• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/3/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/3/2026 (2).

06/03/2026 17:54
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/3/2026 (2)- Ảnh 1.

Nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026–2035.

Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 262/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035 

Chính phủ có Nghị quyết số 34/NQ-CP ngày 05/3/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 262/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035

Mục đích của Kế hoạch nhằm triển khai nghiêm túc, có chất lượng, hiệu quả Nghị quyết số 262/2025/QH15 nhằm nâng cao công tác quản lý, điều hành và thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035.

Xác định cụ thể nội dung nhiệm vụ, thời hạn, tiến độ hoàn thành, sản phẩm, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 262/2025/QH15 bảo đảm đồng bộ, thống nhất và hiệu quả.

Đồng thời, tăng cường công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 262/2025/QH15 trên phạm vi cả nước.

5 nội dung thực hiện

Kế hoạch đưa ra 5 nội dung để các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện, bao gồm:

1. Tổ chức quán triệt, tuyên truyền và phổ biến sâu rộng Nghị quyết số 262/2025/QH15, Nghị quyết của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn liên quan đến các cấp, các ngành, toàn xã hội và nhân dân trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình.

2. Ban hành kế hoạch và tổ chức thực hiện nội dung, nhiệm vụ của Nghị quyết số 262/2025/QH15 của Quốc hội theo đúng quy định.

3. Rà soát, xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý, điều hành và hướng dẫn thực hiện Chương trình.

4. Tổ chức phê duyệt, triển khai thực hiện Chương trình theo đúng quy định của Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước và quy định pháp luật hiện hành có liên quan.

5. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát ở các cấp, các ngành trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình bảo đảm đúng mục tiêu, nhiệm vụ đã được phê duyệt.

Xây dựng Báo cáo nghiên cứu khả thi; quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách cho Chương trình giai đoạn 2026 - 2030

Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng các bộ, cơ quan Trung ương và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động, tích cực triển khai Nghị quyết này, bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả.

Bộ Y tế là cơ quan chủ Chương trình chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan và các địa phương xây dựng Báo cáo nghiên cứu khả thi Chương trình giai đoạn 2026 - 2030. Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Quyết định đầu tư Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 theo quy định.

Xây dựng quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2030, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Đồng thời, rà soát, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Chương trình; cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện Chương trình; cơ chế kiểm tra, giám sát Chương trình; phối hợp với Bộ Nội vụ nghiên cứu đề xuất mô hình tổ chức bộ máy giúp việc Chương trình phù hợp với chủ trương tinh gọn bộ máy của Chính phủ

Căn cứ kết quả thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 tham mưu Chính phủ xem xét, trình Quốc hội quyết định nguồn vốn thực hiện Chương trình giai đoạn 2031 - 2035; xây dựng Báo cáo nghiên cứu khả thi Chương trình giai đoạn 2031 - 2035; quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn ngân sách Trung ương và tỷ lệ vốn đối ứng của ngân sách địa phương thực hiện Chương trình giai đoạn 2031 - 2035 trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Bộ Y tế tham mưu Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo tổ chức thực hiện, theo dõi, kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết Chương trình theo quy định. Hằng năm, tham mưu Chính phủ báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện Chương trình tại thời điểm cuối năm hoặc theo yêu cầu của Quốc hội.

Đồng thời, nghiên cứu, xây dựng các chương trình, nhiệm vụ, dự án có liên quan trong phạm vi của Chương trình thuộc trách nhiệm được phân công; phối hợp với Bộ Tài chính, các bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương kết nối đồng bộ hệ thống thông tin quản lý Chương trình với Hệ thống thông tin giám sát, đánh giá các chương trình mục tiêu quốc gia do Bộ Tài chính quản lý.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, các bộ, cơ quan Trung ương nghiên cứu, ban hành Thông tư quy định quản lý, sử dụng và thanh quyết toán kinh phí thường xuyên nguồn ngân sách nhà nước thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2035.

Đồng thời, chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các bộ, cơ quan Trung ương tham mưu, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định giao kế hoạch đầu tư công trung hạn nguồn ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 cho các bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương theo quy định của Luật Đầu tư công và Nghị quyết số 262/2025/QH15 của Quốc hội.

Các bộ, cơ quan Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ được phân công chủ động phối hợp với Bộ Y tế khẩn trương xây dựng, hoàn thiện các nội dung hoạt động thuộc Chương trình; đề xuất cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, định mức, tiêu chuẩn kỹ thuật thực hiện các nội dung của Chương trình được giao chủ trì thực hiện sau khi có ý kiến thuận lợi cho các địa phương trong quá trình triển khai, áp dụng thực hiện.

Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan báo chí, truyền thông khác phối hợp với Bộ Y tế thực hiện truyền thông về Chương trình.

Ưu tiên cân đối, bố trí ngân sách địa phương để thực hiện Chương trình; không để xảy ra tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, ban hành các văn bản liên quan về quản lý, điều hành, thực hiện và kiểm tra, giám sát thực hiện Chương trình ở địa phương thuộc thẩm quyền.

Xây dựng kế hoạch và ưu tiên cân đối, bố trí ngân sách địa phương, huy động các nguồn lực hợp pháp khác để thực hiện Chương trình trên địa bàn, phấn đấu hoàn thành mục tiêu của Chương trình đã được phê duyệt; không để xảy ra tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản.

Trình Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách nhà nước của Chương trình, bảo đảm không trùng lặp nội dung, đối tượng; sử dụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả;

Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp xã quyết định phân bổ chi tiết đến nội dung, hoạt động, lĩnh vực chi, dự án thành phần, danh mục dự án đầu tư công của Chương trình theo định mức phân bổ chi ngân sách nhà nước do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Hằng năm, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp và báo cáo Chính phủ về kết quả thực hiện Chương trình tại thời điểm cuối năm hoặc theo yêu cầu của Quốc hội.

Căn cứ mục tiêu, tiêu chí của Chương trình, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động bố trí kinh phí từ nguồn ngân sách địa phương để chuẩn bị đầu tư các dự án xây dựng cơ bản trong khuôn khổ Chương trình.

Chính phủ đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình phối hợp với Bộ Y tế và các bộ, cơ quan liên quan để hướng dẫn các địa phương thực hiện; chủ động, tích cực tham gia vào thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của Chương trình theo phân công; thực hiện giám sát, phản biện xã hội trong quá trình thực hiện Chương trình.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/3/2026 (2)- Ảnh 2.

Thực hiện các giải pháp bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho thị trường trong nước

Kết luận của Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc - Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá tại cuộc họp Ban Chỉ đạo về kết quả công tác quản lý, điều hành giá Quý IV và cả năm 2025, định hướng công tác điều hành giá năm 2026

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 101/TB-VPCP ngày 5/3/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc - Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá tại cuộc họp Ban Chỉ đạo về kết quả công tác quản lý, điều hành giá Quý IV và cả năm 2025, định hướng công tác điều hành giá năm 2026.

Thông báo nêu: Trong năm 2025, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức. Cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc ngày càng gay gắt trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, công nghệ và thương mại. Chủ nghĩa bảo hộ gia tăng cùng xu hướng dịch chuyển sản xuất và dòng vốn đầu tư trở lại các nước phát triển. Bên cạnh đó, yếu tố bất ổn chính trị vẫn tiếp tục kéo dài với các cuộc xung đột quân sự gia tăng đã gây ảnh hưởng đến ổn định khu vực và kinh tế toàn cầu. Sự dịch chuyển từ chủ nghĩa đa phương sang chủ nghĩa đơn phương được thể hiện rõ qua chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ. Trước bất ổn kinh tế - chính trị toàn cầu, dòng vốn đầu tư chuyển mạnh sang tài sản trú ẩn an toàn, đẩy giá kim loại quý như vàng và bạc tăng cao. Ngược lại, giá dầu thô giảm xuống mức thấp nhất trong 4 năm qua do nhu cầu suy yếu và nguồn cung từ OPEC+ gia tăng. Đồng USD suy yếu do chính sách nới lỏng tiền tệ của Mỹ và xu hướng đa dạng hóa dự trữ ngoại hối. Lạm phát toàn cầu năm 2025 nhìn chung giảm hoặc đi ngang, phản ánh áp lực giá đã hạ nhiệt.

Diễn biến giá cả thị trường trong nước cơ bản tuân theo quy luật hàng năm. Mặt bằng giá tăng cao vào dịp Tết sau đó giảm trở lại cuối quý I và chỉ tăng nhẹ trong các quý tiếp theo. Lạm phát năm 2025 trong phạm vi mục tiêu do Quốc hội và Chính phủ đề ra. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2025 tăng 3,31% so với năm 2024 trong đó có tác động từ việc điều chỉnh giá một số mặt hàng Nhà nước quản lý như dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục đại học, giá điện; ngoài ra còn có tác động của yếu tố thời vụ do giá một số nhóm hàng tăng vào dịp Tết, giá một số vật liệu xây dựng có nguồn cung hạn chế như cát, đá tăng cao do nhu cầu xây dựng các công trình trọng điểm; thiên tai bão lũ, lụt diễn biến phức tạp đẩy giá một số mặt hàng thực phẩm tăng cục bộ tại địa phương bị ảnh hưởng… Trong giai đoạn trước và trong Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, thị trường cả nước duy trì trạng thái ổn định, cung - cầu được bảo đảm, không ghi nhận hiện tượng khan hiếm hàng hóa hay tăng giá đột biến đối với các mặt hàng thiết yếu nhờ nguồn cung ổn định, người dân có xu hướng chi tiêu tiết kiệm, hợp lý.

Công tác quản lý, điều hành giá trong năm 2025 đạt mục tiêu đề ra, góp phần kiểm soát lạm phát, hỗ trợ đời sống người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với nhiều giải pháp được triển khai kịp thời như đảm bảo nguồn cung hàng hóa, dịch vụ thiết yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân nhất là trong các thời điểm thị trường có nhu cầu tăng cao vào dịp lễ, Tết; xuất cấp kịp thời hàng dự trữ quốc gia để hỗ trợ, cứu trợ người dân bị thiệt hại do bão lũ, đẩy mạnh khôi phục sản xuất nông nghiệp; điều hành thận trọng giá các mặt hàng do Nhà nước định giá; tiếp tục thực hiện nhiều chính sách giảm, gia hạn, miễn thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất hỗ trợ người dân và doanh nghiệp; điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt…

Trong năm 2026, dự báo kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp như xung đột quân sự tiếp tục căng thẳng, chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ thay đổi khó dự đoán... từ đó có thể dẫn đến biến động khó lường của giá một số mặt hàng chiến lược và ảnh hưởng đến mặt bằng giá trong nước. Năm 2026 là năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, nhu cầu sử dụng điện, vật tư, nguyên liệu phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng được dự báo tăng; cùng với những biến động phức tạp từ tình hình kinh tế thế giới có thể tạo áp lực nhất định lên chỉ số giá tiêu dùng trong nước. Trong bối cảnh đó, để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là kiểm soát lạm phát thông qua công tác quản lý và điều hành giá hiệu quả có vai trò quan trọng, tạo nền tảng cho nền kinh tế vận hành thuận lợi, hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, ổn định đời sống người dân và củng cố niềm tin của nhà đầu tư.

Các Bộ, ngành, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động triển khai kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đặt ra tại các Nghị quyết của Chính phủ, các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ - Trưởng ban Chỉ đạo điều hành giá trong đó tập trung vào những biện pháp sau:

Chủ động và linh hoạt trong quản lý, điều hành giá

Phó Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành liên quan và các địa phương chú trọng theo dõi sát diễn biến kinh tế và lạm phát thế giới, những điều chỉnh chính sách kinh tế của các nước lớn đặc biệt là các đối tác thương mại chính của Việt Nam, tác động từ chính sách thuế đối ứng của Hoa Kỳ và chính sách thuế quan của Liên minh Châu Âu (EU)... để đưa ra các giải pháp ứng phó phù hợp nhằm hạn chế tác động tiêu cực lên mặt bằng giá trong nước.

Giám sát chặt chẽ biến động giá cả thị trường trong nước nhất là với những hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng thiết yếu và các nguyên liệu đầu vào quan trọng phục vụ sản xuất; chủ động và linh hoạt có các biện pháp điều tiết cung cầu và bình ổn thị trường nhằm đảm bảo sản xuất, đáp ứng nhu cầu của xã hội, không để xảy ra thiếu hàng, sốt giá, bảo đảm an sinh xã hội.

Tiếp tục bảo đảm cân đối cung - cầu đối với các nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, nhiên liệu xăng dầu, điện, nguyên liệu đầu vào cho sản xuất và thị trường bất động sản.

Điều hành chính sách tài khóa phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ và các chính sách khác để góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Thực hiện đồng bộ các giải pháp để hỗ trợ các hộ nghèo, các gia đình khó khăn và đảm bảo an sinh xã hội.

Sử dụng linh hoạt, hiệu quả các công cụ, biện pháp điều tiết giá theo quy định của pháp luật về giá để kiểm soát, bình ổn thị trường. Tăng cường triển khai hiệu quả và giám sát thực hiện các biện pháp kê khai giá, niêm yết giá, công khai thông tin về giá, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về giá.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, đảm bảo kịp thời, minh bạch thông tin về giá và công tác điều hành giá của Chính phủ, Ban Chỉ đạo điều hành giá, nhất là diễn biến giá cả các vật tư quan trọng, các mặt hàng thiết yếu liên quan đến sản xuất và đời sống người dân để hạn chế gia tăng lạm phát kỳ vọng, ổn định tâm lý người tiêu dùng và doanh nghiệp.

Tăng cường các biện pháp phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất và kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, cũng như các hàng hóa trốn thuế.

Các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm ban hành văn bản định giá theo thẩm quyền, tổ chức triển khai nhiệm vụ quản lý giá thuộc thẩm quyền, trách nhiệm theo quy định tại Luật Giá số 16/2023/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Giá số 140/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn; chủ động rà soát, ban hành các định mức kinh tế - kỹ thuật theo thẩm quyền giúp công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả trong công tác định giá.

Các bộ, ngành, địa phương tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về giá đối với các hàng hóa, dịch vụ theo lĩnh vực quản lý

Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm tổ chức, theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường các mặt hàng thuộc lĩnh vực quản lý để có biện pháp điều hành phù hợp nhất là đối với những mặt hàng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân như lương thực, thực phẩm, điện, vật liệu xây dựng, giáo dục và y tế, đồng thời theo dõi chặt chẽ biến động giá của các nhóm hàng có tác động gián tiếp như vàng, ngoại tệ (USD) và bất động sản, trong đó:

Xăng dầu, LPG: Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp bảo đảm nguồn cung xăng dầu, LPG cho thị trường trong nước trong mọi tình huống và điều hành giá xăng dầu theo quy định; đồng thời, nghiên cứu để đa dạng hóa nguồn cung; chủ động công tác dự trữ xăng dầu để linh hoạt điều tiết và bình ổn thị trường khi phát sinh biến động hoặc gián đoạn nguồn cung; tăng cường kiểm tra, giám sát thị trường, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm; không để thiếu hụt, đứt gãy nguồn cung xăng dầu…

Lương thực, thực phẩm: Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp Bộ Công Thương và các địa phương theo dõi sát tình hình sản xuất, nhu cầu tiêu dùng, diễn biến giá cả các mặt hàng nông sản thiết yếu như lúa gạo, thịt lợn,... để đáp ứng nhu cầu của người dân vào lễ hội sau Tết và giá các vật tư nông nghiệp không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý; kịp thời điều hòa cung cầu các mặt hàng phục vụ nhu cầu trong nước, giữa các vùng, địa phương và nhu cầu xuất khẩu để ổn định giá cả thị trường. Đồng thời, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương, Bộ Tài chính tổ chức cuộc họp bàn giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn trong xuất khẩu lúa gạo thời gian tới.

Đối với các mặt hàng đang dự kiến có phương án điều chỉnh giá: các Bộ, ngành theo chức năng nhiệm vụ được giao chủ động rà soát kỹ các yếu tố hình thành giá, phối hợp với Cục Thống kê đánh giá kỹ tác động đối với kinh tế - xã hội, mặt bằng giá để chủ động có phương án điều chỉnh theo thẩm quyền hoặc kịp thời trình cấp có thẩm quyền xem xét phương án điều chỉnh giá phù hợp với diễn biến, mặt bằng giá thị trường theo đúng quy định với mức độ và thời điểm điều chỉnh phù hợp, tránh gây xáo trộn lớn về mặt bằng giá cả, hạn chế tác động tiêu cực đến đời sống của người dân, tránh gây cộng hưởng lạm phát chi phí đẩy và lạm phát kỳ vọng của nền kinh tế, góp phần bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát.

Vật liệu xây dựng: Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các địa phương theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường vật liệu xây dựng, chủ động nắm bắt các thông tin thị trường về giá vật liệu xây dựng, đặc biệt là các loại vật liệu chủ yếu phục vụ các công trình trọng điểm trong năm 2026, tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm nguồn cung nguyên vật liệu xây dựng (như cát, đá, sỏi,...) phục vụ thi công các dự án; thực hiện thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật về giá vật liệu xây dựng theo quy định, nhất là vi phạm các điều nghiêm cấm trong lĩnh vực giá (như: loan tin, đưa tin không đúng sự thật, không chính xác về tình hình kinh tế - xã hội gây nhiễu loạn thông tin thị trường, giá hàng hóa, dịch vụ;…); tiếp tục thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 30/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chấp hành quy định pháp luật về giá và Công điện số 85/CĐ-TTg ngày 10/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các giải pháp quản lý, bình ổn giá vật liệu xây dựng.

Đất đai, bất động sản và nhà ở: Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng phối hợp Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có giải pháp phát triển thị trường bất động sản vận hành lành mạnh, bảo đảm phù hợp với điều kiện và nhu cầu thực tế của người dân, tập trung vào phát triển thị trường phân khúc nhà ở xã hội và nhà ở cho người có thu nhập trung bình, phục vụ hiệu quả nhu cầu nhà ở và an sinh xã hội.

Đối với công tác điều hành giá mặt hàng quan trọng, thiết yếu khác, các bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm tổ chức, theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả thị trường các mặt hàng thuộc lĩnh vực quản lý để có biện pháp điều hành phù hợp, chủ động dự báo và có phương án bảo đảm cân đối cung cầu, nhất là trong các thời điểm thị trường có nhu cầu tăng cao, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, gián đoạn nguồn hàng gây tăng giá đột biến.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/3/2026 (2)- Ảnh 3.

Quỹ phòng thủ dân sự trung ương hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.

Thành lập và ban hành Quy chế hoạt động Quỹ phòng thủ dân sự trung ương 

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 9/2026/QĐ-TTg ngày 6/3/2026 thành lập và ban hành Quy chế hoạt động Quỹ phòng thủ dân sự trung ương.

Quyết định nêu rõ: Thành lập Quỹ phòng thủ dân sự trung ương (Quỹ) để tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước; nguồn điều tiết từ Quỹ phòng thủ dân sự cấp tỉnh về Quỹ theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và nguồn điều tiết từ các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.

Quỹ do Bộ Quốc phòng quản lý.

Địa vị pháp lý, tổ chức bộ máy của Quỹ

Địa vị pháp lý của Quỹ theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự.

Bộ máy quản lý Quỹ sử dụng quân nhân thuộc Bộ Quốc phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định.

Nguyên tắc hoạt động của Quỹ

Quyết định quy định nguyên tắc hoạt động của Quỹ như sau:

- Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.

- Quản lý, sử dụng đúng mục đích, đúng pháp luật, kịp thời, hiệu quả, bảo đảm công khai, minh bạch, tiết kiệm, hiệu quả.

- Hỗ trợ cho các hoạt động phòng thủ dân sự mà ngân sách nhà nước chưa đầu tư hoặc chưa đáp ứng yêu cầu.

- Việc điều tiết giữa Quỹ phòng thủ dân sự và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa được thực hiện trong trường hợp cấp bách.

Nhiệm vụ của Quỹ

Quỹ có nhiệm vụ hỗ trợ các hoạt động phòng thủ dân sự mà ngân sách nhà nước chưa đầu tư hoặc đầu tư nhưng chưa đáp ứng yêu cầu; tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn tài chính; thực hiện chế độ báo cáo, kế toán theo quy định tại Nghị định này và pháp luật liên quan.

Quỹ phải chấp hành việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; công bố công khai về quy chế hoạt động, kết quả hoạt động của Quỹ phòng thủ dân sự, báo cáo tình hình thực hiện quỹ theo quy định tại Quyết định này và pháp luật liên quan.

Nguồn thu, nội dung chi của Quỹ

Nguồn thu của Quỹ từ các nguồn tài chính sau đây:

- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước.

- Nguồn điều tiết từ các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.

- Nguồn điều tiết từ Quỹ phòng thủ dân sự cấp tỉnh về Quỹ phòng thủ dân sự trung ương theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

- Thu lãi từ tài khoản tiền gửi.

Nội dung chi của Quỹ theo quy định tại Điều 27 Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự.

Thẩm quyền quyết định chi, điều tiết của Quỹ

Quyết định quy định Thủ trưởng cơ quan quản lý Quỹ trình Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia xem xét, quyết định chi đối với các nội dung chi quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 Điều 27 Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự; các nội dung chi khác tại khoản 5 Điều 27 Nghị định số 200/2025/NĐ-CP, Thủ trưởng cơ quan quản lý Quỹ báo cáo Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Thẩm quyền điều tiết từ các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa và Quỹ phòng thủ dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ.

Quyết định số 9/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 20 tháng 4 năm 2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 6/3/2026 (2)- Ảnh 4.

Thủ tướng Phạm Minh Chính làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng 

Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 97/TB-VPCP ngày 05/3/2026 kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng.

Đà Nẵng trên cơ sở hợp nhất, sáp nhập tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng theo Nghị quyết số 202/2025/QH15 của Quốc hội, tiếp tục là cực tăng trưởng và là trung tâm phát triển của khu vực miền Trung và Tây Nguyên, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, thương mại, quân sự và quốc phòng. Việc hợp nhất đã tạo ra không gian phát triển mới cả về công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, khẳng định sự đúng đắn của chủ trương hợp nhất phù hợp với tình hình, yêu cầu phát triển.

Trong năm 2025 và 02 tháng đầu năm 2026, Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng đã đoàn kết, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đạt nhiều kết quả tích cực, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch vững mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Thành phố vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới như: triển khai một số công trình, dự án trọng điểm còn khó khăn, vướng mắc, chậm tiến độ; hạ tầng giao thông, điện và nước sạch còn chưa đồng bộ ở tất cả các khu vực, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; nguồn nhân lực chất lượng cao còn hạn chế; ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa đồng đều giữa các khu vực; thiên tai, nắng nóng, sạt lở tại khu vực miền núi, biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp.

Triển khai hiệu quả Quy hoạch thành phố gắn với tầm nhìn 100 năm

Về nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Đà Nẵng cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

Tập trung quán triệt cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết, Kết luận của Bộ Chính trị về phát triển vùng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ 2026-2031, Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư và các Kết luận Thủ tướng Chính phủ khi làm việc với thành phố Đà Nẵng.

Tập trung triển khai hiệu quả Quy hoạch thành phố thời kỳ 2021-2030 sau điều chỉnh gắn với tầm nhìn 100 năm. Tập trung phát triển kinh tế biên mậu, kinh tế nông nghiệp, du lịch theo hướng xanh, số, tuần hoàn. Hoàn thiện các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành, chuẩn bị tốt các dự án, lĩnh vực mời gọi đầu tư.

Triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt từ 11% trở lên trong năm 2026. Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu năm 2026, nhất là các công trình, dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia; mở rộng không gian phát triển mới, thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới. Tập trung tháo gỡ khó khăn cho các dự án trọng điểm theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII và các kết luận có liên quan của Bộ Chính trị.

Tập trung thực hiện quyết liệt, hiệu quả Quyết định số 1142/QĐ-TTg ngày 13/6/2025 của Thủ tướng Chính phủ về thành lập Khu thương mại tự do Đà Nẵng. Tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ doanh nghiệp khai thác hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới, hướng dẫn doanh nghiệp tiếp cận và tận dụng các ưu đãi từ FTA.

Tập trung cải thiện mạnh mẽ hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh; nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính; chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ, nâng cao trách nhiệm công vụ của cán bộ, công chức.

Làm tốt các chính sách an sinh xã hội, người có công; đầu tư nguồn lực, bảo đảm tiếp cận bình đẳng về y tế, giáo dục.

Tiếp tục giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; giữ vững chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; làm tốt công tác dân tộc, tôn giáo.

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Chuẩn bị thật tốt cho công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.

Đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng xã hội phục vụ Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam

Về triển khai trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng đẩy nhanh tiến độ đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng số, hạ tầng xã hội phục vụ Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng. Bố trí đầy đủ biên chế, nhân lực, cơ sở vật chất và tài sản công đảm bảo hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng.

Đồng thời, có chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, chuyên gia nước ngoài. Tập trung xây dựng môi trường đầu tư, sinh sống thuận lợi để thu hút chuyên gia, nhà đầu tư quốc tế. Rà soát, lựa chọn danh mục dự án trọng điểm, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả, có khả năng lan tỏa vùng và quốc gia khi huy động vốn thông qua Trung tâm tài chính quốc tế.

Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng trong quá trình vận hành Trung tâm tài chính quốc tế; tập trung nghiên cứu, đề xuất các sản phẩm mới, nổi trội để thu hút các tổ chức, định chế tài chính và tập đoàn hàng đầu thế giới tham gia Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng.

Bộ Công an phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng triển khai cung cấp hạ tầng trung tâm dữ liệu, hạ tầng dữ liệu, giám sát vận hành các hệ thống thông tin, đảm bảo an toàn, an ninh và bảo mật thông tin cho các hệ thống thông tin tại Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng.

Bộ Quốc phòng phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng và các bộ, cơ quan, địa phương liên quan đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia đối với các hoạt động tại Trung tâm tài chính quốc tế; xây dựng các phương án bảo vệ, ứng phó với các tình huống khẩn cấp, đảm bảo an toàn cho Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng.

Vận hành Cơ quan giám sát Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam trước ngày 15/3/2026

Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, hướng dẫn các cơ quan, tổ chức Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng về kỹ thuật, tiêu chuẩn, quy chuẩn liên quan đến thiết kế, xây dựng và vận hành Hệ thống hành chính một cửa điện tử và các hệ thống khác đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Bộ Nội vụ phối hợp Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, hướng dẫn tổ chức, cơ cấu, biên chế và các nội dung liên quan thuộc lĩnh vực quản lý đối với các cơ quan, tổ chức thuộc Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng.

Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Bộ, ngành có liên quan đưa Cơ quan giám sát Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam vào vận hành trước ngày 15/3/2026, bảo đảm cơ chế giám sát tập trung, chuyên nghiệp.

Các bộ, cơ quan và Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, tăng cường phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả trong việc vận hành Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng.

Trong quá trình vận hành, phải khẩn trương xử lý theo thẩm quyền hoặc kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền các giải pháp cụ thể để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh. Tích cực nghiên cứu, kiến nghị cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để đảm bảo hoạt động linh hoạt, hiệu quả của Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng, phù hợp tình hình thực tiễn và yêu cầu phát triển của thị trường tài chính./.