rộng thị trường xuất bản và bản quyền ra khoảng 20 - 30 quốc gia, vùng lãnh thổ; từng bước hình thành thị trường giao dịch bản quyền xuất bản phẩm Việt Nam có tổ chức, chuyên nghiệp.
Đến năm 2045, xây dựng ngành xuất bản Việt Nam là trung tâm sáng tạo, hợp tác hàng đầu ở khu vực và quốc tế
Tầm nhìn đến năm 2045, xây dựng ngành xuất bản Việt Nam trở thành ngành công nghiệp nội dung số hiện đại, có trình độ phát triển tiên tiến trong khu vực, có khả năng cạnh tranh và tham gia ngày càng sâu vào thị trường xuất bản quốc tế, là trung tâm sáng tạo, giao lưu, hợp tác hàng đầu với các nước có hoạt động xuất bản, truyền thông lớn ở khu vực Đông Nam Á và quốc tế.
Hình thành môi trường xuất bản lành mạnh, chuyên nghiệp, sáng tạo; hệ thống xuất bản, in, phát hành vận hành hiệu quả trên nền tảng công nghệ hiện đại; hoạt động quản lý nhà nước được số hóa, kết nối, liên thông, minh bạch và hiệu quả cao.
Hoạt động xuất bản thật sự trở thành một trong những trụ cột quan trọng của đời sống văn hóa, có đóng góp ngày càng lớn vào phát triển con người, phát triển tri thức, xây dựng xã hội học tập và phát triển kinh tế văn hóa của đất nước.
Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, Kế hoạch đưa ra 10 nhiệm vụ, giải pháp để các bộ, ngành, cơ quan liên quan triển khai thực hiện như sau: (1) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản. (2) Hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật; tháo gỡ điểm nghẽn; tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ cho phát triển hoạt động xuất bản. (3) Đổi mới mô hình phát triển; xây dựng ngành xuất bản chuyên nghiệp, hiện đại; phát triển kinh tế xuất bản gắn với công nghiệp văn hóa. (4) Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện; phát triển xuất bản điện tử, xuất bản đa phương tiện; xây dựng hạ tầng và nền tảng số của ngành xuất bản. (5) Nâng cao chất lượng nội dung xuất bản; phát huy vai trò định hướng tư tưởng, giáo dục, khoa học và văn hóa của xuất bản phẩm. (6) Phát triển văn hóa đọc, xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời. (7) Phát triển nguồn nhân lực ngành xuất bản đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới. (8) Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra; kiên quyết đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất bản. (9) Mở rộng hợp tác quốc tế; phát triển thị trường bản quyền; quảng bá xuất bản phẩm Việt Nam ra nước ngoài. (10) Bảo đảm nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và các điều kiện cần thiết để thực hiện thống nhất Kế hoạch.
Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 305/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Đồng Nai.
Thông báo kết luận nêu rõ, tăng trưởng GRDP (tổng sản phẩm trên địa bàn) Quý I năm 2026 của tỉnh Đồng Nai đạt 9,76%, thuộc nhóm địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, theo hướng công nghiệp hóa. Các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ tiếp tục phát triển. Thu ngân sách đạt 51 % dự toán; tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tăng 16,37%. Chỉ số IIP (sản xuất công nghiệp) tăng 13,59% cao hơn bình quân cả nước (9,1%); thu hút đầu tư trong và ngoài nước, xuất khẩu tăng cao. Đã tập trung triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị...
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thành phố Đồng Nai vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, cần nhận diện đầy đủ để có giải pháp, lộ trình khắc phục như: Dư địa còn lớn nhưng chưa được khai thác hết; chưa chuyển biến mạnh, đồng đều ở các cơ quan, xã, phường. Tăng trưởng GRDP Quý I đạt 9,76%, thấp hơn kịch bản do thành phố đề ra; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công tuy cao hơn trung bình cả nước nhưng mới đạt gần 30% kế hoạch...
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường và triển khai các dự án lớn
Để bảo đảm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026 đã đề ra, thành phố Đồng Nai phải đổi mới nhận thức, tư duy và phương thức làm việc; từng cơ quan, đơn vị, từng cán bộ, công chức phải quán triệt tinh thần chủ động, sáng tạo, xử lý theo thẩm quyền, hành động quyết liệt, hiệu quả; kiên định, quyết tâm thực hiện đạt và vượt mục tiêu đề ra; mạnh dạn đề xuất với Trung ương những cơ chế, chính sách đột phá cho Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung.
Thành phố Đồng Nai cần giao chỉ tiêu, nhiệm vụ và thời gian hoàn thành cụ thể cho các sở, ngành, địa phương, phân công cho từng đồng chí Thường vụ Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Nai theo dõi, chỉ đạo trực tiếp; quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 10% trở lên.
Chủ động hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhất là khu vực tư nhân, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường và triển khai các dự án lớn trên địa bàn. Đẩy mạnh cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính; phân cấp, phân quyền mạnh hơn nữa cho địa phương, cơ sở. Tập trung rà soát, xử lý dứt điểm, tháo gỡ nhanh cho các dự án tồn đọng, kéo dài theo đúng chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ và thẩm quyền được giao, sớm đưa các dự án vào hoạt động, góp phần thiết thực phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước.
Rà soát, cập nhật, bổ sung Quy hoạch Thành phố, quy hoạch đô thị và nông thôn, xác định lộ trình hoàn thành sớm nhất các quy hoạch, đặc biệt là các quy hoạch liên quan đến Cảng hàng không quốc tế Long Thành; phối hợp với Bộ Xây dựng rà soát, hoàn thiện quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng giao thông kết nối Cảng hàng không quốc tế Long Thành, bảo đảm đồng bộ từ kết nối tới phát triển cơ sở hạ tầng để phục vụ tốt nhất mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố; phối hợp với các bộ, ngành, đơn vị liên quan xử lý ngay các khó khăn, vướng mắc của dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành trong tháng 6 năm 2026, bảo đảm hoàn thành, đưa dự án đi vào hoạt động vào cuối năm 2026.
Ưu tiên tối đa không gian thu hút các dự án công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ
Đối với phát triển công nghiệp - xây dựng, Thủ tướng đề nghị thành phố Đồng Nai cần củng cố, phát triển vị thế Trung tâm công nghiệp theo hướng hiện đại của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước. Thu hút đầu tư có chọn lọc vào các Khu công nghiệp trên địa bàn; rà soát quỹ đất công nghiệp và tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp để ưu tiên tối đa không gian thu hút các dự án công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, cơ khí chính xác, tự động hóa và vật liệu mới, tiết kiệm năng lượng...
Đồng thời, đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án, công trình hạ tầng kết nối chiến lược, các dự án giao thông kết nối, đặc biệt kết nối với Cảng hàng không quốc tế Long Thành.
Bổ sung vào quy hoạch và xây dựng phương án thu hút đầu tư phát triển đô thị, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao; hình thành hệ sinh thái đô thị hiện đại, thông minh quanh Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Có chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư nhà máy chế biến chuyên sâu đối với cao su, gỗ và các cây nông, công nghiệp chủ lực khác.
Khai thác tốt tiềm năng lợi thế của Cảng hàng không quốc tế Long Thành
Về phát triển thương mại, dịch vụ, Đồng Nai cần thay đổi tư duy từ "sản xuất nhiều, xuất khẩu thô" sang "xuất khẩu xanh, xuất khẩu số và có giá trị gia tăng cao". Khai thác lợi thế "thành phố Sân bay", đẩy nhanh các dự án trung tâm logistics, cảng cạn (ICD)... Phát triển các mô hình thương mại dịch vụ chất lượng cao tại các đô thị trung tâm.
Tập trung hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử xuyên biên giới để làm chủ kênh phân phối trực tiếp; số hóa hệ thống truy xuất nguồn gốc và chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn xanh quốc tế nhằm bảo vệ, bứt phá vị thế xuất siêu vững chắc của Thành phố; tiếp tục đấu tranh bảo vệ sở hữu trí tuệ, chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái.
Phát huy và khai thác tốt tiềm năng lợi thế của Cảng hàng không quốc tế Long Thành, các tuyến cao tốc kết nối với Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Nguyên để phát triển dịch vụ hàng không, thương mại, tài chính, hội nghị, triển lãm, đào tạo, y tế, các dịch vụ chất lượng cao khác; đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái ở khu vực hồ Thủy điện Trị An, Vườn quốc gia Bù Gia Mập, Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cát Tiên, Khu bảo tồn thiên nhiên Vĩnh Cửu,.../.