• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/4/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/4/2026.

05/04/2026 18:15

Nghị định quy định chi tiết một số điều Luật Giao thông đường thủy nội địa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa

Chính phủ ban hành Nghị định số 123/2026/NĐ-CP ngày 04/4/2026 quy định chi tiết một số điều Luật Giao thông đường thủy nội địa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/4/2026- Ảnh 1.

Quy định mới về vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng đường thủy.

Nghị định này quy định chi tiết một số điều Luật Giao thông đường thủy nội địa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giao thông đường thủy nội địa, bao gồm: Cơ sở đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi phương tiện; vận tải hàng hóa siêu trường, hàng hóa siêu trọng.

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi phương tiện và vận tải hàng hóa siêu trường, hàng hóa siêu trọng.

Phương án vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng

Về vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng, Nghị định quy định như sau:

Hàng hóa siêu trường là hàng hóa không thể tháo rời có kích thước bao chiều dài > 40 m hoặc chiều rộng > 10 m hoặc chiều cao > 4,5 m.

Hàng hóa siêu trọng là hàng hóa không thể tháo rời có trọng lượng toàn bộ > 100 tấn.

Trước khi thực hiện việc vận tải hàng hóa siêu trường, hàng hóa siêu trọng, thuyền trưởng phương tiện hoặc người vận tải, người kinh doanh vận tải phải lập phương án vận tải hàng hóa siêu trường, hàng hóa siêu trọng gửi cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Phương án gồm các nội dung chủ yếu sau:

a) Hiện trạng tuyến đường thủy dự kiến hành trình: chiều rộng, chiều sâu, bán kính cong của luồng; chiều cao tĩnh không các công trình vượt sông;

b) Thông tin về loại hàng hóa vận chuyển: kích thước (dài x rộng x cao) m, tổng khối lượng (tấn);

c) Dự kiến thời gian vận chuyển; cảng đi, cảng đến;

d) Chủng loại, thông số kích thước phương tiện vận tải;

đ) Hướng dẫn đảm bảo an toàn giao thông, yêu cầu hỗ trợ (nếu có).

Nghị định quy định thẩm quyền phê duyệt phương án vận tải hàng hóa siêu trường, hàng hóa siêu trọng như sau:

Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam tổ chức phê duyệt phương án vận tải hàng hóa siêu trường, hàng hóa siêu trọng trong các trường hợp: phương tiện rời cảng biển; phương tiện rời cảng, bến thủy nội địa có hành trình vận tải liên tỉnh.

Sở Xây dựng tổ chức phê duyệt phương án vận tải hàng hóa siêu trường, hàng hóa siêu trọng trong trường hợp phương tiện rời cảng, bến thủy nội địa có hành trình vận tải nội tỉnh.

Trình tự, thủ tục phê duyệt phương án vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng

Tổ chức, cá nhân nộp 01 bộ hồ sơ trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính hoặc qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến đến cơ quan có thẩm quyền quy định.

Hồ sơ gồm: văn bản đề nghị phê duyệt phương án vận tải hàng hóa siêu trường, hàng hóa siêu trọng theo Mẫu quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này; phương án vận tải hàng hóa siêu trường, hàng hóa siêu trọng theo quy định.

Trong thời hạn 02 ngày, kể từ ngày nhận được phương án vận tải hàng hóa siêu trường, hàng hóa siêu trọng, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, phê duyệt phương án và gửi trực tiếp hoặc qua hệ thống bưu chính hoặc qua hệ thống quản lý văn bản điện tử cho người vận tải. Trường hợp không phê duyệt có văn bản trả lời nêu rõ lý do.

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định đối với cơ sở đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi phương tiện phải đáp ứng các yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy, an toàn, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường theo quy định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.

Nghị quyết về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 219-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 85/NQ-CP ngày 04/4/2026 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 219-KL/TW, ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/4/2026- Ảnh 2.

Thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn bền vững

Đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị sản phẩm

Nghị quyết yêu cầu: căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước được giao, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố bám sát định hướng, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết số 19-NQ/TW và Kết luận số 219-KL/TW, Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 27/02/2023 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW đã đề ra và tập trung chỉ đạo, tổ chức triển khai đầy đủ, toàn diện, hiệu quả 7 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trọng tâm sau đây:

1. Đổi mới công tác truyền thông, thống nhất nhận thức, hành động về nông nghiệp, nông dân, nông thôn gắn với bảo vệ môi trường, quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên.

2. Rà soát, hoàn thiện đầy đủ các thể chế, chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, tạo động lực mới cho phát triển.

Phân định rõ vai trò của chính quyền địa phương các cấp trong tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, tăng cường phân cấp, phân quyền trong lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn, gắn với hoàn thiện thể chế, bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và nâng cao trách nhiệm, tính chủ động của chính quyền địa phương.

3. Đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh nông lâm nghiệp và thủy sản.

Đột phá mạnh mẽ trong xây dựng hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, tài nguyên, môi trường đồng bộ, hiện đại

4. Nâng cao vai trò, vị thế, năng lực làm chủ, cải thiện toàn diện đời sống của nông dân và cư dân nông thôn.

5. Phát triển nông thôn theo hướng hiện đại, thông minh, gắn với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa; chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Thực hiện hài hòa giữa phát triển kinh tế - phát triển văn hóa, xã hội - bảo vệ môi trường sinh thái, kết hợp chặt chẽ giữa đầu tư hạ tầng - nâng cao chất lượng đời sống - giữ gìn bản sắc văn hóa.

Thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bảo đảm an sinh xã hội, bình đẳng giới, nâng cao thu nhập, chất lượng sống và khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản cho người dân.

Phát triển toàn diện khu vực vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền, nhóm dân cư, nhất là vùng dân tộc thiểu số và miền núi so với vùng khác; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc đối với Đảng và Nhà nước, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc thiểu số.

6. Tiếp tục hoàn thiện và đột phá mạnh mẽ trong xây dựng hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, tài nguyên, môi trường đồng bộ, hiện đại. Tăng đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước, huy động mọi nguồn lực xã hội cùng tham gia đầu tư.

7. Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp

Trong đó, nhằm đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh nông lâm nghiệp và thủy sản, Nghị quyết nêu rõ:

Cơ cấu lại các tiểu ngành, lĩnh vực và trong từng ngành thực chất, hiệu quả, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng thông qua tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tính tự chủ, khả năng thích ứng và sức chống chịu của nền kinh tế.

Đẩy mạnh chuyển đổi sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo hướng nâng cao hiệu quả từ nông sản có giá trị thấp sang nông sản có giá trị cao, chuyển đổi những vùng lúa năng suất thấp, một vụ sang sản xuất cây trồng hoặc vật nuôi có giá trị kinh tế cao hơn; chú trọng xây dựng những vùng nguyên liệu lớn, bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, phát thải thấp cho những sản phẩm chủ lực cấp quốc gia, cấp tỉnh.

Phát triển nông nghiệp sinh thái, hiệu quả, bền vững, minh bạch, trách nhiệm gắn với môi trường bền vững; thực hiện tích hợp đa giá trị theo hướng giữ vững an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái; khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn; chú trọng phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, khai thác và chế biến theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế; phát huy tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương. Phát triển kinh tế hợp tác, hỗ trợ liên kết theo chuỗi giá trị. Phát triển các hình thức hợp tác mới trong nông nghiệp.

Tổ chức lại sản xuất theo vùng chuyên canh, gắn với chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc và xây dựng mã số vùng trồng, vùng nuôi... đáp ứng yêu cầu thị trường; thực hiện chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm theo hướng "xanh", ít phát thải và bền vững thông qua việc thúc đẩy phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong sản xuất nông nghiệp.

Đẩy mạnh nuôi biển và khai thác hải sản bền vững; tập trung giải quyết dứt điểm khuyến nghị của EC để gỡ "Thẻ vàng", ngăn chặn và xử lý nghiêm tầu cá khai thác trái phép ở ngoài vùng biển Việt Nam.

Tiếp tục củng cố và phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã hiệu quả, hiện đại, gắn với chuỗi giá trị và sinh kế bền vững ở nông thôn. Ưu tiên hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số, liên kết sản xuất và tiêu thụ với doanh nghiệp; hợp tác xã nông nghiệp tham gia phát triển vùng nguyên liệu nông sản tập trung.

Triển khai đồng bộ, kịp thời có hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Quyết tâm khắc phục điểm nghẽn pháp chế của ngành, cắt giảm triệt để các điều kiện, thủ tục hành chính để thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Tổ chức lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ của ngành theo hướng tinh gọn, hiệu quả và tự chủ thực chất; nâng cao năng lực cạnh tranh, có khả năng kết nối với doanh nghiệp, thương mại hóa các sản phẩm khoa học công nghệ của các đơn vị.

Tập trung đào tạo, phát triển và thu hút nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao, trọng dụng lực lượng làm nghiên cứu khoa học công nghệ trong khối tư nhân, các nhà khoa học Việt Nam tại nước ngoài và chuyên gia quốc tế, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh.

Thay đổi cách thức đặt hàng, giao nhiệm vụ xuất phát từ thực tiễn, phục vụ sản xuất, thương mại hóa và quản lý nhà nước, trong đó coi trọng, ưu tiên các lĩnh vực có khả năng đột phá mạnh như công nghệ sinh học, trí tuệ nhân tạo, công nghệ viễn thám, thăm dò địa chất, khoáng sản...

Thực hiện chuyển đổi số toàn diện và thực chất; coi trọng xây dựng các nền tảng quản trị dữ liệu dùng chung, dữ liệu lớn, đồng bộ về đất đai, tài nguyên nước, rừng, khí tượng thủy văn và đa dạng sinh học, bản đồ số chuyên ngành (trong đó có cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia và hệ thống bản đồ địa hình quốc gia trên đất liền, vùng biển và hải đảo Việt Nam) và các hệ thống dự báo, cảnh báo thông minh.

Tăng cường hoạt động giám sát, cảnh báo sớm về nguy cơ đối với môi trường nuôi, trồng, dịch bệnh, cháy rừng; chủ động triển khai các biện pháp ngăn ngừa, phản ứng nhanh, kịp thời xử lý dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, thủy sản và phòng chống cháy rừng.

Hỗ trợ kết nối, thúc đẩy chế biến, tiêu thụ trong nước, triển khai các giải pháp khắc phục tình trạng dư thừa, giảm giá gây thiệt hại cho người sản xuất; dự báo và phối hợp với các địa phương xây dựng phương án hỗ trợ tiêu thụ kịp thời nông sản chính vụ; phối hợp tổ chức kết nối thu mua nông sản, đẩy mạnh tiêu thụ nông sản trong các hệ thống, chuỗi siêu thị lớn, tổ chức các diễn đàn hỗ trợ kết nối tiêu thụ nông sản.

Phối hợp đẩy mạnh việc xây dựng thương hiệu, đặc biệt với các ngành hàng chủ lực, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm nông nghiệp thế mạnh của địa phương và các sản phẩm quốc gia, sản phẩm vùng.

Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, đưa sản phẩm thương hiệu Việt Nam thâm nhập vào hệ thống phân phối quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch 6 Vùng thời kỳ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050

Ngày 04/4/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Quyết định phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch 6 Vùng thời kỳ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 gồm: Trung du và miền núi phía Bắc; Đồng bằng sông Hồng; vùng Bắc Trung Bộ; vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/4/2026- Ảnh 3.

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch 6 Vùng thời kỳ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: Phát triển xanh, bền vững và toàn diện

Cụ thể, tại Quyết định số 610/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng Trung du và miền núi phía Bắc thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cụ thể như sau:

Phạm vi, ranh giới lập quy hoạch vùng Trung du và miền núi phía Bắc bao gồm toàn bộ lãnh thổ của 9 tỉnh: Cao Bằng, Điện Biên, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang.

Quyết định đặt mục tiêu đến năm 2030, vùng Trung du và miền núi phía Bắc là vùng phát triển xanh, bền vững và toàn diện, có hệ thống kết cấu hạ tầng cơ bản đồng bộ, hiện đại, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, bảo đảm liên kết nội vùng, liên vùng và kết nối quốc tế hiệu quả, khẳng định vị thế của vùng là trung tâm kết nối các nước Đông Nam Á với Trung Quốc, Trung Á và châu Âu; đồng thời là một trung tâm sản xuất nông nghiệp, du lịch, công nghiệp quan trọng của cả nước.

Các địa phương trong vùng đạt mục tiêu tăng trưởng cao, một số tỉnh nằm trong nhóm các tỉnh phát triển khá của cả nước; bản sắc văn hóa các dân tộc được bảo tồn và phát huy; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc.

Quyết định số 610/QĐ-TTg đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá trong thời kỳ quy hoạch vùng Trung du và miền núi phía Bắc, cụ thể như sau:

- Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng phát triển kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các tiểu vùng, giữa vùng Trung du và miền núi phía Bắc với các vùng khác.

- Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại gắn với tăng cường liên kết vùng và chuyển đổi số.

- Phát triển các ngành kinh tế theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với lợi thế và đặc thù của vùng.

- Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực trong các lĩnh vực trọng điểm như công nghiệp công nghệ cao, năng lượng, dịch vụ du lịch, nông, lâm nghiệp, khoa học công nghệ …

- Quản lý hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

- Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển vùng, xây dựng thể chế liên kết vùng đủ mạnh, bảo đảm hiệu quả quản trị và điều phối, liên kết phát triển vùng, tập trung vào một số lĩnh vực như quy hoạch, phát triển hạ tầng, xúc tiến đầu tư, xử lý các vấn đề môi trường nội vùng và liên vùng, phát triển các cụm liên kết ngành. Thực hiện thí điểm một số mô hình, cơ chế, chính sách mới, đặc thù nhằm thúc đẩy sự phát triển của vùng.

Vùng Đồng bằng sông Hồng: Phát triển nhanh, bền vững, cơ cấu kinh tế hợp lý, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc

Tại Quyết định số 612/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo đó, phạm vi, ranh giới lập điều chỉnh quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng bao gồm toàn bộ lãnh thổ đất liền của 06 tỉnh, thành phố: Thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, các tỉnh Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Quảng Ninh và phần không gian biển, đảo được xác định theo các quy định của pháp luật có liên quan.

Quyết định đặt ra mục tiêu đến năm 2030, vùng Đồng bằng sông Hồng là vùng phát triển nhanh, bền vững, có cơ cấu kinh tế hợp lý, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá, động lực chính để phát triển kinh tế - xã hội; vùng có nền công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, thân thiện với môi trường; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng cao, dẫn đầu cả nước; là trung tâm giáo dục, đào tạo nhân lực chất lượng cao của cả nước; đi đầu về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, xã hội số; có hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đô thị thông minh, có tính kết nối cao; hình thành mạng lưới đô thị xanh, thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu, giải quyết cơ bản ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và ngập úng đô thị.

Thủ đô Hà Nội phát triển theo hướng "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại", trở thành trung tâm hàng đầu về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, đóng vai trò động lực thúc đẩy phát triển vùng và cả nước, phấn đấu ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực. Quốc phòng, an ninh được giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2030 trở thành vùng công nghiệp hiện đại, tiệm cận mức thu nhập cao.

Quyết định số 612/QĐ-TTg đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá trong thời kỳ quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng cụ thể như sau:

- Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, kết nối hiệu quả nội vùng, liên vùng và quốc tế, gắn với các hành lang kinh tế trọng điểm của vùng Đồng bằng sông Hồng.

- Phát triển không gian kinh tế vùng Đồng bằng sông Hồng theo hướng mở, linh hoạt, gắn với các hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và chuỗi đô thị động lực (như Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - Bắc Ninh) và chuỗi giá trị ngành (công nghệ cao, công nghiệp điện tử, ô tô, chip bán dẫn, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch văn hóa…), liên kết vùng, quốc gia và quốc tế.

- Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, phát triển hệ thống đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng hiện đại, bền vững, có khả năng cạnh tranh quốc tế, đóng vai trò trung tâm trong mạng lưới đô thị quốc gia; kinh tế đô thị trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng vùng.

- Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hình thành hệ sinh thái khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo làm nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững.

- Tập trung bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của nền văn minh sông Hồng làm nền tảng tinh thần cho phát triển bền vững và hình thành công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của vùng.

- Tập trung hoàn thiện thể chế điều phối và cơ chế liên kết phát triển vùng nhằm bảo đảm phát triển thống nhất, đồng bộ và hiệu quả.

- Tăng cường năng lực hội nhập và kết nối quốc tế, tập trung phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng, làm nền tảng tăng trưởng nhanh, bền vững.

Vùng Bắc Trung Bộ: Phát triển nhanh, năng động, bền vững, mạnh về kinh tế biển

Tại Quyết định số 613/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo đó, phạm vi, ranh giới lập điều chỉnh quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ bao gồm toàn bộ lãnh thổ đất liền của 5 tỉnh, thành phố: Thành phố Huế, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và phần không gian biển, đảo được xác định theo các quy định của pháp luật có liên quan.

Quyết định đặt mục tiêu đến năm 2030, Bắc Trung Bộ là vùng phát triển nhanh, năng động, bền vững, mạnh về kinh tế biển, phấn đấu mức thu nhập bình quân đầu người của vùng đạt mức trung bình cao, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng chủ yếu, có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có khả năng chống chịu cao với thiên tai và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Phát triển một số trung tâm công nghiệp, dịch vụ lớn của cả nước, các khu kinh tế ven biển và hệ thống đô thị ven biển đạt chuẩn quốc gia và khu vực, trung tâm kinh tế biển mạnh có tầm khu vực và quốc tế; các giá trị văn hóa, lịch sử và hệ sinh thái biển, đảo, rừng được bảo tồn và phát huy; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao; quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển, đảo được bảo đảm vững chắc.

Quyết định số 613/QĐ-TTg đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm và các khâu đột phá trong thời kỳ quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ, cụ thể như sau:

- Hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thông minh, tập trung vào hạ tầng giao thông, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng đô thị, hạ tầng xã hội, hạ tầng thủy lợi, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

- Đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế của vùng gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ưu tiên phát triển một số ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn, phù hợp với xu thế chung của thế giới và gắn với không gian phát triển mới.

- Xây dựng khu vực ven biển Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh trở thành trung tâm phát triển công nghiệp của vùng và cả nước, trở thành vùng động lực quốc gia.

- Phát triển các hành lang kinh tế theo trục Bắc - Nam, các hành lang kinh tế Đông – Tây nhằm kết nối hiệu quả các cảng biển, khu kinh tế, cảng hàng không, cửa khẩu quốc tế, đầu mối giao thương lớn, các đô thị ven biển, trung tâm kinh tế, cực tăng trưởng.

- Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả liên kết nội vùng, liên vùng để bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng; đẩy mạnh liên kết giữa các địa phương liền kề trong vùng, khai thác hiệu quả không gian phát triển mới sau sáp nhập, sắp xếp đơn vị hành chính các cấp.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: Phát triển nhanh, bền vững; phát huy mạnh mẽ liên kết biển - cao nguyên - biên giới

Tại Quyết định số 614/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cụ thể:

Phạm vi, ranh giới lập điều chỉnh quy hoạch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên bao gồm toàn bộ lãnh thổ đất liền của 06 tỉnh, thành phố: Thành phố Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng và phần không gian biển, đảo được xác định theo các quy định của pháp luật có liên quan.

Mục tiêu đến năm 2030, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là vùng phát triển nhanh, bền vững; phát huy mạnh mẽ liên kết biển - cao nguyên - biên giới; có cơ cấu kinh tế hợp lý, từng bước hiện đại, là điểm đến hấp dẫn về du lịch biển, đảo, sinh thái và văn hóa.

Hình thành nguồn nhân lực có chất lượng, kỹ năng và khả năng thích ứng với yêu cầu phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế số.

Một số địa phương trong vùng thuộc nhóm dẫn đầu cả nước về một số lĩnh vực như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, du lịch, logistics, dịch vụ tài chính. Hệ thống kết cấu hạ tầng chủ yếu, nhất là giao thông, năng lượng, đô thị, hạ tầng số, hạ tầng phòng, chống thiên tai từng bước đồng bộ, hiện đại, kết nối Bắc - Nam và Đông - Tây.

Hệ sinh thái rừng, an ninh nguồn nước, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện.

Quyết định số 614/QĐ-TTg đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm và các khâu đột phá trong thời kỳ quy hoạch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, cụ thể như sau:

- Tập trung hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách đặc thù và mô hình quản trị vùng hiệu quả, nâng cao năng lực điều phối, năng lực cạnh tranh cấp vùng, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng quy hoạch và khả năng tiếp cận đất đai, tăng cường xúc tiến đầu tư và thu hút các nguồn lực phát triển, trong đó kinh tế tư nhân trở thành động lực tăng trưởng quan trọng nhất của vùng.

- Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.

- Ưu tiên phát triển đồng bộ và hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng nội vùng, liên vùng, nhất là các công trình giao thông theo hướng Đông - Tây, gắn với khai thác hiệu quả không gian phát triển mới.

- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhu cầu của thị trường.

- Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, bản sắc và vốn sinh thái nhân văn của vùng.

Vùng Đông Nam Bộ: Văn minh, hiện đại, công nghiệp phát triển, vượt qua ngưỡng thu nhập cao

Tại Quyết định số 615/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo đó, phạm vi, ranh giới lập điều chỉnh quy hoạch vùng Đông Nam Bộ bao gồm toàn bộ lãnh thổ đất liền của các tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh và phần không gian biển, đảo được xác định theo các quy định của pháp luật có liên quan.

Đặt mục tiêu đến năm 2030, Đông Nam Bộ trở thành vùng văn minh, hiện đại, công nghiệp phát triển, vượt qua ngưỡng thu nhập cao; là vùng động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước, phát triển năng động, tốc độ tăng trưởng cao; trung tâm khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp công nghệ số, logistics và trung tâm tài chính quốc tế có tính cạnh tranh cao trong khu vực.

Đi đầu trong xác lập mô hình tăng trưởng mới, chuyển đổi số, phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục, đào tạo, y tế, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát thải các-bon thấp, thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển nhanh hệ thống đô thị xanh, thông minh, hiện đại.

Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, cơ bản đáp ứng yêu cầu tăng trưởng đột phá và liên kết phát triển. Phát huy tốt vai trò đầu mối của quốc gia về giao thương, hội nhập khu vực và thế giới, góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.

Tình trạng ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông và ngập úng cơ bản được giải quyết. Đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của người dân không ngừng được nâng lên. Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc.

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố văn minh, hiện đại, năng động sáng tạo, là nơi thu hút nhân tài, chuyên gia, nhà khoa học đến sinh sống và làm việc, đóng vai trò là cực tăng trưởng của vùng; đầu tàu về kinh tế số, xã hội số, trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ của cả nước; trung tâm tài chính quốc tế, nơi tập trung của các định chế tài chính quốc tế, các tập đoàn kinh tế lớn của thế giới; có vị thế nổi trội trong khu vực Đông Nam Á và phát triển ngang tầm các thành phố lớn trong khu vực châu Á.

Quyết định số 615/QĐ-TTg đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm và các khâu đột phá trong thời kỳ quy hoạch vùng Đông Nam Bộ, cụ thể như sau:

- Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại kinh tế vùng, tạo đột phá nâng cao năng suất dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

- Hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thông minh, tập trung vào hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng xã hội, hạ tầng thủy lợi, phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và hạ tầng bảo vệ môi trường.

- Tập trung phát triển vùng động lực phía Nam (vùng động lực quốc gia) trở thành trung tâm kinh tế hàng đầu của cả nước và khu vực Đông Nam Á.

- Hình thành và phát triển các hành lang kinh tế, trong đó ưu tiên hành lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang kinh tế Mộc Bài - Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu và các vành đai công nghiệp - đô thị - dịch vụ gắn với đường vành đai 3, vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh.

- Tăng cường liên kết nội vùng, liên vùng, phát triển vùng theo hướng đa trung tâm phù hợp với tiềm năng, lợi thế của từng khu vực.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, hiệu quả cao của quốc gia, khu vực và thế giới

Tại Quyết định số 616/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cụ thể như sau:

Phạm vi, ranh giới lập điều chỉnh quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm toàn bộ lãnh thổ đất liền của 05 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau và Vĩnh Long; và phần không gian biển, đảo được xác định theo các quy định của pháp luật có liên quan.

Mục tiêu phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, năng động và hiệu quả cao của quốc gia, khu vực và thế giới trên cơ sở phát triển hệ thống các trung tâm đầu mối về nông nghiệp, các hành lang kinh tế và các đô thị động lực tập trung các dịch vụ và công nghiệp đa dạng với hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế biển; kinh tế du lịch.

Tăng cường kết nối nội vùng, liên vùng, trong nước và quốc tế; chú trọng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tạo dựng môi trường sống bền vững, chất lượng sống tốt cho người dân gắn với bảo tồn các tài nguyên, hệ sinh thái; duy trì và tôn tạo bản sắc văn hóa độc đáo, đa dạng của các dân tộc; bảo đảm ổn định chính trị, quốc phòng và an ninh.

Quyết định số 616/QĐ-TTg cũng đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm và khâu đột phá trong thời kỳ quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cụ thể như sau:

- Xây dựng cơ chế và tăng cường các hoạt động điều phối vùng, thúc đẩy thực thi hiệu quả quy hoạch vùng trên không gian liên tỉnh trong các ngành, lĩnh vực chủ yếu.

- Tập trung hoàn thiện hạ tầng theo hành lang Bắc – Nam (phía Đông và phía Tây) tăng cường các phương thức kết nối giữa các trung tâm của vùng với Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ.

- Tập trung phát triển các trung tâm tổng hợp, chuyên ngành, hình thành các hành lang đô thị – dịch vụ – công nghiệp, liên kết và hỗ trợ các chức năng theo quy mô vùng.

- Ưu tiên các cơ chế chính sách thu hút nguồn lực đầu tư cho các địa bàn thuận lợi về vị trí, hạ tầng kết nối, có lợi thế về điều kiện tự nhiên và nhân lực.

Ưu tiên đào tạo nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu thị trường lao động, tập trung vào các ngành, lĩnh vực trọng điểm của vùng.

Các Quyết định nêu trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (04/4/2026).

Phê duyệt Đề án "Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045"

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng ký ban hành Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 phê duyệt Đề án "Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" (Đề án).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/4/2026- Ảnh 4.

Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Đề án đặt ra mục tiêu hiện đại hóa toàn diện hệ sinh thái văn hóa số quốc gia nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu sáng tạo và chủ động hội nhập quốc tế.

Đồng thời, đưa văn hóa số trở thành nguồn lực mới cho phát triển bền vững; thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa; bảo đảm tài nguyên văn hóa được mở rộng số hóa, chia sẻ hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội.

Đến năm 2030, phấn đấu 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung

Mục tiêu đến năm 2030, phấn đấu 100% lĩnh vực văn hóa có nền tảng số dùng chung; 100% các loại hình di sản văn hóa đã số hóa được chuẩn hóa dữ liệu theo khung chuẩn quốc gia và chia sẻ theo quy định; 80% di sản văn hóa số công có mã định danh số để xác lập quyền sở hữu, kiểm soát khai thác, khuyến khích người dân, tổ chức, doanh nghiệp cũng xác định mã định danh, quyền sở hữu để thúc đẩy thị trường.

Ít nhất 80% di sản văn hóa phi vật thể của vùng đồng bào dân tộc thiểu số được số hóa và lưu trữ trong các hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về văn hóa.

100% cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa kết nối và đồng bộ cơ sở dữ liệu chuyên ngành; 100% đơn vị quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập của ngành văn hóa có kế hoạch và lộ trình chuyển đổi số phù hợp.

100% hệ thống Thư viện quốc gia, Bảo tàng quốc gia về lịch sử và văn hóa, các bảo tàng công lập tập trung triển khai hoàn thiện Thư viện số, Bảo tàng số, phát triển mô hình thư viện, bảo tàng thông minh, đồng thời mở rộng tích hợp, kết nổi, chia sẻ dữ liệu trong mạng lưới thư viện, bảo tàng Việt Nam và quốc tế.

Ít nhất 70% bảo tàng, thư viện, nhà hát, đoàn nghệ thuật, liên đoàn thể thao, khu du lịch, cơ quan báo chí và doanh nghiệp nội dung số có dữ liệu chia sẻ, kết nối với hạ tầng dữ liệu dùng chung của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Phấn đấu ít nhất 75% người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo được tham gia các hoạt động văn hóa trên môi trường số

Bảo đảm ít nhất 75% người dân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, 80% các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được hưởng thụ và tham gia các hoạt động văn hóa trên môi trường số.

100% cán bộ lãnh đạo quản lý, công chức, viên chức, văn nghệ sĩ, sinh viên của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc ngành văn hóa, nghệ thuật được tiếp cận, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức kỹ năng số.

Đến năm 2045, phát triển hoàn thiện hệ sinh thái văn hóa số toàn diện, thông minh, tương tác cao, vừa bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, vừa lan tỏa mạnh mẽ văn hóa Việt ra thế giới và hội nhập quốc tế. Văn hóa số Việt Nam trở thành động lực phát triển con người Việt Nam toàn diện và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia, trong đó phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột bền vững, đóng góp 9% GDP, quy mô các sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm tỷ trọng trên 80% sản phẩm công nghiệp văn hóa.

Đề án đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp nền tảng gồm: hoàn thiện thể chế và chính sách; huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính; phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số văn hóa; phát triển hạ tầng số và bảo đảm an toàn, an ninh mạng trong lĩnh vực văn hóa; hợp tác và hội nhập quốc tế trong chuyển đổi số văn hóa.

Ngoài ra Đề án cũng đưa ra các nhiệm vụ giải pháp chuyên biệt trong 8 lĩnh vực: Di sản văn hóa; Nghệ thuật biểu diễn và văn học; Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm; Điện ảnh; Thư viện; Báo chí- Truyền thông; Văn hóa cơ sở; Văn hóa các dân tộc thiểu số.

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Hội nghị "Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp"

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 175/TB-VPCP ngày 05/4/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị "Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp".

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 5/4/2026- Ảnh 5.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị "Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp" - Ảnh VGP/Nhật Bắc

Thông báo nêu, trong bối cảnh phát triển năm 2026 và các năm tiếp theo dự báo thuận lợi, cơ hội và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn. Tuy nhiên, càng khó khăn càng phải nỗ lực, quyết tâm cao, kiên trì, kiên định thực hiện 02 mục tiêu chiến lược 100 năm, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số trong nhiều năm.

Đồng thời, phải giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo đảm ổn định, nhất quán về chính sách nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của doanh nghiệp, qua đó, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động nắm bắt cơ hội, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững.

Xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách; cắt giảm thủ tục, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương, doanh nghiệp quán triệt và thực hiện đúng, đầy đủ các ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị Trung ương 2 vừa qua, trong đó có "bốn kiên định" về chính trị, tư tưởng, "bốn nguyên tắc" cốt lõi về tăng trưởng kinh tế 2 con số; đồng thời quán triệt, thực hiện phương châm 20 chữ: "Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp tiên phong, công tư đồng hành, đất nước phát triển, nhân dân hạnh phúc".

Nhà nước với vai trò kiến tạo, tập trung thực hiện 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như sau:

1. Giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và ổn định chính sách.

2. Nâng cao năng lực dự báo, nhất là các yếu tố liên quan đến doanh nghiệp (trong đó có cung - cầu), nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chủ động thích ứng.

3. Xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách theo hướng thông thoáng; cắt giảm thủ tục, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

4. Tập trung phát triển hạ tầng chiến lược (giao thông, viễn thông, điện, y tế, giáo dục, văn hóa…) phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh.

5. Tăng cường phối hợp giữa Nhà nước - doanh nghiệp - cơ sở đào tạo trong phát triển nguồn nhân lực, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, doanh nghiệp đồng hành.

6. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, phiền hà, sách nhiễu.

Phân bổ nguồn lực công bằng, minh bạch, công khai; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng

7. Xây dựng hệ thống quản trị hiện đại, thông minh, dựa trên chuyển đổi số.

8. Bảo đảm huy động và phân bổ nguồn lực công bằng, minh bạch, công khai; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, lựa chọn chủ thể thực hiện trên cơ sở hiệu quả.

9. Chủ động giao nhiệm vụ, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình triển khai thực hiện.

10. Tăng cường lắng nghe, tiếp thu ý kiến doanh nghiệp bằng sự chân thành, cầu thị; kịp thời chia sẻ, đồng hành và cụ thể hóa bằng hành động, giải pháp, sản phẩm thiết thực.

11. Thúc đẩy gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước và doanh nghiệp theo tinh thần doanh nghiệp phát triển là nền tảng cho sự phát triển của đất nước; ngược lại, môi trường quốc gia ổn định, đất nước đổi mới sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển bền vững.

Thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp; hình thành các doanh nghiệp đa quốc gia, đẩy mạnh đầu tư hiệu quả ra nước ngoài

Thủ tướng yêu cầu doanh nghiệp cần phát huy vai trò tiên phong với định hướng các nội dung trọng tâm sau:

Doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số; mọi cơ chế, chính sách phải hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Đồng thời, doanh nghiệp cần chủ động tham gia cùng Nhà nước trong kiến tạo phát triển, hoàn thiện hạ tầng và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia.

Tiên phong trong phát triển về quy mô và năng lực; thúc đẩy chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp, phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp lớn thành doanh nghiệp lớn hơn, hình thành các doanh nghiệp đa quốc gia, đẩy mạnh đầu tư hiệu quả ra nước ngoài.

Tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; tham gia cơ cấu lại thị trường lao động; thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn, kinh tế sáng tạo, kinh tế tri thức.

Tiên phong cùng Nhà nước kiến tạo xây dựng chính sách, thể chế; chủ động phản ánh, đề xuất các vấn đề thực tiễn để cơ quan nhà nước kịp thời có giải pháp, chính sách phù hợp, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Tiên phong trong đầu tư ra nước ngoài, phát huy lợi thế, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), đa dạng hóa thị trường, sản phẩm, chuỗi cung ứng.

Tiên phong trong liên doanh, liên kết, tăng cường đoàn kết, hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Hợp tác công – tư phát huy hiệu quả việc kết hợp nguồn lực trong và ngoài nước, giữa Nhà nước và người dân, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững

Về nội dung "công tư đồng hành", hợp tác công - tư triển khai trên hầu hết các lĩnh vực, nhiệm vụ, đặc biệt trong huy động nguồn lực, nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực. Hợp tác công - tư cần phát huy hiệu quả trong việc kết hợp nguồn lực trong nước và quốc tế, giữa Nhà nước và nhân dân, tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững.

Về tri ân doanh nghiệp, doanh nhân, Thủ tướng đánh giá thời gian qua, cộng đồng doanh nghiệp luôn giữ vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội; góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; đồng thời tham gia tích cực vào quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách theo hướng thông thoáng, bao trùm, toàn diện.

Trong những thời điểm khó khăn, thử thách, đặc biệt là 5 năm vừa qua, cộng đồng doanh nghiệp luôn đồng hành cùng Đảng, Nhà nước và nhân dân, nhất là trong phòng, chống đại dịch COVID-19; tích cực đóng góp cho Quỹ vaccine, góp phần nâng cao tỷ lệ bao phủ vaccine của Việt Nam ở mức cao trên thế giới; nỗ lực duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, vượt qua khó khăn, tiếp tục phát triển và tham gia hiệu quả vào công tác an sinh xã hội, đặc biệt là chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước, chiến dịch Quang Trung thần tốc…

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Nhân dân, Thủ tướng bày tỏ sự trân trọng, tinh thần cầu thị, lắng nghe và tri ân sâu sắc cộng đồng doanh nghiệp vì những đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức 05 năm vừa qua.

Thủ tướng yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền khẩn trương xem xét, xử lý hiệu quả, kịp thời theo quy định các kiến nghị của doanh nghiệp, hiệp hội, ngân hàng tại Hội nghị; thông tin kịp thời kết quả xử lý cho doanh nghiệp, đồng gửi Bộ Tài chính để tổng hợp, theo dõi trong tháng 4/2026; báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền đối với các vấn đề vượt thẩm quyền./.