• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 29/4/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 29/4/2026 (2).

29/04/2026 20:25

Sửa đổi chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp

Chính phủ ban hành Nghị định số 141/2026/NĐ-CP ngày 29/4/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và Nghị định số 320/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 29/4/2026 (2)- Ảnh 1.

Nâng ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh lên 01 tỷ đồng/năm, áp dụng từ 1/1/2026

Nâng ngưỡng chịu thuế với hộ kinh doanh lên 01 tỷ đồng/năm

Điều 1 Nghị định số 141/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2026/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2026 của Chính phủ về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Cụ thể:

Sửa đổi cụm từ "500 triệu đồng" thành "01 tỷ đồng" tại Điều 3 (thuế giá trị gia tăng), Điều 4 (thuế thu nhập cá nhân), khoản 1 Điều 8, Điều 9, Điều 10, khoản 3 Điều 11, khoản 1 và khoản 2 Điều 12, khoản 4 Điều 17, khoản 3 Điều 18 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.

Nghị định số 141/2026/NĐ-CP cũng nêu rõ: Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tự xác định mức doanh thu năm từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ 01 tỷ đồng trở xuống mà đã kê khai nộp thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Nghị định số 68/2026/NĐ-CP thì được xử lý tiền thuế đã nộp theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP.

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 01 tỷ đồng phải áp dụng hóa đơn điện tử

Nghị định số 141/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 8 Nghị định số 68/2026/NĐ-CP (sử dụng hóa đơn điện tử) như sau:

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trên 01 tỷ đồng thì phải áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế.

Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có nhiều địa điểm kinh doanh thì sử dụng mã số thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh cho tất cả các cửa hàng và phải ghi rõ mã địa điểm kinh doanh trên hóa đơn.

Trường hợp hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm từ 01 tỷ đồng trở xuống đáp ứng điều kiện và có nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử thì đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế hoặc hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế.

Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh mới ra kinh doanh tại Điều 9 Nghị định này hoặc hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có doanh thu năm trước chưa trên 01 tỷ đồng (trừ trường hợp đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử) nhưng trong năm tính thuế có doanh thu trên 01 tỷ đồng trở lên thì phải áp dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế, hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế. Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử trong thời gian 30 ngày kể từ ngày cuối cùng của kỳ tính thuế có doanh thu lũy kế trên 01 tỷ đồng.

Ngưỡng thu nhập được miễn thuế của doanh nghiệp là 01 tỷ đồng/năm

Nghị định số 141/2026/NĐ-CP bổ sung khoản 15 Điều 4 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP về thu nhập được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp.

Theo đó, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập của doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam có tổng doanh thu năm từ 01 tỷ đồng trở xuống, cụ thể như sau:

Tổng doanh thu năm làm căn cứ xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp là tổng doanh thu từ hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ (không bao gồm các khoản giảm trừ doanh thu), doanh thu từ hoạt động tài chính và thu nhập khác trên Phụ lục kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh kèm theo tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp của kỳ tính thuế năm trước liền kề.

Trường hợp doanh nghiệp có thời gian hoạt động của kỳ tính thuế năm trước liền kề dưới 12 tháng thì tổng doanh thu kỳ tính thuế năm trước liền kề được xác định bằng tổng doanh thu thực tế trong kỳ tính thuế đó chia cho số tháng doanh nghiệp thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế nhân với 12 tháng. Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách trong tháng bất kỳ của kỳ tính thuế năm trước liền kề thì thời gian hoạt động được tính đủ tháng.

Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập trong kỳ tính thuế và dự kiến tổng doanh thu trong kỳ tính thuế không quá 01 tỷ đồng thì doanh nghiệp không phải tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Kết thúc kỳ tính thuế, trường hợp tổng doanh thu thực tế trong kỳ tính thuế vượt mức 01 tỷ đồng thì doanh nghiệp thực hiện kê khai, quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định và không phải tính tiền chậm nộp.

Quy định miễn thuế không áp dụng đối với doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam là công ty con hoặc công ty có quan hệ liên kết mà doanh nghiệp trong quan hệ liên kết không phải là doanh nghiệp đáp ứng điều kiện miễn thuế quy định tại khoản này.

Nghị định số 141/2026/NĐ-CP cũng nêu rõ: Trường hợp doanh nghiệp đã tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý I năm 2026 mà doanh nghiệp dự kiến tổng doanh thu trong kỳ tính thuế từ 01 tỷ đồng trở xuống thì không phải tạm nộp thuế thu nhập các quý tiếp theo, được bù trừ, hoàn trả, hoàn trả kiêm bù trừ thu ngân sách theo quy định của pháp luật về quản lý thuế đối với số thuế nộp thừa.

Trường hợp kỳ tính thuế năm 2025 có thời điểm kết thúc sau ngày 01 tháng 01 năm 2026 mà doanh nghiệp đáp ứng điều kiện quy định trên thì được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho thời gian tính từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 đến hết kỳ tính thuế năm 2025. Số thuế thu nhập doanh nghiệp được miễn thuế của kỳ tính thuế năm 2025 quy định tại khoản này bằng tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2025 chia cho 12 tháng (hoặc số tháng thực hoạt động của kỳ tính thuế năm 2025 đối với trường hợp doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2025) và nhân với số tháng của kỳ tính thuế năm 2025 thuộc năm dương lịch 2026. Từ kỳ tính thuế năm 2026 thực hiện theo quy định tại Điều 2 Nghị định này.

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá về kết quả công tác quản lý, điều hành giá Quý I năm 2026 và định hướng công tác điều hành giá những tháng còn lại của năm 2026

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 219/TB-VPCP ngày 29/4/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng tại cuộc họp Ban Chỉ đạo điều hành giá về kết quả công tác quản lý, điều hành giá Quý I năm 2026 và định hướng công tác điều hành giá những tháng còn lại của năm 2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 29/4/2026 (2)- Ảnh 2.

Xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá hoặc vi phạm pháp luật về giá

Thông báo kết luận nêu rõ, trong quý I năm 2026, kinh tế thế giới tăng trưởng chậm đi kèm với rủi ro gia tăng từ biến động địa chính trị, năng lượng và tài chính toàn cầu. Đáng chú ý, xung đột tại Trung Đông giữa Mỹ, Israel và Iran đã làm gián đoạn các tuyến vận tải quan trọng từ đó đã gây ra cú sốc tăng giá dầu trên thị trường năng lượng thế giới và làm chi phí logistics tăng mạnh. Nguy cơ lạm phát quay trở lại gia tăng, đặc biệt trong bối cảnh giá năng lượng tăng mạnh vào cuối quý khiến các ngân hàng trung ương duy trì chính sách tiền tệ thận trọng, giữ nguyên lãi suất điều hành nhằm cân bằng giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng.

Trong nước, mặt bằng giá tăng cao vào tháng Tết do nhu cầu mua sắm, đi lại của người dân tăng trong giai đoạn cao điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các địa phương đã chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch dự trữ đầy đủ lương thực, thực phẩm cùng các mặt hàng thiết yếu, qua đó bảo đảm nguồn cung dồi dào cho thị trường.

Sang tháng 3/2026, trái ngược với quy luật giá cả thường giảm sau Tết, mặt bằng giá chịu áp lực lớn từ các biến động quốc tế, đặc biệt là xung đột tại khu vực Trung Đông đẩy giá xăng dầu trong nước tăng cao và tác động lan tỏa đến chi phí sản xuất, nguyên vật liệu đầu vào, chi phí vận tải. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) so với tháng trước của tháng 1 năm 2026 tăng 0,05%, tháng 2/2026 tăng 1,14%, tháng 3 năm 2026 tăng 1,23%. Bình quân quý I/2026, CPI tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước, lạm phát cơ bản tăng 3,63%.

Từ đầu năm đến nay, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã chú trọng công tác quản lý, điều hành giá góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội. Công tác điều hành được thực hiện chủ động, linh hoạt, gắn với việc theo dõi sát diễn biến thị trường và bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa, nhất là các mặt hàng thiết yếu. Các biện pháp bình ổn giá được triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng điều hành giá xăng dầu bám sát giá thế giới kết hợp chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu và giảm thuế các mặt hàng xăng dầu.

Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý và vi phạm quy định về giá. Việc điều chỉnh giá các dịch vụ do Nhà nước quản lý được thực hiện thận trọng, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và tiền tệ nhằm giảm áp lực lạm phát và hỗ trợ phục hồi, phát triển kinh tế.

Trong các tháng còn lại của năm 2026, kinh tế thế giới được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều yếu tố bất định như xung đột địa chính trị kéo dài, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng và chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn còn tiềm ẩn thay đổi khó lường. Những diễn biến này có thể gây biến động đối với giá năng lượng và các mặt hàng đầu vào quan trọng, từ đó tác động đến mặt bằng giá trong nước....

Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số", kiểm soát lạm phát mục tiêu năm 2026, hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội và củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động theo dõi sát, triển khai kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đặt ra tại các Nghị quyết của Chính phủ, các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung vào những nhiệm vụ, giải pháp sau:

Không lợi dụng biến động chi phí để tăng giá bất hợp lý

Các Bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao tăng cường công tác theo dõi, phân tích diễn biến cung cầu và giá các mặt hàng thiết yếu, đặc biệt là những lĩnh vực chịu tác động trực tiếp từ chi phí nhiên liệu như vận tải, logistics, vật liệu xây dựng và lương thực, thực phẩm. Trên cơ sở đó, các doanh nghiệp thực hiện nghiêm việc kê khai, niêm yết giá theo quy định, không lợi dụng biến động chi phí để tăng giá bất hợp lý hoặc trục lợi từ chính sách của Nhà nước.

Đồng thời, chú trọng các giải pháp về bảo đảm, điều hòa cung cầu, nhất là đối với các nhóm hàng thiết yếu như xăng dầu, điện, lương thực, thực phẩm, nguyên liệu đầu vào cho sản xuất. Kịp thời điều hòa cung cầu các mặt hàng phục vụ nhu cầu trong nước, giữa các vùng, địa phương và nhu cầu xuất khẩu để ổn định giá cả thị trường. Triển khai các giải pháp đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đồng thời phát triển thị trường trong nước, đẩy mạnh phong trào sản xuất và tiêu dùng hàng Việt.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ động triển khai Chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng thiết yếu phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, qua đó góp phần ổn định giá cả, cung cầu các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu.

Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và giám sát thị trường, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá nhằm kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, găm hàng, thao túng giá hoặc vi phạm pháp luật về giá, các trường hợp không kịp thời điều chỉnh giảm giá đối với các mặt hàng có chi phí đầu vào đã được điều chỉnh giảm theo giá thế giới; kiểm tra và xử lý nghiêm hành vi vi phạm trong kinh doanh, vận chuyển xăng dầu tại khu vực biên giới nhằm hưởng chênh lệch giá.

Sử dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụ, biện pháp điều tiết giá theo quy định của pháp luật về giá để kiểm soát, bình ổn thị trường. Tăng cường triển khai hiệu quả và giám sát thực hiện các biện pháp kê khai giá, niêm yết giá, công khai thông tin về giá, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về giá.

Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm ban hành văn bản định giá theo thẩm quyền, tổ chức triển khai nhiệm vụ quản lý giá thuộc thẩm quyền theo quy định tại Luật Giá số 16/2023/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Giá số 140/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn; chủ động rà soát, ban hành các định mức kinh tế - kỹ thuật theo thẩm quyền giúp công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả trong công tác định giá.

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, kiên quyết cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết nhằm giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp, qua đó góp phần hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ.

Theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường các mặt hàng

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về giá đối với các hàng hóa, dịch vụ theo lĩnh vực quản lý.

Các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm tổ chức, theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường các mặt hàng thuộc lĩnh vực quản lý để có biện pháp điều hành phù hợp, nhất là đối với những mặt hàng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân như lương thực, thực phẩm, điện, vật liệu xây dựng, giáo dục và y tế; đồng thời, theo dõi chặt chẽ biến động giá của các nhóm hàng có tác động gián tiếp như vàng, ngoại tệ (USD) và bất động sản. Trong đó:

Đối với các hàng hóa và dịch vụ do Nhà nước định giá dự kiến có phương án điều chỉnh: Các bộ, ngành, địa phương chú trọng rà soát các yếu tố chi phí, phối hợp với Bộ Tài chính đánh giá kỹ tác động lên mặt bằng giá tại địa phương nói riêng và mặt bằng giá cả nước nói chung, tránh tăng khi chưa có điều kiện phù hợp. Đồng thời chỉ đạo doanh nghiệp kiểm soát chặt chẽ chi phí đầu vào, tiết giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cường trách nhiệm chia sẻ khó khăn, đảm bảo hài hòa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng, kịp thời giảm giá bán khi chi phí đầu vào giảm; trường hợp cần thiết phải điều chỉnh tăng, cần cân nhắc kỹ thời điểm và mức độ điều chỉnh giá, tránh điều chỉnh giá các dịch vụ do Nhà nước định giá vào cùng một thời điểm nhằm góp phần ổn định mặt bằng giá cả thị trường và kiểm soát lạm phát mục tiêu.

Chủ động dự trữ xăng dầu để linh hoạt điều tiết và bình ổn thị trường

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp bảo đảm nguồn cung xăng dầu, LPG cho thị trường trong nước trong mọi tình huống và điều hành giá xăng dầu theo quy định; đồng thời, nghiên cứu để đa dạng hóa nguồn cung; khẩn trương triển khai đưa mặt hàng xăng sinh học E10 vào sử dụng khi đáp ứng đủ điều kiện; chủ động công tác dự trữ xăng dầu để linh hoạt điều tiết và bình ổn thị trường khi phát sinh biến động hoặc gián đoạn nguồn cung; tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; không để thiếu hụt, đứt gãy nguồn cung xăng dầu; điều chỉnh kịp thời chính sách khi tình hình thị trường xăng dầu ổn định tránh tác động đến ngân sách nhà nước và giảm thiểu tình trạng buôn lậu xăng dầu qua biên giới.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp Bộ Công Thương và các địa phương theo dõi sát tình hình sản xuất, nhu cầu tiêu dùng, diễn biến giá cả các mặt hàng nông sản thiết yếu như lúa gạo, thịt lợn; tập trung bảo đảm nguồn nhập khẩu và giám sát việc kê khai, niêm yết giá thức ăn chăn nuôi và phân bón, không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý; điều hòa cung cầu các mặt hàng phục vụ nhu cầu trong nước, giữa các vùng, địa phương và nhu cầu xuất khẩu để ổn định giá cả thị trường.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai hiệu quả chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 948/VPCP-CN ngày 29 tháng 01 năm 2026 của Văn phòng Chính phủ về việc tăng cường các giải pháp quản lý, bình ổn giá vật liệu xây dựng, quản lý hiệu quả nguồn cung và Công điện số 25/CĐ-TTg ngày 21 tháng 3 năm 2026 về việc tăng cường các giải pháp quản lý, bình ổn giá nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu xây dựng; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, thi công các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành giao thông vận tải; xử lý kịp thời các trường hợp găm hàng, giữ hàng, làm đứt gãy chuỗi cung ứng, đẩy giá tăng cao bất hợp lý ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng các công trình, dự án đầu tư, nhất là các dự án trọng điểm quốc gia; tiếp tục chỉ đạo các Sở Xây dựng triển khai hiệu quả đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng công bố giá vật liệu xây dựng.

Tập trung phát triển thị trường phân khúc nhà ở xã hội, nhà ở cho người có thu nhập trung bình

Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng phối hợp Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có giải pháp phát triển thị trường bất động sản vận hành lành mạnh, bảo đảm phù hợp với điều kiện và nhu cầu thực tế của người dân, tập trung vào phát triển thị trường phân khúc nhà ở xã hội, nhà ở cho người có thu nhập trung bình, phục vụ hiệu quả nhu cầu nhà ở và an sinh xã hội.

Đối với các dịch vụ lưu trú, du lịch, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo, tổ chức thường xuyên công tác rà soát kê khai giá, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá, niêm yết giá theo đúng quy định. Xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng các dịp cao điểm, biến động giá xăng dầu để tăng giá bất hợp lý.

Bộ Y tế phối hợp Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo, tăng cường theo dõi diễn biến giá thuốc, thiết bị y tế kê khai giá theo quy định của pháp luật về dược và pháp luật về giá; đảm bảo cung ứng đủ thuốc và vật tư y tế với giá hợp lý phục vụ nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh và phòng chống dịch bệnh.

Đối với công tác điều hành giá mặt hàng quan trọng, thiết yếu khác, các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm tổ chức, theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường các mặt hàng thuộc lĩnh vực quản lý để có biện pháp điều hành phù hợp, chủ động dự báo và có phương án bảo đảm cân đối cung cầu, nhất là trong các thời điểm thị trường có nhu cầu tăng cao, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, gián đoạn nguồn hàng gây tăng giá đột biến, bất hợp lý.

Thành lập Tổ Công tác của Chính phủ về phát triển công nghệ chiến lược

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 769/QĐ-TTg ngày 29/4/2026 thành lập Tổ Công tác của Chính phủ về phát triển công nghệ chiến lược (Tổ Công tác).

Theo Quyết định, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng làm Tổ trưởng tổ Công tác.

Tổ phó Tổ Công tác là Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân.

Các thành viên Tổ Công tác gồm: Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn; Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng; Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng; Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng; Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn; Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh; Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan; Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Thượng tướng Nguyễn Văn Hiền; Thứ trưởng Bộ Công an Trung tướng Đặng Hồng Đức; Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng; Cục trưởng Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu, Văn phòng Trung ương Đảng Ngô Hải Phan.

Chức năng, nhiệm vụ của Tổ Công tác

Tổ Công tác có chức năng tham mưu, giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, điều phối việc giải quyết các vấn đề quan trọng, liên ngành trong phát triển công nghệ chiến lược.

Bên cạnh đó, Tổ Công tác có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất giải pháp; rà soát, đề xuất hoàn thiện Danh mục công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách; điều phối, theo dõi, giám sát việc triển khai; đề xuất bố trí nguồn lực và kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Đồng thời, giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phân công, điều phối, phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương và cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc giải quyết các vấn đề quan trọng, liên ngành về phát triển công nghệ chiến lược.

Rà soát, tổng hợp khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, nguồn lực và tổ chức thực hiện; đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định giải pháp xử lý theo quy định.

Thực hiện các nhiệm vụ khác có liên quan theo phân công, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan thường trực của Tổ Công tác. Cơ quan thường trực sử dụng bộ máy hiện có để giúp việc cho Tổ Công tác thực hiện nhiệm vụ.

Nguyên tắc, chế độ làm việc của Tổ Công tác

Tổ Công tác chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Quyết định này và Quy chế hoạt động của Tổ Công tác.

Tổ Công tác làm việc theo chế độ đề cao trách nhiệm cá nhân người đứng đầu; các thành viên Tổ Công tác thực hiện nhiệm vụ theo chế độ kiêm nhiệm, chịu trách nhiệm về nhiệm vụ được Tổ trưởng phân công.

Tổ trưởng Tổ Công tác được sử dụng con dấu của Thủ tướng Chính phủ, Tổ phó Tổ Công tác và thành viên Tổ Công tác được sử dụng con dấu của cơ quan mình để thực hiện nhiệm vụ được giao của Tổ Công tác.

Tổ Công tác tự giải thể khi hoàn thành nhiệm vụ.

Kế hoạch triển khai thi hành Luật Quản lý thuế

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 771/QĐ-TTg ngày 29/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Quản lý thuế (Kế hoạch).

Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định cụ thể, đầy đủ, toàn diện các công việc, nhiệm vụ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong việc triển khai thi hành Luật Quản lý thuế, bảo đảm kịp thời, thống nhất và hiệu quả, tránh lãng phí nguồn lực.

Xác định trách nhiệm của cơ quan chủ trì và các cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp trong việc tiến hành các hoạt động triển khai thi hành Luật trên phạm vi cả nước.

Bên cạnh đó, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của bộ, ngành và địa phương tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc triển khai thi hành Luật, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, góp phần đưa các điểm mới, tinh thần và mục tiêu của Luật sớm đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả trong thực tiễn.

Xây dựng 6 Nghị định, 10 Thông tư quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật

Kế hoạch đưa ra 6 nội dung nhiệm vụ để các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện, cụ thể như sau:

1. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng các Nghị định, Thông tư quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật, bao gồm:

06 Nghị định: Nghị định quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế; Nghị định quy định về quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết của những doanh nghiệp có quan hệ liên kết; Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Quản lý thuế về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử; Nghị định quy định về phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu của công chức thuế; Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan.

10 Thông tư: Thông tư quy định về hồ sơ, thủ tục quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh; Thông tư quy định chi tiết một số Điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế; Thông tư quy định một số Điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Quản lý thuế về hóa đơn điện tử, chứng từ điện tử; Thông tư hướng dẫn việc in, phát hành, quản lý và sử dụng tem điện tử rượu và tem điện tử thuốc lá; Thông tư hướng dẫn về đăng ký thuế; Thông tư hướng dẫn thực hiện các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản giữa Việt Nam với các nước và vùng lãnh thổ có hiệu lực thi hành tại Việt Nam; hướng dẫn thực hiện thủ tục thỏa thuận song phương; hướng dẫn áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết; Thông tư quy định về tiêu chuẩn, định mức quản lý, sử dụng phù hiệu, cấp hiệu, trang phục và biển hiệu của công chức thuế; Thông tư hướng dẫn quản lý hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế; Thông tư quy định áp dụng quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ trong quản lý thuế; Thông tư quy định về quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Thời gian hoàn thành đối với Nghị định quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và Thông tư quy định về hồ sơ, thủ tục quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh là trong quý I/2026, được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan được thực hiện theo trình tự, thủ tục thông thường và phải trình Chính phủ trong tháng 4/2026.

04 Nghị định còn lại được xây dựng, soạn thảo theo trình tự, thủ tục rút gọn và phải trình Chính phủ trong tháng 5/2026.

Đối với 09 Thông tư còn lại: Trình Bộ Tài chính trong tháng 6/2026. Việc xây dựng, soạn thảo được thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn.

2. Trong Quý I và quý II/2026, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương căn cứ chức năng, nhiệm vụ rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Quản lý thuế thuộc lĩnh vực, địa bàn quản lý nhà nước được phân công, thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật đảm bảo phù hợp với quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có liên quan.

3. Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức quán triệt, truyền thông, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết thi hành. Các thuế tỉnh, thành phố chủ trì triển khai nhiệm vụ này ở địa phương mình.

4. Triển khai phổ biến, giáo dục pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật. Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các quy định khác của Chính phủ.

5. Bộ Tài chính, các cơ quan có thẩm quyền thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc, theo dõi việc thi hành Luật Quản lý thuế theo quy định pháp luật.

6. Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố theo chức năng, nhiệm vụ được giao thường xuyên biên soạn tài liệu, hướng dẫn áp dụng, tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tiếp nhận và xử lý kiến nghị (nếu có).

Kế hoạch của Chính phủ thực về công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 116/NQ-CP về Kế hoạch thực hiện Kết luận số 213-KL/TW ngày 21/11/2025 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai (Kế hoạch).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 29/4/2026 (2)- Ảnh 3.

Thay đổi từ tư duy ứng phó sang quản trị rủi ro, tăng cường phòng ngừa chủ động, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra

Mục đích của Kế hoạch nhằm quán triệt, triển khai nghiêm túc, kịp thời, thống nhất và hiệu quả Kết luận số 213-KL/TW, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của các cấp, các ngành, các địa phương và toàn xã hội, thay đổi từ tư duy ứng phó sang quản trị rủi ro, tăng cường phòng ngừa chủ động, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra. Xác định đây là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Đổi mới quản lý nhà nước về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai

Theo Kế hoạch, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến địa phương, người đứng đầu các Bộ, cơ quan, địa phương lãnh đạo chỉ đạo, quán triệt sâu sắc, đầy đủ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Kết luận số 213-KL/TW và Chỉ thị số 42-CT/TW, nhất là nội dung chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, tôn trọng quy luật tự nhiên, bảo đảm phát triển bền vững.

Gắn yêu cầu phòng, chống thiên tai, bảo tồn tự nhiên với việc hạch toán đầu tư các dự án, công trình, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh thực hiện phân cấp, phân quyền trong phòng, chống thiên tai bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm và rõ kết quả. Thực hiện lồng ghép nội dung yêu cầu phòng, chống thiên tai trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; quy hoạch, kế hoạch phát triển của từng ngành.

Công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai phải bảo đảm thực hiện đúng chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, từng bước hoàn thiện tổ chức, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân đối với công tác phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Nâng cao nhận thức, phổ biến kinh nghiệm trong phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai, nhất là ở cấp cơ sở.

Hoàn thiện thể chế, chính sách, các quy định của pháp luật về công tác phòng, chống thiên tai

Theo Kế hoạch, trong năm 2026-2027, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương rà soát, thể chế hóa các chủ trương, định hướng của Đảng thành văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách về phòng, chống thiên tai, các văn bản pháp luật.

Các bộ, UBND các tỉnh, thành phố chủ trì rà soát xây dựng, điều chỉnh các quy hoạch ngành, quy hoạch có tính chất chuyên ngành.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương bổ sung, điều chỉnh chiến lược, kế hoạch, phương án phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chỉ tiêu thiết kế đối với hệ thống cơ sở hạ tầng bảo đảm đủ năng lực chống chịu với các thiên tai cực đoan.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan trong năm 2026 và các năm tiếp theo hoàn thiện các quy định về xử lý, giải quyết trong tình huống khẩn cấp.

Giai đoạn 2026 - 2030, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương xây dựng cơ chế huy động nguồn lực của các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và khuyến khích, hỗ trợ phát triển các quỹ, định chế tài chính, tín dụng tham gia hiệu quả công tác phòng, chống thiên tai.

Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực cảnh báo, dự báo, theo dõi, giám sát thiên tai, giảm thiểu thiệt hại

Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để thích ứng, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai. Thời gian thực hiện năm 2026 và các năm tiếp theo.

Năm 2026 - 2027, Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát, ban hành các chính sách thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm nâng cao năng lực cảnh báo, dự báo, theo dõi, giám sát thiên tai, giảm thiểu thiệt hại.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ tăng cường đầu tư nghiên cứu cơ bản về các loại hình thiên tai, xây dựng cơ sở khoa học và các mô hình dự báo tiên tiến./.