• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/3/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/3/2026.

27/03/2026 18:39
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/3/2026- Ảnh 1.

Một số quy định mới về quản lý nợ công

Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực quản lý nợ công

Chính phủ ban hành Nghị định số 84/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực quản lý nợ công.

Nghị định số 84/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của 05 Nghị định sau:

1- Nghị định số 91/2018/NĐ-CP ngày 26/6/2018 của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ;

2- Nghị định số 93/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ về quản lý nợ của chính quyền địa phương;

3- Nghị định số 94/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ về nghiệp vụ quản lý nợ công;

4- Nghị định số 95/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ quy định về phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch công cụ nợ của Chính phủ trên thị trường chứng khoán được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 83/2023/NĐ-CP ngày 29/11/2023;

5- Nghị định số 97/2018/NĐ-CP ngày 30/6/2018 của Chính phủ về cho vay lại vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 79/2021/NĐ-CP ngày 16/8/2021.

Theo Bộ Tài chính, đối với Nghị định số 94/2018/NĐ-CP về nghiệp vụ quản lý nợ công, thực tế cho thấy, tiến độ chuẩn bị đầu tư, ký kết và giải ngân các dự án ODA, vay ưu đãi nước ngoài còn chậm, có dự án mất 3–5 năm để hoàn tất ký hiệp định vay. Luật số 141/2025/QH15 đã thay thế khâu "đề xuất dự án" bằng "đề xuất khoản vay" với thủ tục giản lược hơn, do đó nghị định cần được điều chỉnh tương ứng; đồng thời rà soát các quy định về hạn mức bảo lãnh Chính phủ, kế hoạch vay – trả nợ hằng năm, cơ chế cấp phát cho UBND cấp tỉnh và đơn vị sự nghiệp công lập.

Bổ sung trường hợp phát sinh nhu cầu điều chỉnh kế hoạch bảo lãnh chính phủ

Nghị định số 84/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 16 Nghị định số 94/2018/NĐ-CP về trình tự lập, quyết định kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm như sau:

Sửa đổi, bổ sung khoản 3 theo hướng mở rộng thẩm quyền quyết định kế hoạch vay, trả nợ, chuyển từ "Chính phủ quyết định" sang "cấp có thẩm quyền quyết định". Cụ thể:

"3. Đối tượng vay lại, đối tượng được bảo lãnh lập kế hoạch vay, trả nợ đối với các khoản vay lại và bảo lãnh Chính phủ, gửi Bộ Tài chính để xác định hạn mức vay ODA, vay ưu đãi về cho vay lại và hạn mức bảo lãnh Chính phủ theo quy định tại Nghị định của Chính phủ về cho vay lại nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài của Chính phủ và Nghị định của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ, trình cấp có thẩm quyền quyết định."

Sửa đổi, bổ sung khoản 5 về việc xây dựng kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm theo hướng đơn giản hóa quy trình, cụ thể hóa thời hạn, đồng thời bổ sung cơ chế kiểm soát rủi ro:

"5. Căn cứ vào tổng mức vay, trả nợ của ngân sách nhà nước hằng năm đã được Quốc hội quyết định, Bộ Tài chính xây dựng kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm bao gồm cả hạn mức vay về cho vay lại và hạn mức bảo lãnh Chính phủ, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30 tháng 11 của năm liền kề trước năm kế hoạch.

Trường hợp tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ vượt quá tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội của năm trước, Bộ Tài chính trình Chính phủ quyết định hạn mức bảo lãnh Chính phủ trước khi tổng hợp vào kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm.

Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm trước ngày 31 tháng 12 của năm liền kề trước năm kế hoạch."

Đồng thời, bổ sung khoản 7 vào sau khoản 6 về trường hợp phát sinh nhu cầu điều chỉnh kế hoạch bảo lãnh chính phủ:

7. Sau khi kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm đã được phê duyệt, trường hợp phát sinh nhu cầu điều chỉnh kế hoạch bảo lãnh chính phủ nêu tại khoản 5 Điều 10 Nghị định số 91/2018/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Chính phủ về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ dẫn đến tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ sau điều chỉnh thấp hơn hoặc bằng tốc độ tăng dư nợ của năm trước đó, Bộ Tài chính trình Chính phủ quyết định điều chỉnh hạn mức bảo lãnh Chính phủ theo khoản 3 Điều 14 Nghị định này. Hạn mức bảo lãnh Chính phủ sau điều chỉnh được thực hiện theo quyết định của Chính phủ, không yêu cầu thực hiện thủ trình lại kế hoạch vay, trả nợ công.

Bổ sung các yêu cầu đối với việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho khoản vay, khoản phát hành trái phiếu

Bên cạnh đó, Nghị định số 84/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 19 Nghị định số 94/2018/NĐ-CP về quản lý việc huy động vốn vay. Cụ thể:

Sửa đổi, bổ sung khoản 3 về các yêu cầu vay vốn nước ngoài dưới hình thức thỏa thuận bằng văn bản, cụ thể như sau:

"3. Việc vay vốn nước ngoài dưới hình thức thỏa thuận bằng văn bản phải bảo đảm:

a) Chỉ vay cho đầu tư phát triển, không vay cho chi thường xuyên;

b) Các khoản vay mới được đánh giá tác động đến quy mô nợ công, trong giới hạn các chỉ tiêu an toàn nợ công và khả năng trả nợ trong trung hạn;

c) Đề xuất khoản vay được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;

d) Việc đàm phán, ký kết điều ước quốc tế, thỏa thuận vay phải đảm bảo chương trình, dự án sử dụng vốn vay nước ngoài đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt văn kiện chương trình, quyết định đầu tư."

Đồng thời, bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 về các yêu cầu đối với việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho khoản vay, khoản phát hành trái phiếu. Cụ thể:

"3a. Việc cấp bảo lãnh Chính phủ cho khoản vay, khoản phát hành trái phiếu phải bảo đảm:

a) Khoản bảo lãnh phải nằm trong hạn mức bảo lãnh Chính phủ đã được phê duyệt theo quy định của Luật Quản lý nợ công;

b) Việc thẩm định, cấp bảo lãnh Chính phủ phải đảm bảo chương trình, dự án sử dụng vốn vay Chính phủ bảo lãnh đã được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, quyết định đầu tư tại Chính phủ và cấp quản lý bảo lãnh Chính phủ; có phương án tài chính khả thi theo quy định tại Nghị định về cấp và quản lý bảo lãnh Chính phủ."

Bổ sung quy định công bố Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm

Đáng chú ý, Nghị định số 84/2026/NĐ-CP bổ sung Điều 28a vào sau Điều 28 Nghị định số 94/2018/NĐ-CP quy định về việc công bố Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm. Cụ thể như sau:

"Điều 28a. Công bố Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm

1. Nội dung và thời kỳ công bố Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm bao gồm:

a) Bối cảnh, căn cứ xây dựng Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm kế hoạch;

b) Mục tiêu quản lý nợ năm kế hoạch;

c) Dự kiến nợ Chính phủ năm kế hoạch (nhu cầu vay, dự kiến nguồn vay, nghĩa vụ trả nợ; dự kiến các chỉ tiêu rủi ro danh mục nợ Chính phủ được tính toán theo quy định của Bộ Tài chính, dự kiến lộ trình trả nợ gốc của danh mục nợ Chính phủ hiện hành); dự kiến rút vốn, trả nợ năm kế hoạch đối với nợ Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương;

d) Dự kiến các chỉ tiêu an toàn nợ công năm kế hoạch.

2. Bộ Tài chính công bố Kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm trên trang thông tin điện tử của Bộ Tài chính chậm nhất 15 ngày làm việc sau ngày Quyết định của Thủ tướng Chính phủ tại khoản 5 Điều 16 Nghị định này. Tài liệu công bố bằng tiếng Việt và được dịch ra tiếng Anh."

Nghị định này có hiệu lực từ ngày 25/3/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/3/2026- Ảnh 2.

Quy trình tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.

Quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung

Chính phủ ban hành Nghị định số 85/2026/NĐ-CP về bảo hiểm hưu trí bổ sung. Trong đó, đáng chú ý là các quy định liên quan đến đối tượng, phương thức, quy trình tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung.

Nghị định này quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 127 Luật Bảo hiểm xã hội, gồm: tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, thiết lập, quản lý và đầu tư quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; doanh nghiệp quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Nghị định này không điều chỉnh các nội dung sau:

Bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Hoạt động cung cấp sản phẩm bảo hiểm hưu trí của doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn.

Hoạt động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán của các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật chứng khoán.

Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận tự nguyện

Về quy định tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung, Nghị định quy định:

Đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung là người sử dụng lao động và người lao động đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội. Các đối tượng này được tự nguyện tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung do các doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí triển khai thông qua người sử dụng lao động.

Nghị định quy định việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung không phải là điều kiện bắt buộc để tuyển dụng, ký kết, gia hạn hợp đồng lao động; người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử, cản trở quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung. Người sử dụng lao động không được gắn việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với chính sách khen thưởng, đánh giá thi đua và phúc lợi của doanh nghiệp đối với người lao động.

Mức đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung do người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện.

Căn cứ vào yêu cầu quản lý lao động và khả năng tài chính, người sử dụng lao động xây dựng văn bản thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung và thực hiện đóng bảo hiểm hưu trí bổ sung cho người lao động của doanh nghiệp mình theo văn bản thỏa thuận.

Điều kiện để người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp phải được nêu cụ thể tại văn bản thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động. Trường hợp người sử dụng lao động có điều kiện về thời gian làm việc tối thiểu đối với người lao động thì không quá 05 năm.(*)

Người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung được hưởng phần đóng góp của người sử dụng lao động và kết quả đầu tư từ khoản đóng góp này khi đáp ứng điều kiện tại (*) hoặc khi thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Bị tử vong.

b) Đang mắc một trong những bệnh ung thư, bại liệt, xơ gan mất bù, lao nặng, AIDS.

c) Có mức suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người khuyết tật đặc biệt nặng.

d) Người lao động là công dân nước ngoài không tiếp tục cư trú tại Việt Nam hoặc có giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề hết hiệu lực mà không được gia hạn.

Quy trình tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung

Nghị định quy định người sử dụng lao động xây dựng văn bản thỏa thuận và thông báo, lấy ý kiến người lao động.

Sau khi thống nhất, người sử dụng lao động ký văn bản thỏa thuận về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung với từng người lao động hoặc ký với Chủ tịch Công đoàn sau khi lấy ý kiến tập thể người lao động theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.

Nội dung cơ bản của văn bản thỏa thuận thực hiện theo quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này.

Người sử dụng lao động ký hợp đồng tham gia chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung với doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí. Căn cứ danh sách người lao động tham gia chương trình, doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí mở tài khoản hưu trí cá nhân cho người lao động.

Căn cứ vào chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung đã đăng ký và văn bản thỏa thuận với người lao động, người sử dụng lao động đóng phần đóng góp của người sử dụng lao động (nếu có) và phần người lao động ủy thác cho người sử dụng lao động đóng hộ (nếu có) vào quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung và thông báo cho doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí về số tiền đóng cho từng người lao động theo quy định.

Khoản tiền đóng góp vào mỗi tài khoản hưu trí cá nhân của người lao động theo quy định bao gồm:

a) Khoản tiền đóng góp của người sử dụng lao động cho người lao động (nếu có).

b) Khoản tiền đóng góp của người lao động (nếu có).

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 10/5/2026 và thay thế Nghị định số 88/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/3/2026- Ảnh 3.

Nghị định 86/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài.

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 121/2021/NĐ-CP về kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài

Chính phủ ban hành Nghị định 86/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 121/2021/NĐ-CP ngày 27/12/2021 về kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng dành cho người nước ngoài.

Trong đó, Nghị định 86/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 19 quy định về điều kiện, tiêu chuẩn người quản lý, điều hành Điểm kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng (Điểm kinh doanh).

Theo quy định mới, người quản lý, điều hành Điểm kinh doanh phải:

- Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành hình phạt tù, bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề trong lĩnh vực trò chơi điện tử có thưởng;

- Có trình độ đào tạo tối thiểu từ đại học trở lên và có tối thiểu 03 năm kinh nghiệm trong việc quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng.

Sửa đổi quy trình thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng

Nghị định 86/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi Điều 22 quy trình thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng như sau:

1- Doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh đến Bộ Tài chính theo một trong các hình thức sau:

a) Nộp trực tiếp đến Bộ Tài chính;

b) Thông qua dịch vụ bưu chính;

c) Thông qua Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ Tài chính.

Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, hợp lệ, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Tài chính có văn bản thông báo để doanh nghiệp bổ sung, hoàn thiện hồ sơ.

2- Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Bộ Tài chính xem xét và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, Bộ Tài chính trả lời bằng văn bản cho doanh nghiệp và nêu rõ lý do từ chối.

3- Trình tự thủ tục thẩm định hồ sơ:

a) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Bộ Tài chính gửi hồ sơ lấy ý kiến các cơ quan có liên quan gồm: Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi doanh nghiệp đề nghị tổ chức hoạt động kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng;

b) Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của Bộ Tài chính, cơ quan được lấy ý kiến phải có ý kiến trả lời bằng văn bản và chịu trách nhiệm về những nội dung được lấy ý kiến;

c) Sau khi nhận được đầy đủ ý kiến tham gia của các cơ quan liên quan, Bộ Tài chính tổng hợp ý kiến và xem xét, quyết định việc cấp hoặc không cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh;

d) Sau khi được Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, doanh nghiệp có trách nhiệm làm thủ tục điều chỉnh, bổ sung ngành, nghề kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng tại Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự và thông báo đến cơ quan đăng ký kinh doanh về việc thay đổi ngành, nghề kinh doanh trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp theo quy định của pháp luật trước khi tổ chức hoạt động kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng.

Quy định mới về điều kiện được gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh

Đồng thời, Nghị định 86/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Điều 26 về điều kiện được gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh như sau:

"Điều kiện được gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, bao gồm:

a) Đáp ứng đầy đủ các điều kiện kinh doanh quy định tại điểm a, b và c khoản 3 Điều 20 Nghị định này;

b) Có vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu đáp ứng quy định tại điểm d khoản 3 Điều 20 Nghị định này;

c) Doanh nghiệp không bị xử phạt vi phạm hành chính tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoặc đình chỉ hoạt động kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng từ 02 lần trở lên theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 10 năm trước thời điểm nộp hồ sơ đề nghị gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh".

Nghị định 86/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 15/5/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/3/2026- Ảnh 4.

Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An sau khi được mở rộng có diện tích 104.269,94 ha.

Phê duyệt Mở rộng Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An, tỉnh Nghệ An

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 27/3/2026 phê duyệt Mở rộng Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An, tỉnh Nghệ An (Khu kinh tế).

Theo Quyết định, Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An sau khi được mở rộng có diện tích 104.269,94 ha gồm 93.319,94 ha đất liền và 10.950 ha mặt biển.

Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An trở thành khu vực phát triển năng động

Mục tiêu là xây dựng Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An thành một khu vực phát triển năng động, một trọng điểm phát triển của vùng kinh tế Bắc Trung Bộ, tạo động lực mạnh để thúc đẩy kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An và các tỉnh lân cận phát triển nhanh, thu hẹp khoảng cách với các vùng kinh tế trọng điểm cả nước.

Xây dựng và phát triển Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An thành một khu vực phát triển công nghiệp tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực gắn với việc xây dựng và khai thác có hiệu quả Cảng biển Cửa Lò, Cảng biển Đông Hồi. Với trọng tâm các ngành công nghiệp cơ bản như: công nghiệp điện tử; công nghiệp ô tô; công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp năng lượng tái tạo; công nghiệp luyện cán thép cao cấp; cơ khí chế tạo; sửa chữa và đóng mới tàu biển; công nghiệp điện; công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng; sản xuất hàng tiêu dùng; chế biến nông, lâm, ngư nghiệp chất lượng cao phục vụ xuất khẩu,...

Quy hoạch, xây dựng Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có cảng nước sâu, các loại hình dịch vụ logistics và vận tải, thương mại, công nghệ thông tin, du lịch, giáo dục, y tế,… chất lượng cao, kết nối thuận lợi với thị trường trong nước và quốc tế, góp phần đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa và nâng tỷ lệ đô thị hóa của tỉnh...

Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An là Khu kinh tế trọng điểm, đa ngành, đa lĩnh vực

Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An có tính chất là Khu kinh tế trọng điểm, đa ngành, đa lĩnh vực với trọng tâm là công nghiệp cơ bản gắn liền với việc xây dựng và khai thác có hiệu quả khu bến Cảng Cửa Lò; khu vực Hoàng Mai - Đông Hồi phát triển các ngành công nghiệp có tính chất động lực gắn liền với khu bến Cảng Đông Hồi.

Là trung tâm kinh tế, đầu mối về giao thông vận tải, giao thương và giao lưu quốc tế quan trọng của vùng Bắc Trung Bộ, cửa ngõ quan trọng của vùng Trung, Thượng Lào, Đông Bắc Thái Lan vào miền Trung và Việt Nam; là cực tăng trưởng đối trọng, liên kết chặt chẽ và toàn diện với sự phát triển chung của đô thị Vinh, khu vực Hoàng Mai, Cửa Lò và vùng phụ cận.

Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An là Khu kinh tế tổng hợp, có hạ tầng hiện đại, đồng bộ làm động lực phát triển cho vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung. Có liên kết hỗ trợ và chia sẻ với Khu kinh tế Nghi Sơn, Khu kinh tế Vũng Áng và các vùng phụ cận; là khu vực phát triển hài hòa các mục tiêu kinh tế, văn hóa, môi trường và an ninh quốc phòng.

Quyết định nêu rõ, hoạt động, cơ chế, chính sách và tổ chức quản lý đối với Khu kinh tế Đông Nam Nghệ An thực hiện theo pháp luật đúng quy định về khu công nghiệp, khu kinh tế, pháp luật về đầu tư và các văn bản pháp luật liên quan.

Lộ trình phát triển

Giai đoạn 2024 - 2027: Hoàn thành Quy hoạch chung và quy hoạch phân khu 1/2.000 đối với các phân khu quan trọng; xây dựng một số cơ sở hạ tầng lớn; xúc tiến, thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước.

Giai đoạn 2028 - 2030: Vận hành hiệu quả các công trình, dự án đã xây dựng; tiếp tục hoàn thiện đồng bộ kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng đô thị, công nghiệp, dịch vụ của Khu kinh tế; tiếp tục thu hút đầu tư các dự án vào Khu kinh tế trong giai đoạn sau năm 2030; nghiên cứu triển khai một số mô hình khu công nghiệp, dự án sản xuất mới trong Khu kinh tế.

Giai đoạn 2031 - 2050: Hoàn thiện hệ thống kết cấu kinh tế, xã hội của Khu kinh tế đồng bộ, hiện đại; đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa, hình thành đô thị xanh thông minh, với các dịch vụ chất lượng cao,…

Đảm bảo triển khai quy hoạch, đầu tư đúng quy định

Phó Thủ tướng giao Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An chỉ đạo các cơ quan liên quan rà soát, đảm bảo tích hợp đầy đủ phương án phát triển Khu kinh tế vào Quy hoạch tỉnh Nghệ An được điều chỉnh theo quy định của pháp luật về quy hoạch; đồng thời, chỉ đạo rà soát chặt chẽ việc sử dụng đất, bảo đảm phù hợp với các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đảm bảo, việc triển khai quy hoạch, đầu tư, xây dựng các công trình, dự án trong khu vực mở rộng Khu kinh tế chỉ được thực hiện sau khi tỉnh Nghệ An đã hoàn thành điều chỉnh quy hoạch tỉnh, trong đó đã thực hiện bổ sung, điều chỉnh các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với việc mở rộng Khu kinh tế, đảm bảo thống nhất, đồng bộ với Quyết định phê duyệt mở rộng Khu kinh tế được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận.

Đảm bảo tính khả thi của phương án huy động vốn và phân kỳ đầu tư; xây dựng danh mục cụ thể các dự án ưu tiên đầu tư, đặc biệt các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong Khu kinh tế, giao thông kết nối trong và ngoài Khu kinh tế;

Đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội của Khu kinh tế theo hướng phát triển bền vững thông qua giải quyết vấn đề an sinh xã hội, chuyển đổi việc làm cho người dân bị thu hồi đất. Cụ thể hóa các giải pháp, chỉ tiêu về bảo vệ môi trường trong phương án bố trí không gian phát triển của Khu kinh tế khi triển khai lập quy hoạch chung xây dựng và lập đề xuất dự án đầu tư cụ thể trong Khu kinh tế. Tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật về lâm nghiệp, đặc biệt đối với phương án bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng trong khu vực mở rộng của Khu kinh tế. Giám sát chặt chẽ hoạt động đầu tư xây dựng, xả thải vào môi trường trong Khu kinh tế chuyên biệt theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, tài nguyên nước, giảm thiểu tác động tiêu cực đến hệ sinh thái...

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/3/2026- Ảnh 5.

Phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần

Phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần, tỉnh Hưng Yên 

Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 478/QĐ-TTg ngày 26/3/2026 phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần, tỉnh Hưng Yên.

Phạm vi lập Quy hoạch được xác định theo Nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần (Quyết định số 1540/QĐ-TTg ngày 16/9/2021); theo đó quy mô, diện tích lập Quy hoạch là 195,01 ha.

Phục hồi Di tích xứng với vai trò của vương triều nhà Trần trong lịch sử phát triển của dân tộc

Mục tiêu quy hoạch là nghiên cứu, nhận diện và bổ sung, làm rõ giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật của Di tích quốc gia đặc biệt Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần và hệ thống các di chỉ, khu vực khảo cổ có liên quan trên địa bàn xã Long Hưng và xã Hồng Minh, tỉnh Hưng Yên.

Bảo quản, tu bổ, tôn tạo, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần trên vùng "đất tổ Long Hưng" tại xã Long Hưng và xã Hồng Minh, tỉnh Hưng Yên tương xứng với vai trò của vương triều nhà Trần trong lịch sử phát triển của dân tộc; phát huy giá trị khu di tích và các khu vực khảo cổ có liên quan, hình thành điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn đối với du khách thập phương; kết nối quần thể các điểm di tích gắn với vương triều nhà Trần ở xã Long Hưng và xã Hồng Minh với các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh nổi tiếng khác trong vùng, tạo thành chuỗi sản phẩm du lịch phong phú, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên...

Nguyên tắc quy hoạch

Phương án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải bảo đảm nguyên tắc bảo quản, gìn giữ các di tích gốc, các di chỉ, hiện vật khảo cổ học đã phát lộ, các địa điểm, khu vực trong lòng đất đã phát hiện di tích, di vật hoặc có dấu hiệu phát hiện di tích, di vật; tu bổ, phục hồi các hạng mục công trình của di tích khi có đủ căn cứ khoa học; quy hoạch không gian kiến trúc cảnh quan, xây dựng bổ sung các hạng mục công trình trực tiếp phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích, các công trình hạ tầng kỹ thuật, phù hợp với các giai đoạn bảo quản, tu bổ, phục hồi, tôn tạo và phát huy giá trị di tích.

Về định hướng giải pháp bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, Quyết định nêu rõ, Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần: tu bổ, tôn tạo các hạng mục di tích gốc hiện có; xây dựng mới đền thờ An Tư công chúa, đền thờ Công hầu - Khanh tướng nhà Trần; phục dựng đình Hoàng, nơi thờ Thái tổ Trần Thừa, chùa Bến...

Đối với Khu di tích Hành cung Lỗ Giang: bảo tồn nguyên trạng các khu vực khảo cổ đã phát lộ gồm đền Thái Lăng, Lăng Ngói, Lăng Sa Ngoài, Lăng Sa Trong, khu vực chùa Giỗ; quy hoạch khu vực Nội Hành cung và Ngoại Hành cung để bảo quản, bảo vệ các di chỉ, di tích, hiện vật khảo cổ đã phát lộ...

Tổ chức không gian kiến trúc theo truyền thống phù hợp với các giai đoạn bảo tồn và phát huy giá trị di tích

Theo định hướng quy hoạch tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan: Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần sẽ tu bổ, phục hồi, tôn tạo các hạng mục di tích gốc hiện có; tổ chức không gian kiến trúc theo truyền thống, xây dựng bổ sung các hạng mục phụ trợ, công trình phát huy giá trị và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, phù hợp với các giai đoạn bảo tồn và phát huy giá trị di tích; tổ chức mạng lưới các tuyến đường giao thông nội bộ tại các phân khu chức năng trong khu vực quy hoạch di tích, bảo đảm đấu nối với hệ thống giao thông hiện nay, thuận lợi từ bên trong khu vực quy hoạch di tích ra các khu vực phụ cận;

Tổ chức không gian mặt nước, cây xanh cảnh quan, tạo không gian xanh bảo vệ công trình di tích và đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật (bao gồm toàn bộ khu vực dịch vụ, khu dự trữ phát triển di tích, không gian mặt nước sông hồ, cây xanh cảnh quan, đất cây xanh cách ly và khu vực bến thuyền du lịch);

Quy hoạch các khu vực khảo cổ học trong di tích để tiếp tục nghiên cứu, khai quật khảo cổ học trong tương lai (gồm toàn bộ khu vực hồ Bạch Đằng, đoạn sông Thái Sư mở rộng và khu cây xanh cảnh quan "Lâm Lăng Viên");

Bảo tồn không gian cảnh quan làng Tam Đường, xã Long Hưng. Di dời các hộ dân trong khu vực nằm áp sát khu đền thờ ảnh hưởng đến di tích ra khu vực ở mới, hợp nhất với khu dân cư cũ, gắn kết hài hòa với không gian cảnh quan chung của khu di tích.

Hình thành tuyến du lịch chuyên đề về khảo cổ học, lịch sử, văn hóa

Định hướng phát triển các tuyến, chương trình tham quan du lịch như sau: Khai thác tuyến tham quan du lịch bằng thuyền trên sông Hồng (đoạn đi từ bến Ngự, Khu di tích lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần đến Khu Hành cung Lỗ Giang tại xã Hồng Minh), với chiều dài khoảng 11 km (6 hải lý).

Hình thành tuyến du lịch chuyên đề về khảo cổ học, lịch sử, văn hóa kết nối di tích Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua Trần với các di sản, di tích khảo cổ khác vùng đồng bằng sông Hồng và khu vực miền Bắc.

Thành lập Hội đồng thẩm định điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận

Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 496/QĐ-TTg ngày 27/03/2026 thành lập Hội đồng thẩm định nhà nước thẩm định điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận (điều chỉnh các nội dung liên quan đến dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1).

Theo Quyết định, Chủ tịch Hội đồng là Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Phó Chủ tịch Hội đồng: Thứ trưởng Bộ Tài chính.

Các ủy viên Hội đồng gồm lãnh đạo các Bộ: Công Thương, Xây dựng, Quốc phòng, Công an, Nông nghiệp và Môi trường, Khoa học và Công nghệ, Tư pháp, Ngoại giao, Giáo dục và Đào tạo; lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Bộ Tài chính là Cơ quan thường trực của Hội đồng thẩm định nhà nước.

Trách nhiệm, quyền hạn của Hội đồng, Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng, các ủy viên Hội đồng, Cơ quan thường trực Hội đồng được thực hiện tương ứng theo quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8 Nghị định số 19/2026/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2026 của Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục thẩm định dự án quan trọng quốc gia và giám sát, đánh giá đầu tư.

Các Thành viên có trách nhiệm tham gia ý kiến đúng thời hạn theo đề nghị của Cơ quan thường trực Hội đồng, trường hợp quá hạn chưa trả lời thì coi là thống nhất với nội dung lấy ý kiến của Cơ quan thường trực Hội đồng và hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc không trả lời đúng hạn.

Hội đồng có trách nhiệm hoàn thiện Báo cáo thẩm định theo quy định, trong đó Báo cáo kết quả thẩm định của Hội đồng thẩm định nhà nước phải thể hiện rõ việc tiếp thu đầy đủ ý kiến thành viên Hội đồng và thể hiện rõ quan điểm dự án đủ điều kiện hay không đủ điều kiện để Chính phủ thông qua, trình Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư.

Tập đoàn Điện lực Việt Nam chịu trách nhiệm rà soát, hoàn thiện hồ sơ điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án, trình thẩm định theo đúng quy định pháp luật và các văn bản chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ, cung cấp đầy đủ hồ sơ liên quan đến quá trình thẩm định điều chỉnh chủ trương đầu tư Dự án.

Thủ tướng Chính phủ quyết định nhân sự 2

Bộ Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính vừa ký các Quyết định về nhân sự Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Cụ thể, tại Quyết định số 489/QĐ-TTg ngày 27/03/2026, Thủ tướng Chính phủ quyết định bổ nhiệm lại ông Đặng Hoàng Giang giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Thời hạn bổ nhiệm là 5 năm.

Tại Quyết định số 488/QĐ-TTg ngày 27/03/2026, Thủ tướng Chính phủ quyết định để ông Nguyễn Văn Phúc, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thôi giữ chức Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo để bố trí công tác khác theo ý kiến của cấp có thẩm quyền.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/3/2026- Ảnh 6.

Tỉnh Tây Ninh tiếp tục kiện toàn mô hình chính quyền địa phương 02 cấp

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính tại buổi làm việc về kết quả thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp tại xã Bến Cầu và phường Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 154/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính tại buổi làm việc về kết quả thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp tại xã Bến Cầu và phường Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Thông báo nêu: Thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng ghi nhận và đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự quyết tâm khắc phục khó khăn của Đảng bộ, chính quyền các cấp tỉnh Tây Ninh trong việc triển khai chủ trương của Trung ương về tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, bảo đảm hoạt động thông suốt, hiệu quả, sắp xếp bộ máy hành chính tinh gọn; kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ổn định, an sinh xã hội được đảm bảo, quốc phòng - an ninh giữ vững, công tác xây dựng Đảng chuyển biến tích cực. Cấp cơ sở đã từng bước thích nghi với yêu cầu mới, việc giải quyết thủ tục hành chính phục vụ người dân và doanh nghiệp đạt kết quả tốt, phát huy tinh thần gần dân, sát dân, phục vụ nhân dân. Đặc biệt, Trung tâm phục vụ Hành chính công tại các xã, phường hoạt động hiệu quả, không ghi nhận phản ánh tiêu cực từ người dân. Đây là kết quả của tinh thần trách nhiệm và sự nỗ lực cố gắng của đội ngũ cán bộ trong bối cảnh khối lượng công việc tăng, nhiều nhiệm vụ từ cấp tỉnh, cấp huyện được phân cấp về xã.

Công tác cải cách hành chính tiếp tục được đẩy mạnh, gắn với triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tập trung cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền hợp lý đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước. Tỉnh Tây Ninh đã tổ chức thành công bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 với tỷ lệ cử tri đi bầu đạt gần 100%. Những kết quả bước đầu này là nền tảng quan trọng, tạo động lực để Tây Ninh tiếp tục thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tiếp theo.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số hạn chế như thiếu biên chế, nhất là trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, cơ cấu cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu chuyên môn.

Tháng 4/2026, hoàn thành phương án sắp xếp, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức

Để phát huy kết quả đạt được, khắc phục hạn chế và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp đạt hiệu lực, hiệu quả, tỉnh Tây Ninh cần tổ chức quán triệt và triển khai nghiêm túc các Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương về vận hành chính quyền địa phương 02 cấp. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định; rà soát, sắp xếp các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường tự chủ, bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở theo Kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Thông báo số 21-TB/VPTW ngày 07 tháng 3 năm 2026; khẩn trương rà soát, đánh giá tổng thể đội ngũ cán bộ, công chức cấp tỉnh, cấp xã; xây dựng phương án sắp xếp, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức phù hợp với vị trí việc làm, bảo đảm hoàn thành trong tháng 4 năm 2026; khắc phục tình trạng thiếu nhân lực và cán bộ chuyên môn sâu, nhất là các lĩnh vực quan trọng như y tế, giáo dục. Xây dựng khung năng lực và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là cán bộ cấp xã, đồng thời nâng cao năng lực, tính chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Đổi mới mạnh mẽ phương pháp làm việc

Đồng thời, Tỉnh cần đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương pháp làm việc từ "hành chính thụ động" sang "chủ động kiến tạo, phục vụ nhân dân". Chính quyền cơ sở chủ động định hướng phát triển kinh tế - xã hội, kịp thời hỗ trợ người dân và doanh nghiệp giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc. Đẩy mạnh phong trào "bình dân học vụ số" để giúp người dân tiếp cận thuận lợi hơn với các dịch vụ công trực tuyến, thủ tục nhanh gọn, minh bạch, giảm thiểu thời gian và chi phí của người dân và doanh nghiệp.

Tiếp tục hoàn thiện hạ tầng số, nền tảng số, hệ thống thông tin; bảo đảm kết nối, liên thông dữ liệu giữa các cấp chính quyền từ Trung ương đến cấp xã; khai thác hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, nhất là cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để giải quyết thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong quản lý và giải quyết thủ tục hành chính, chuẩn hóa quy trình giải quyết công việc, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp; số hóa tài liệu lưu trữ bảo đảm đồng bộ, thống nhất.

Rà soát, đánh giá tính khả thi và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền; kịp thời đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, tháo gỡ. Sau khi cấp có thẩm quyền ban hành quy định chung về biên chế và quản lý biên chế của hệ thống chính trị, Tỉnh chủ động xây dựng phương án, căn cứ vào phân loại đơn vị hành chính để xác định số lượng biên chế phù hợp với từng loại đơn vị./.