• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/6/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/6/2026.

20/06/2026 21:16

Quy định chi tiết một số điều của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/6/2026 - Ảnh 1.

Nghị định quy định cụ thể chế độ đối với người bị tạm giữ, tạm giam

Chính phủ ban hành Nghị định số 213/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú. Một trong các nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định về định mức ăn, ở, chế độ mặc, tư trang và chế độ chăm sóc y tế đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

Định mức ăn, ở của người bị tạm giữ, người bị tạm giam

Nghị định quy định, người bị tạm giam được Nhà nước bảo đảm tiêu chuẩn, định mức ăn trong 01 tháng gồm: 17 kg gạo tẻ; 15 kg rau xanh hoặc củ, quả; 1,5 kg thịt lợn; 1,5 kg cá; 05 quả trứng gà hoặc trứng vịt; 0,5 kg đường; 0,75 lít nước mắm; 0,3 lít dầu ăn; 0,1 kg bột ngọt; 0,5 kg muối; gia vị khác tương đương 0,5 kg gạo tẻ; nhiên liệu tương đương 17 kg củi hoặc 15 kg than hoặc 25 kWh điện hoặc 03 kg khí đốt (gas). Người bị tạm giữ, người bị tạm giam được bảo đảm điện, nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày. Lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu bảo đảm chất lượng và có mức giá trung bình theo thời giá thị trường tại địa phương nơi cơ sở giam giữ đóng quân. Thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định hoán đổi các loại lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu bằng các loại thực phẩm khác có giá trị tương đương bảo đảm người bị tạm giữ, người bị tạm giam được sử dụng hết tiêu chuẩn, định mức theo quy định.

Định mức ăn của người bị tạm giữ được tính theo ngày trên cơ sở định mức ăn của người bị tạm giam. Ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật, người bị tạm giữ, người bị tạm giam được ăn thêm bằng 05 lần định mức ăn ngày thường.

Định mức ăn của người bị tạm giữ, người bị tạm giam ốm đau, bệnh tật, thương tích do Thủ trưởng cơ sở giam giữ quyết định theo chỉ định của y sĩ hoặc bác sĩ điều trị nhưng không quá 02 lần so với định mức ăn ngày thường.

Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người dưới 18 tuổi được bảo đảm định mức ăn theo quy định và được tăng thêm 20% về thịt, cá, trứng so với định mức ăn.

Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi được hưởng định mức ăn bằng 02 lần định mức ăn ngày thường theo quy định và được hoán đổi theo chỉ định của y sĩ hoặc bác sĩ.

Ngoài định mức ăn quy định, người bị tạm giữ, người bị tạm giam được sử dụng tiền gửi lưu ký để mua đồ ăn thêm. Định mức đồ ăn mua trong 01 tháng không quá 05 lần định mức ăn trong 01 tháng của 01 người bị tạm giam.

Tiêu chuẩn diện tích chỗ nằm cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam tối thiếu là 02 m2, được bố trí sàn nằm và có chiếu. Chỗ nằm bảo đảm sạch sẽ, khô ráo, thông thoáng, phù hợp điều kiện thời tiết và yêu cầu vệ sinh môi trường. Khu vực bố trí chỗ nằm phải được sắp xếp hợp lý, bảo đảm trật tự, an toàn, không ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt của người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

Tổ chức bếp ăn phục vụ người bị tạm giữ, người bị tạm giam

Theo Nghị định quy định, cơ sở giam giữ được tổ chức bếp ăn có đủ các dụng cụ cần thiết để bảo quản lương thực, thực phẩm, phục vụ việc nấu ăn, cung cấp suất ăn, nước uống cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam phù hợp với địa điểm, quy mô và nhu cầu thực tế của cơ sở giam giữ. Việc tổ chức bếp ăn ở cơ sở giam giữ phải bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm.

Dụng cụ cấp dưỡng dùng cho 01 người bị tạm giữ, người bị tạm giam ăn riêng theo suất do cơ sở giam giữ cho mượn bao gồm 01 cặp lồng hoặc khay nhựa chuyên dùng đựng đồ ăn và 01 đôi đũa nhựa, 01 thìa nhựa.

Chất tẩy rửa đối với các dụng cụ cấp dưỡng không quá 0,2% định mức ăn một ngày.

Trường hợp do quy mô và số lượng người bị tạm giữ, người bị tạm giam ít không tổ chức được bếp ăn riêng thì cơ sở giam giữ tổ chức nấu ăn cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam tại bếp ăn tập thể dành cho cán bộ của cơ sở giam giữ.

Chế độ mặc và tư trang của người bị tạm giữ, người bị tạm giam

Nghị định quy định, người bị tạm giữ, người bị tạm giam được sử dụng quần, áo, chăn, chiếu, màn và các đồ dùng cần thiết cho sinh hoạt của cá nhân, nếu thiếu thì cơ sở giam giữ cho mượn theo tiêu chuẩn mỗi người gồm: 01 chiếu; 01 màn cá nhân; 01 đôi dép; 02 bộ quần áo dài; 01 áo ấm mùa đông (các tỉnh, thành phố từ thành phố Đà Nẵng trở ra phía Bắc và 04 tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng) và 01 chăn (các tỉnh, thành phố từ thành phố Đà Nẵng trở ra phía Bắc và 04 tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng dùng chăn bông có vỏ tách rời loại không quá 02 kg; các tỉnh, thành phố còn lại dùng chăn sợi).

Người bị tạm giam khi vào cơ sở giam giữ được cấp: 01 bàn chải đánh răng, 01 khăn rửa mặt dùng trong 03 tháng; mỗi tháng được cấp 0,3 kg xà phòng, 80 ml dầu gội đầu, 50 g kem đánh răng. Người bị tạm giữ khi vào cơ sở giam giữ được cấp như đối với người bị tạm giam, khi người bị tạm giữ chuyển sang tạm giam thì tiếp tục sử dụng như quy định đối với người bị tạm giam.

Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ được cấp đồ dùng cần thiết cho vệ sinh của phụ nữ trị giá tương đương 02 kg gạo tẻ/người/tháng.

Cơ sở giam giữ cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam mượn quần áo màu xanh lam, không đóng số theo mẫu thống nhất: áo kiểu bludong dài tay, quần dài có chun.

Giám thị các trại tạm giam đóng quân trên địa bàn 04 tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng quyết định việc sử dụng áo ấm mùa đông và chăn đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam bảo đảm phù hợp với thời tiết, khí hậu tại địa phương.

Chế độ chăm sóc y tế đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam

Theo Nghị định quy định, trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước hoặc y tế của cơ sở giam giữ không bảo đảm được loại thuốc cần thiết cho việc điều trị thì người bị tạm giữ, người bị tạm giam được nhận thuốc chữa bệnh từ người thân thích theo đơn thuốc của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước hoặc y tế của cơ sở giam giữ hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi người bị tạm giữ, người bị tạm giam đã khám và điều trị.

Khi người bị tạm giữ, người bị tạm giam có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, cơ sở giam giữ có trách nhiệm thông báo và yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ án trưng cầu giám định pháp y tâm thần. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ sở giam giữ, cơ quan đang thụ lý vụ án có trách nhiệm xem xét, quyết định việc trưng cầu giám định pháp y tâm thần theo thẩm quyền; trường hợp không trưng cầu giám định thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc đưa người bị tạm giữ, người bị tạm giam đi giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần hoặc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, cơ quan đang thụ lý vụ án chủ trì, phối hợp với cơ sở giam giữ đưa người bị tạm giữ, người bị tạm giam đến cơ sở giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần hoặc cơ sở chữa bệnh nêu trong quyết định đảm bảo an toàn, đúng trình tự, thủ tục theo quy định.

Trường hợp người bị tạm giữ, người bị tạm giam nhiễm HIV, lao, các bệnh truyền nhiễm và bệnh mạn tính khác thì được chăm sóc, điều trị theo quy định của pháp luật hiện hành.

Người bị tạm giữ, người bị tạm giam là phụ nữ trong thời gian mang thai được chăm sóc y tế và khám thai định kỳ theo quy định của Bộ Y tế.

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước có trách nhiệm thực hiện quy định chuyên môn và phối hợp với các cơ sở giam giữ trên địa bàn tổ chức khám bệnh, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Trường hợp vượt quá khả năng chuyên môn điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải kịp thời thông báo và phối hợp với cơ sở giam giữ để chuyển người bị tạm giữ, người bị tạm giam đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trên điều trị.

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên của Nhà nước trên địa bàn có cơ sở giam giữ đóng quân thì bố trí quỹ đất trong khuôn viên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để xây dựng khu điều trị riêng cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Trường hợp không còn quỹ đất thì bố trí tối thiểu 03 buồng bệnh riêng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để điều trị cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam và phải đảm bảo thuận lợi cho công tác quản lý người bị tạm giữ, người bị tạm giam. Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm phân công bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật y đến khám, điều trị và chăm sóc người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo yêu cầu chuyên môn. Trường hợp khi không có người bị tạm giữ, người bị tạm giam điều trị, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thể sử dụng buồng bệnh để điều trị cho bệnh nhân khác. Trường hợp quy hoạch bệnh viện mới, Sở Y tế phải thông báo cho Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam Công an cấp tỉnh biết, phối hợp khảo sát, bố trí quỹ đất và thiết kế xây dựng khu điều trị riêng cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam.

Kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam

Nghị định quy định, tiền thuốc chữa bệnh thông thường, vật tư y tế phục vụ cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam được cấp không quá 05 kg gạo tẻ/01 người/01 tháng.

Cơ sở giam giữ có trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế phát sinh trong việc khám bệnh, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam tại y tế của cơ sở giam giữ hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước.

Trường hợp người thân thích hoặc người đại diện hợp pháp tự nguyện chi trả kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam thì cơ sở giam giữ lập biên bản ghi nhận việc tự nguyện chi trả kinh phí khám bệnh, chữa bệnh.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

Ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ngày 19/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/6/2026 - Ảnh 2.

Tổ chức các chiến dịch truyền thông đa nền tảng về “Ngày Văn hóa Việt Nam”

Triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng với quan điểm chỉ đạo "Phát triển văn hóa, con người là nền tảng; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển"; nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết số 80-NQ/TW), trong đó chọn ngày 24/11 hằng năm là "Ngày Văn hóa Việt Nam" và góp phần triển khai thực hiện Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch).

Tôn vinh các giá trị, di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Kế hoạch nhằm mục đích tạo đợt sinh hoạt văn hóa - chính trị sâu rộng trong toàn xã hội; khẳng định vai trò trung tâm của Nhân dân với tư cách là chủ thể sáng tạo, bảo tồn, trao truyền các giá trị văn hóa; nâng cao khả năng tiếp cận, sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của Nhân dân; khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, trách nhiệm công dân và khát vọng cống hiến vì sự phồn vinh, hạnh phúc của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tôn vinh các giá trị, di sản văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; phát huy nét đặc sắc của văn hóa vật thể, phi vật thể và các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, làng nghề, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa gắn với phát triển kinh tế, tạo sinh kế bền vững cho người dân, thúc đẩy phát triển du lịch và nâng tầm thương hiệu văn hóa Việt Nam.

Tạo sự thống nhất trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ từ trung ương đến cơ sở; làm căn cứ để các ban, bộ, ngành, cơ quan trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ và bố trí nguồn lực triển khai, thực hiện.

Phát triển không gian và nền tảng văn hóa số toàn dân

Theo Kế hoạch, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các cơ quan báo chí ở trung ương và địa phương, phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; các bộ, ngành trung ương; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức xây dựng hệ thống sản phẩm truyền thông về "Ngày Văn hóa Việt Nam" với nội dung, hình thức phong phú, phù hợp đặc thù văn hóa và điều kiện thực tiễn của từng vùng, miền (bao gồm: bộ nhận diện; các sản phẩm truyền thông số, đa nền tảng; chương trình phát thanh, truyền hình, báo chí; sản phẩm cổ động trực quan và các tài liệu truyền thông đặc thù cơ sở).

Tăng cường sản xuất, phát sóng các chương trình, chuyên mục, thông điệp phát thanh - truyền hình, phim tài liệu, phóng sự chuyên sâu và các sản phẩm văn hóa số (trong đó chú trọng khai thác các nội dung về di sản văn hóa dân tộc, các sản phẩm văn hóa đặc trưng của Việt Nam); khai thác hiệu quả mạng xã hội và phát huy vai trò của người nổi tiếng, người có ảnh hưởng, uy tín trong cộng đồng nhằm lan tỏa sâu, rộng lịch sử văn hóa dân tộc, hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

Phát triển không gian và nền tảng văn hóa số toàn dân; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tại các thiết chế văn hóa như: bảo tàng, thư viện, nhà hát, trung tâm triển lãm, trung tâm văn hóa... nhằm mở rộng khả năng tiếp cận và thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa của Nhân dân giữa các vùng miền, địa phương.

Tăng cường tổ chức các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan. Xây dựng, hướng dẫn chủ đề, thông điệp truyền thông chung; xây dựng, hướng dẫn sử dụng bộ nhận diện, pano, áp phích mẫu để áp dụng thống nhất trên toàn quốc. Tổ chức trang trí, treo biểu ngữ tại trụ sở cơ quan nhà nước, trường học, khu dân cư và các không gian công cộng.

Tổ chức các chiến dịch truyền thông đa nền tảng về "Ngày Văn hóa Việt Nam" nhằm tạo dấu ấn văn hóa Việt Nam trên không gian mạng. Chú trọng các giải pháp bảo đảm an ninh văn hóa trên môi trường mạng và chủ quyền văn hóa số. Thực thi nghiêm quyền tác giả; chủ động, kịp thời ngăn chặn, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, lệch lạc, các yếu tố ngoại lai phản cảm trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng. Tăng cường tính dự báo, đánh giá tác động, ảnh hưởng của các hoạt động truyền thông, chủ động có các phương án để kịp thời xử lý khủng hoảng truyền thông phát sinh.

Triển khai chuỗi sự kiện văn hóa, nghệ thuật, thể thao quy mô lớn

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; phối hợp với các ban, bộ, ngành, cơ quan liên quan tổ chức triển lãm, trưng bày tư liệu, hình ảnh và các thành tựu tiêu biểu trong sự nghiệp phát triển văn hóa, xây dựng công nghiệp văn hóa và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam.

Triển khai chuỗi sự kiện văn hóa, nghệ thuật, thể thao quy mô lớn. Chú trọng kết hợp hài hòa giữa truyền thống và đương đại, khuyến khích ứng dụng công nghệ trình diễn hiện đại nhằm tạo sức lan tỏa sâu rộng, thu hút đông đảo nghệ sĩ, nghệ nhân và Nhân dân tham gia.

Tổ chức đặt hàng, tạo điều kiện và không gian thuận lợi để đội ngũ trí thức, nhà văn hóa, văn nghệ sĩ, nghệ nhân phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo; tổ chức các chiến dịch sáng tác chuyên đề, triển lãm chuyên sâu và chuỗi trình diễn nghệ thuật trọng điểm kết hợp giữa truyền thống và đương đại thông qua các Hội văn học nghệ thuật chuyên ngành.

Tổ chức các sự kiện văn hóa đối ngoại tại các trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài; các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để lan tỏa giá trị "Ngày Văn hóa Việt Nam" đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế.

Phát triển các tuyến du lịch trải nghiệm tại không gian di sản, làng nghề và cộng đồng bản địa; phục dựng các lễ hội truyền thống nhằm tạo sinh kế bền vững, bảo đảm gắn kết chặt chẽ giữa bảo tồn di sản với phát triển kinh tế.

Hỗ trợ xây dựng không gian sinh hoạt văn hóa tại cộng đồng

Đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở; hỗ trợ xây dựng không gian sinh hoạt văn hóa tại cộng đồng. Tích hợp nội dung xây dựng cộng đồng văn hoá cơ sở giàu bản sắc, sáng - xanh - sạch - đẹp; lấy khu dân cư là hạt nhân của môi trường văn hoá, người dân làm chủ thể và trung tâm trong xây dựng môi trường văn hóa cơ sở và đời sống văn hóa cộng đồng.

Phát triển mạnh mẽ văn hóa đọc theo hướng lấy người đọc làm trung tâm; nhân rộng các mô hình không gian đọc, thư viện mở, học tập sáng tạo và thông minh gắn với các sinh hoạt cộng đồng. Đẩy mạnh phong trào toàn dân đọc sách nhằm hình thành thói quen và kỹ năng đọc bền vững cho người dân.

Tổ chức các chương trình, hoạt động chuyên đề giới thiệu di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào các dân tộc thiểu số, trang phục, trò chơi dân gian, ẩm thực và giới thiệu tinh hoa thủ công mỹ nghệ.

Xây dựng và nhân rộng các mô hình bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể và văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc gắn với phát triển du lịch. Xác lập vai trò chủ thể trực tiếp của cộng đồng trong bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững nhằm tạo sinh kế ổn định, phù hợp với bản sắc và phong tục tập quán.

Phê duyệt Đề án phát triển Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế thuộc Trường Đại học Y - Dược Huế, Đại học Huế đạt chuẩn các bệnh viện tiên tiến khu vực Đông Nam Á, tiến tới đạt chuẩn quốc tế

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1096/QĐ-TTg ngày 19/6/2026 phê duyệt Đề án phát triển Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế thuộc Trường Đại học Y - Dược Huế, Đại học Huế đạt chuẩn các bệnh viện tiên tiến khu vực Đông Nam Á, tiến tới đạt chuẩn quốc tế (Đề án).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/6/2026 - Ảnh 3.

Phát triển Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế thuộc Trường Đại học Y - Dược Huế, Đại học Huế đạt chuẩn các bệnh viện tiên tiến khu vực Đông Nam Á, tiến tới đạt chuẩn quốc tế

Mục tiêu của Đề án là xây dựng Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế theo mô hình "Trường - Viện" thành bệnh viện chuyên sâu, kỹ thuật cao, tiên tiến, hiện đại, đạt chuẩn bệnh viện tiên tiến khu vực Đông Nam Á năm 2030 và tiến tới đạt chuẩn quốc tế năm 2045.

Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2026 - 2030, quy mô bệnh viện đạt trên 800 giường bệnh, hoạt động theo mô hình "Trường - Viện"; phấn đấu đạt mức cao nhất theo Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế, đạt chất lượng bệnh viện cấp quốc gia và được kiểm định đạt tiêu chuẩn cấp khu vực.

100% đơn vị chuyên môn của Bệnh viện được trang bị đầy đủ thiết bị tiên tiến, chuyên ngành và chuyên sâu theo tiêu chuẩn, định mức được phê duyệt. Phấn đấu tỷ lệ đồng biên chế đạt 30%, bảo đảm hài hòa giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học và khám bệnh, chữa bệnh.

Ít nhất 75% tổng số các danh mục kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh được phê duyệt; đạt tiêu chí bệnh viện thông minh; 100% hoạt động quản lý vận hành và chuyên môn nghiệp vụ được thực hiện trên nền tảng công nghệ số.

Tầm nhìn đến năm 2045, quy mô bệnh viện đạt trên 1.000 giường bệnh, đầy đủ các chuyên khoa hiện đại ngang tầm với các nước tiên tiến và đạt tiêu chuẩn quốc tế; phấn đấu bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư sau năm 2035.

Đầu tư đồng bộ các khối công trình của bệnh viện theo hướng xanh, sạch, thuận tiện

Để đạt được các mục tiêu trên, một trong những nhiệm vụ và giải pháp Đề án đặt ra là mở rộng quy mô, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị. Theo đó, mở rộng quỹ đất, phát triển không gian bệnh viện theo lộ trình bảo đảm đạt chuẩn quốc gia, đáp ứng mục tiêu mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh. Đầu tư đồng bộ các khối công trình của bệnh viện theo hướng xanh, sạch, an toàn, thuận tiện, đáp ứng các mục tiêu mở rộng quy mô bệnh viện.

Đầu tư, nâng cấp hệ thống thiết bị y tế theo hướng hiện đại, chuyên sâu, đồng bộ với công năng công trình, yêu cầu phát triển chuyên môn của bệnh viện và đạt các chứng nhận chất lượng quốc tế. Đầu tư, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng tiêu chí bệnh viện thông minh.

Quy hoạch, phát triển hạ tầng gắn với sử dụng hiệu quả quỹ đất. Tối ưu công năng sử dụng cơ sở vật chất, bảo đảm vận hành hiệu quả, tiết kiệm; đa dạng hóa nguồn thu hợp pháp, phấn đấu tăng trưởng doanh thu tối thiểu 10% mỗi năm.

Tăng cường đào tạo, thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Phát triển số lượng và cơ cấu nhân lực phù hợp với lộ trình mở rộng quy mô giường bệnh, hướng tới đạt các chứng nhận quốc tế; ưu tiên các lĩnh vực trực tiếp quyết định chất lượng bệnh viện bao gồm nhân lực lâm sàng, điều dưỡng, cận lâm sàng, kiểm soát nhiễm khuẩn, công nghệ thông tin, quản lý chất lượng và quản trị bệnh viện.

Đẩy mạnh đào tạo sau đại học, đào tạo liên tục, đào tạo tại chỗ, đào tạo theo chuẩn năng lực, đào tạo quản trị bệnh viện và tăng cường hợp tác quốc tế gắn với yêu cầu phát triển chuyên môn của bệnh viện.

Hoàn thiện cơ chế thu hút, bồi dưỡng và giữ chân nhân lực chất lượng cao trên cơ sở vị trí việc làm, năng lực chuyên môn và hiệu quả công việc. Cải thiện chính sách tiền lương và cơ chế đãi ngộ; ưu tiên cử cán bộ đi đào tạo, tu nghiệp tại các quốc gia có nền y học phát triển.

Ưu tiên phát triển các kỹ thuật điều trị xâm lấn tối thiểu, ứng dụng kỹ thuật cao trong các chuyên ngành lâm sàng

Chuẩn hóa, đồng bộ hóa hệ thống quy trình chuyên môn, quy trình chăm sóc, quy trình hỗ trợ và quy trình quản trị bệnh viện theo hướng hiện đại, an toàn, hiệu quả, lấy người bệnh làm trung tâm; bảo đảm phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh và các tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện theo chuẩn quốc gia, khu vực và quốc tế.

Tập trung phát triển các chuyên khoa, kỹ thuật chuyên sâu, lĩnh vực mũi nhọn và mô hình trung tâm chuyên sâu theo định hướng bệnh viện đại học hiện đại, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân.

Ưu tiên phát triển các kỹ thuật điều trị xâm lấn tối thiểu, ứng dụng kỹ thuật cao trong các chuyên ngành lâm sàng, nâng cao năng lực xét nghiệm chuyên sâu có giá trị cao trong chẩn đoán, điều trị; tập trung xây dựng các mũi nhọn chiến lược về ghép tạng, ung thư và nghiên cứu, ứng dụng vật liệu thay thế.

Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo và quản trị dữ liệu y tế trong khám bệnh, chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu khoa học, quản lý chất lượng và quản trị, điều hành bệnh viện; từng bước hình thành mô hình bệnh viện thông minh, hiện đại, liên thông, hiệu quả.

Triển khai lộ trình quản lý chất lượng bệnh viện theo chuẩn tiên tiến, lấy an toàn người bệnh làm ưu tiên hàng đầu; tăng cường kiểm soát nhiễm khuẩn, quản lý thuốc, vật tư, thiết bị y tế và cải tiến chất lượng liên tục./.