• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 9/6/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 9/6/2026.

09/06/2026 18:04

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác chống buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá trong tình hình mới 

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Chỉ thị số 25/CT-TTg ngày 09/6/2026 về tăng cường công tác chống buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá trong tình hình mới.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 9/6/2026- Ảnh 1.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về tình hình buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại địa phương.

Trước tình hình hoạt động buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá diễn ra rất phức tạp tại một số địa bàn trọng điểm, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng, gây thất thu ngân sách, thiệt hại cho ngành sản xuất thuốc lá trong nước; ngày 30/9/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 30/CT-TTg về tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu thuốc lá (Chỉ thị số 30).

Qua hơn 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 30, tình trạng buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá cơ bản đã được kiểm soát và giảm rõ rệt (từ năm 2014 đến 2025, các bộ, ngành, lực lượng chức năng, đơn vị, địa phương phát hiện, bắt giữ, xử lý 79.459 vụ vi phạm pháp luật liên quan đến buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá; thu giữ hơn 110 triệu bao thuốc lá điếu các loại; hơn 388 tấn lá thuốc lá; hơn 2 triệu đơn vị thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng).

Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, hoạt động buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán trái phép thuốc lá vẫn tiềm ẩn phức tạp và có những diễn biến mới, đặc biệt là việc mua bán, tàng trữ, sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng gia tăng mạnh, khó kiểm soát hơn, gây hại cho sức khỏe cộng đồng, tác động ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội.

Vận động người dân tham gia phong trào đấu tranh chống buôn lậu, mua bán, sử dụng trái phép thuốc lá

Để tăng cường công tác chống buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá trong tình hình mới, Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, chính quyền địa phương vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân tham gia xây dựng phong trào toàn dân đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Đề nghị các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Thành ủy trực thuộc trung ương lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy đảng và hệ thống chính trị tại địa phương tích cực tham gia công tác đấu tranh chống buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lãnh đạo, chỉ đạo các ngành, lực lượng chức năng và chính quyền địa phương đấu tranh có hiệu quả với hành vi buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng trong phạm vi, lĩnh vực, địa bàn quản lý; đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về tình hình buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại địa phương. Nghiêm cấm cán bộ, công chức, viên chức mua bán, tàng trữ, sử dụng thuốc lá điếu nhập lậu, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Định kỳ 6 tháng, 1 năm và đột xuất, các bộ, ngành, địa phương báo cáo kết quả thực hiện Chỉ thị, gửi về Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (qua Văn phòng Thường trực) để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Công an chỉ đạo các lực lượng nghiệp vụ và Công an địa phương tăng cường công tác nắm tình hình trên không gian mạng và tại các địa bàn trọng điểm; tổ chức tuần tra, kiểm soát địa bàn, phát hiện, xác lập chuyên án, đấu tranh quyết liệt, xử lý tận gốc các hành vi buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng; phối hợp các cơ quan tố tụng đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án; kịp thời công khai kết quả trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm răn đe, phòng ngừa chung.

Phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép thuốc lá

Bộ Quốc phòng chỉ đạo lực lượng Bộ đội Biên phòng tăng cường tuần tra, kiểm soát khu vực biên giới, cửa khẩu, đường mòn, lối mở; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng trong việc duy trì, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới gắn với công tác chống buôn lậu, vận chuyển trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng; phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp đẩy mạnh công tác tuyên truyền để cư dân khu vực biên giới không tham gia vận chuyển, mua bán thuốc lá nhập lậu, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Đồng thời, chỉ đạo lực lượng Cảnh sát biển tăng cường tuần tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện, triệt phá các đường dây, ổ nhóm, đối tượng buôn lậu, vận chuyển trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, gắn với việc duy trì trật tự an toàn trên các vùng biển.

Bộ Tài chính chỉ đạo lực lượng Hải quan làm tốt công tác nghiệp vụ, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng liên quan để phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng qua địa bàn hải quan.

Bên cạnh đó, nghiên cứu đề xuất đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị và cơ chế hỗ trợ tài chính nhằm khuyến khích, động viên các tổ chức, cá nhân phát hiện, ngăn chặn, cung cấp thông tin cho cơ quan chức năng trong công tác chống buôn lậu thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Bổ sung các quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng, chứa chấp thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các Bộ: Tư pháp, Công an, Tài chính, Y tế, Khoa học và Công nghệ và các cơ quan liên quan rà soát, nghiên cứu, đề xuất việc bổ sung khái niệm "hàng giả" vào văn bản Luật; tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến việc xử lý các hành vi kinh doanh, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng nhập lậu và việc xử lý tang vật là thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng bị tịch thu để đảm bảo đồng bộ, thống nhất.

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, hướng dẫn nghiệp vụ đối với lực lượng Quản lý thị trường các địa phương trong công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi kinh doanh, mua bán, tàng trữ trái phép thuốc lá nhập lậu, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Đồng thời, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan trong việc rà soát nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá và bổ sung các quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về sử dụng, chứa chấp thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp với Bộ Y tế, Văn phòng Thường trực Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, các bộ, ngành và địa phương tổ chức phổ biến, tuyên truyền sâu rộng về tác hại của thuốc lá, đặc biệt là thuốc lá nhập lậu, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng đối với sức khỏe cộng đồng để cán bộ, công chức và Nhân dân hiểu, đồng thuận và không tham gia, tiếp tay cho hoạt động buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan liên quan nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá và bổ sung các quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định sử dụng, chứa chấp thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, đảm bảo đồng bộ với các quy định pháp luật khác có liên quan và phù hợp tình hình mới.

Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quyền sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) liên quan đến thuốc lá và sản phẩm thuốc lá. Siết chặt các quy định để bảo đảm an toàn, an ninh về dịch vụ bưu chính; tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện hoạt động lợi dụng dịch vụ bưu chính, thương mại điện tử để vận chuyển thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả và thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Bộ Tư pháp phối hợp với các bộ, ngành trong xây dựng, thẩm định, hoàn thiện pháp luật liên quan đến công tác chống buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Gắn trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã với công tác chống buôn lậu, mua bán, sử dụng trái phép thuốc lá

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các ngành, lực lượng chức năng địa phương (Công an, Hải quan, Bộ đội Biên phòng, Quản lý thị trường) tăng cường công tác nắm tình hình, tuần tra, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ địa bàn biên giới, cửa khẩu, địa bàn nội địa và không gian mạng, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng trên phạm vi địa bàn, lĩnh vực quản lý.

Quy định cụ thể nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã/phường/đặc khu trong việc xử lý các hành vi buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng. Gắn trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã/phường/đặc khu với công tác chống buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng trên địa bàn quản lý.

Quan tâm ưu tiên các dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nhất là tại các địa bàn khu vực vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới góp phần ổn định cuộc sống của người dân địa phương, kết hợp đổi mới nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để Nhân dân không bị lợi dụng, lôi kéo tham gia, tiếp tay cho các hành vi buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Thủ tướng Chính phủ đề nghị Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và hệ thống các cơ quan báo chí phối hợp với các bộ, ngành, lực lượng chức năng xây dựng chương trình chuyên đề truyền thông phù hợp, tăng thời lượng, tuyên truyền về những nguy hại của hoạt động buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức và Nhân dân; biểu dương những tấm gương tích cực, cách làm hay của các bộ, ngành, địa phương và Nhân dân; phê phán, lên án những hành vi tiêu cực, thiếu tinh thần trách nhiệm.

Đề nghị Hiệp hội Sản xuất và Tiêu thụ thuốc lá Việt Nam chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và các lực lượng chức năng trong việc trao đổi, cung cấp thông tin về các tổ chức, cá nhân có hành vi buôn lậu, vận chuyển, sản xuất, mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng; tăng cường hỗ trợ về kỹ thuật, truyền thông phù hợp theo quy định của pháp luật trong công tác phòng, chống buôn lậu, hàng giả là thuốc lá, thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Chỉ thị này thay thế Chỉ thị số 30/CT-TTg ngày 30/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu thuốc lá. Đề nghị các bộ, ngành, địa phương khẩn trương quán triệt, xây dựng kế hoạch để tổ chức triển khai đồng bộ, quyết liệt, kịp thời, có hiệu quả Chỉ thị này.

Nghị quyết về cơ chế đặc thù cho phép khai thác than vượt công suất

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 28/2026/NQ-CP ngày 9/6/2026 về cơ chế đặc thù cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác khoáng sản than đang còn hiệu lực nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 9/6/2026- Ảnh 2.

Bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong tình huống cấp bách, không làm gián đoạn nguồn cung than cho sản xuất điện và các ngành công nghiệp nền tảng

Nghị quyết này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép khai thác khoáng sản than; cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.

Nguyên tắc áp dụng cơ chế đặc thù

Theo Nghị quyết, việc áp dụng cơ chế đặc thù phải bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia trong tình huống cấp bách, không làm gián đoạn nguồn cung than cho sản xuất điện và các ngành công nghiệp nền tảng.

Việc khai thác vượt công suất không được vượt quá trữ lượng than đã được cơ quan có thẩm quyền cấp phép và sản lượng khai thác vượt chỉ được cung cấp, phục vụ cho sản xuất điện.

Bảo đảm quản lý chặt chẽ tài nguyên khoáng sản; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, an toàn và vệ sinh lao động.

Cơ chế khai thác vượt công suất

Nghị quyết nêu rõ, tổ chức, cá nhân được phép khai thác vượt không quá 15% công suất quy định trong giấy phép khai thác khoáng sản than mà không phải thực hiện thủ tục điều chỉnh nội dung giấy phép khai thác khoáng sản khi đáp ứng đầy đủ điều kiện quy định.

Việc khai thác vượt công suất chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký theo quy định tại Điều 5 Nghị quyết này. Tổng sản lượng than khai thác (bao gồm cả phần vượt công suất) không vượt trữ lượng than được phép khai thác và phải được theo dõi, giám sát, báo cáo định kỳ theo quy định.

Điều kiện áp dụng

Tổ chức, cá nhân chỉ được áp dụng cơ chế khai thác vượt công suất khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

1. Có giấy phép khai thác khoáng sản còn hiệu lực.

2. Có đủ năng lực kỹ thuật, bảo đảm thiết bị, công nghệ đáp ứng công suất khai thác tăng thêm.

3. Bảo đảm an toàn lao động, an toàn mỏ và bảo vệ môi trường.

4. Phần sản lượng than khai thác tăng thêm phải nằm trong phạm vi trữ lượng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, cấp phép. Sản lượng khoáng sản khai thác vượt chỉ được cung cấp, phục vụ cho sản xuất điện.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 9/6/2026 và được áp dụng đến hết ngày 31/12/2027.

Sau thời hạn trên, việc khai thác khoáng sản thực hiện theo quy định của giấy phép khai thác khoáng sản được cấp và theo quy định của pháp luật hiện hành.

Kế hoạch triển khai cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai trước năm 2024

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1020/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 9/6/2026- Ảnh 3.

Triển khai cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai xảy ra xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực

Nghị quyết số 29/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài (Nghị quyết) đã kịp thời thể chế các quan điểm, chủ trương của Bộ Chính trị tại các Kết luận số 182- KL/TW ngày 29/7/2025, Kết luận số 218-KL/TW ngày 24/11/2025 và Kết luận số 24-KL/TW ngày 13/4/2026, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, ban hành các chính sách đặc thù để xử lý dứt điểm các vi phạm pháp luật về đất đai và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài trên phạm vi toàn quốc.

Để việc triển khai thi hành Nghị quyết đồng bộ, thống nhất, kịp thời, hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết với mục đích phân công nhiệm vụ cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong việc thực hiện các hoạt động triển khai Nghị quyết theo quan điểm "06 rõ: rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ thời gian và rõ kết quả".

Đồng thời, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của bộ, ngành và địa phương, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc triển khai thi hành Nghị quyết, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, góp phần đưa các cơ chế, chính sách đặc thù, nguyên tắc, yêu cầu của Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả trong thực tiễn.

Tổ chức quán triệt, truyền thông, phổ biến Nghị quyết và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Nghị quyết

Theo Kế hoạch, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các Ủy ban của Quốc hội, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức hội nghị, tọa đàm, tài liệu phổ biến, tài liệu truyền thông Nghị quyết và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Nghị quyết.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan tổ chức hội nghị, tọa đàm, tài liệu phổ biến, tài liệu truyền thông, các bài đăng trên báo, tạp chí, phóng sự. Thời gian thực hiện: năm 2026.

Bộ Công an chủ trì, phối hợp các cơ quan liên ngành tư pháp Trung ương, Bộ Tư pháp và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án của Nghị quyết để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực. Thời gian thực hiện: tháng 8/2026.

Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Nghị định của Chính phủ sửa đổi, bổ sung quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực để thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù của Nghị quyết. Thời gian thực hiện: tháng 7/2026.

Trong tháng 7/2026, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù của Nghị quyết để xử lý kỷ luật đối với các cá nhân là cán bộ, chiến sỹ thuộc lực lượng vũ trang vi phạm pháp luật về đất đai nhưng không tham nhũng xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực.

Rà soát, xây dựng, ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới

Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, các cơ quan, tổ chức có liên quan rà soát, xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với Nghị quyết trong trường hợp cần thiết.

Thời gian thực hiện: Tiến hành rà soát các văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ theo lộ trình; thời hạn rà soát chậm nhất ngày 30/8/2026.

Các bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp gửi Danh mục văn bản cần sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới về cơ quan có thẩm quyền trong tháng 6/2026 theo quy định.

Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng và Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan, tổ chức có liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng, ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ thi hành Nghị quyết; tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị về Nghị quyết; kiểm tra, đôn đốc, theo dõi tình hình tổ chức thực hiện Nghị quyết và các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị quyết.

Quy định về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam 

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc vừa ký Quyết định số 30/2026/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 9/6/2026- Ảnh 4.

Việc tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Quyết định này gồm 4 chương, 18 điều quy định về hồ sơ, trình tự thủ tục xin phép tổ chức, xin chủ trương đăng cai hội nghị, hội thảo quốc tế và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân tham gia tổ chức và quản lý các hội nghị, hội thảo này.

15 hoạt động không thuộc phạm vi điều chỉnh

Các hoạt động sau đây không thuộc phạm vi điều chỉnh của Quyết định này, thực hiện theo quy định hiện hành của Đảng, Nhà nước:

a) Hội nghị quốc tế cấp người đứng đầu Đảng, Nhà nước;

b) Hội nghị, hội thảo quốc tế do Văn phòng Chủ tịch nước; Tòa án nhân dân; Viện kiểm sát nhân dân; Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; cơ quan của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Văn phòng Quốc hội; Kiểm toán nhà nước; Hội đồng nhân dân; các ban, cơ quan Đảng Trung ương; các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc trung ương; các đơn vị, tổ chức trực thuộc các cơ quan tại điểm này chủ trì tổ chức;

c) Hội nghị, hội thảo quốc tế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam;

d) Hội nghị, hội thảo quốc tế có nội dung bí mật nhà nước;

đ) Hội nghị, hội thảo quốc tế của các tổ chức tôn giáo;

e) Đại hội có yếu tố nước ngoài của các hội thành lập và hoạt động theo quy định pháp luật về tổ chức, hoạt động và quản lý hội;

g) Hội nghị, hội thảo có yếu tố nước ngoài về bán hàng đa cấp;

h) Hội nghị tổng kết, hội nghị triển khai công tác, hội nghị với khách hàng, cổ đông, nhà cung cấp có yếu tố nước ngoài của doanh nghiệp, hội nghị của các doanh nghiệp thuộc cùng một tập đoàn đa quốc gia nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và không có chủ đề, nội dung kiến nghị, sửa đổi chính sách, pháp luật của Việt Nam;

i) Đón, tiếp khách nước ngoài;

k) Họp báo quốc tế;

l) Lễ tưởng niệm, lễ kỷ niệm, lễ khai mạc, lễ bế mạc, lễ trao khen thưởng, lễ công bố sự kiện, lễ ký kết thỏa thuận hợp tác, hợp đồng kinh doanh, tiệc chiêu đãi, sự kiện giao lưu văn hóa, lễ hội có yếu tố nước ngoài;

m) Lễ khai giảng, lễ bế giảng, lễ trao bằng, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ có yếu tố nước ngoài;

n) Lớp học, khóa học, cuộc thi, buổi nói chuyện, thảo luận chuyên đề có yếu tố nước ngoài trong chương trình đào tạo đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định pháp luật có liên quan;

o) Hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư, hội chợ, triển lãm có yếu tố nước ngoài;

p) Việc cho phép cá nhân chủ trì hoặc tham dự hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam.

Nguyên tắc trong tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế

Quyết định quy định việc tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Không tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế có một trong các mục đích hoặc nội dung sau: tuyên truyền chống phá, xuyên tạc lịch sử, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xâm phạm an ninh quốc gia; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc; gây phương hại đến quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các đối tác; kích động chiến tranh, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo, lãnh tụ; phân biệt chủng tộc; vu khống, xâm hại uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; kích động bạo lực và các hành vi gây hại cho xã hội.

Tuân thủ quy định pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Thẩm quyền cho phép tổ chức, cho chủ trương đăng cai hội nghị, hội thảo quốc tế

Điều 5 của Quyết định quy định thẩm quyền cho phép tổ chức, cho chủ trương đăng cai hội nghị, hội thảo quốc tế như sau:

1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thẩm quyền cho phép tổ chức, cho chủ trương đăng cai hội nghị, hội thảo quốc tế của các cơ quan, tổ chức sau đây; hoặc phân cấp các thẩm quyền này cho tổ chức, đơn vị trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ:

a) Bộ, cơ quan ngang bộ và các đơn vị, tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ;

b) Các cơ quan, tổ chức Việt Nam do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập và giao cho bộ, cơ quan ngang bộ quản lý, trừ các trường hợp quy định tại điểm d khoản này;

c) Các tổ chức Việt Nam do cấp có thẩm quyền thuộc bộ, cơ quan ngang bộ cho phép thành lập, trừ các tổ chức quy định tại điểm d khoản này;

d) Các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động trong phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh, có lĩnh vực hoạt động chính thuộc phạm vi quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực của bộ, cơ quan ngang bộ theo quyết định của Bộ Nội vụ, bao gồm cả chi nhánh, văn phòng đại diện đặt tại địa phương và các tổ chức khoa học và công nghệ do các tổ chức này thành lập;

đ) Các cơ quan, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam do cấp có thẩm quyền của bộ, cơ quan ngang bộ cấp giấy phép, giấy đăng ký hoạt động hoặc được Chính phủ giao cho bộ, cơ quan ngang bộ quản lý.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền:

a) Cho phép tổ chức, cho chủ trương đăng cai hội nghị, hội thảo quốc tế của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; hoặc phân cấp các thẩm quyền này cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

b) Cho phép tổ chức, cho chủ trương đăng cai hội nghị, hội thảo quốc tế của Ủy ban nhân dân cấp xã; hoặc phân cấp các thẩm quyền này cho cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.

c) Cho phép tổ chức, cho chủ trương đăng cai các hội nghị, hội thảo quốc tế quy định tại khoản 4 Điều này của các tổ chức quy định tại các điểm a, b và c khoản 3 Điều này.

3. Cơ quan chuyên môn phụ trách công tác đối ngoại thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (riêng đối với Thành phố Hồ Chí Minh là cơ quan chuyên môn do Ủy ban nhân dân thành phố phân công) có thẩm quyền cho phép tổ chức, cho chủ trương đăng cai hội nghị, hội thảo quốc tế của các tổ chức sau:

a) Các tổ chức Việt Nam do cấp có thẩm quyền của địa phương cho phép thành lập hoặc cấp giấy đăng ký hoạt động;

b) Các hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, hoạt động trong phạm vi địa phương;

c) Chi nhánh, văn phòng đại diện của tổ chức nước ngoài do cấp có thẩm quyền của địa phương cho phép thành lập.

4. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không thực hiện phân cấp thẩm quyền cho phép tổ chức, cho chủ trương đăng cai các hội nghị, hội thảo quốc tế sau:

a) Hội nghị, hội thảo quốc tế có thành phần tham dự từ cấp Bộ trưởng trở lên của Việt Nam và nước ngoài;

b) Hội nghị, hội thảo quốc tế có chủ đề, nội dung liên quan đến ít nhất một trong các vấn đề biên giới, lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, an ninh quốc gia, quốc phòng, dân tộc, tôn giáo, quyền con người;

c) Hội nghị, hội thảo quốc tế có chủ đề, nội dung trực tiếp kiến nghị sửa đổi chính sách, pháp luật của Việt Nam;

d) Hội nghị, hội thảo quốc tế tổ chức theo hình thức trực tiếp tại các xã, phường, đặc khu trọng điểm về quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, dân quân tự vệ.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 24/7/2026 và thay thế Quyết định số 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam.

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng làm Chủ tịch Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 1021/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 về việc kiện toàn Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững (Hội đồng).

Theo Quyết định, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng làm Chủ tịch Hội đồng.

Phó Chủ tịch Hội đồng là Bộ trưởng Bộ Tài chính.

Các Ủy viên Hội đồng gồm:

- Đại diện lãnh đạo các bộ, cơ quan ngang bộ: Văn phòng Chính phủ; Bộ Tài chính; Bộ Công an; Bộ Ngoại giao; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Y tế; Bộ Xây dựng; Bộ Công Thương; Bộ Tư pháp; Bộ Nội vụ; Bộ Dân tộc và Tôn giáo; Thanh tra Chính phủ; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

- Đại diện lãnh đạo các cơ quan thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng: Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Đài Truyền hình Việt Nam; Đài Tiếng nói Việt Nam; Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

- Đại diện Lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội và cộng đồng doanh nghiệp: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.

Quyết định số 1022/QĐ-TTg phê duyệt danh sách thành viên Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững

Chức năng nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng

Hội đồng là tổ chức phối hợp liên ngành giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những công việc quan trọng, liên ngành để thực hiện phát triển bền vững tại Việt Nam.

Hội đồng có nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, tư vấn, khuyến nghị, đề xuất phương hướng, giải pháp để giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành liên quan đến phát triển bền vững tại Việt Nam, trong đó bao gồm: xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương, chiến lược, cơ chế, chính sách thực hiện phát triển bền vững trên phạm vi quốc gia; triển khai các cam kết toàn cầu về phát triển bền vững tại Việt Nam, trong đó bao gồm triển khai có hiệu quả Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững; đánh giá, tổng kết kết quả thực hiện phát triển bền vững trên phạm vi quốc gia và tổ chức định kỳ Hội nghị toàn quốc về phát triển bền vững.

Giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc giải quyết những vấn đề quan trọng, liên ngành liên quan đến phát triển bền vững tại Việt Nam.

Tổ chức và hoạt động của Hội đồng

Các thành viên Hội đồng làm việc theo Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng do Chủ tịch Hội đồng ban hành. Các thành viên Hội đồng làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, đề cao trách nhiệm cá nhân và được hưởng các chế độ theo quy định hiện hành.

Bộ phận tham mưu, giúp việc của Hội đồng gồm có Bộ Tài chính là Cơ quan thường trực Hội đồng và Tổng thư ký Hội đồng là một đại diện cấp Vụ thuộc Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm giúp việc cho Chủ tịch Hội đồng.

Bộ Tài chính sử dụng bộ máy hiện có để tổ chức thực hiện nhiệm vụ được Hội đồng giao, bảo đảm không làm phát sinh biên chế.

Các cơ quan có Ủy viên tham gia Hội đồng sử dụng bộ máy hiện có của mình để giúp việc Ủy viên Hội đồng trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo phân công của Chủ tịch Hội đồng.

Chủ tịch Hội đồng sử dụng con dấu của Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng sử dụng con dấu của Bộ Tài chính.

Bộ trưởng Bộ Tài chính có trách nhiệm báo cáo định kỳ theo Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng, báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ về tình hình hoạt động.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày ký ban hành và thay thế Quyết định số 560/QĐ-TTg ngày 25/6/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững.

Bổ sung thành viên Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 1034/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 về việc bổ sung thành viên Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06.

Cụ thể, Quyết định bổ sung Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng làm Ủy viên Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành (09/6/2026)./.