• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Định hình đối tượng nuôi chủ lực, mở hướng đi mới cho kinh tế biển

(Chinhphu.vn) - Trong bối cảnh ngành thủy sản đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ khai thác sang nuôi trồng bền vững, việc lựa chọn đối tượng nuôi biển phù hợp đang trở thành yếu tố then chốt nhằm nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của kinh tế biển Việt Nam.

21/04/2026 08:31
Định hình đối tượng nuôi chủ lực, mở hướng đi mới cho kinh tế biển- Ảnh 1.

Ông Nguyễn Quang Hùng, Cục trưởng Cục Kiểm ngư - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Nghiên cứu đối tượng mới, hướng tới xuất khẩu

Theo ông Nguyễn Quang Hùng, Cục trưởng Cục Kiểm ngư (Bộ NN&MT), trong giai đoạn trước mắt, ngành thủy sản vẫn cần tập trung phát triển các đối tượng nuôi truyền thống đã có nền tảng vững chắc về giống, quy trình và công nghệ.

Các loài như cá song, cá giò, cá vược, cá chẽm, cá chim trắng, hồng mỹ… hiện đã được nuôi phổ biến, có kỹ thuật tương đối ổn định và khả năng thương mại tốt. Đây là nhóm đối tượng đóng vai trò "trụ cột", góp phần duy trì sản lượng và tạo thu nhập ổn định cho người nuôi.

"Những đối tượng đã có quy trình công nghệ tốt, giống ổn định thì cần tiếp tục phát triển trước, hạn chế rủi ro trong sản xuất", ông Hùng nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, rong biển được đánh giá là một hướng đi nhiều tiềm năng. Không chỉ phục vụ xuất khẩu, mô hình nuôi rong biển còn có thể kết hợp với các đối tượng khác, góp phần cải thiện môi trường, hướng tới mô hình nuôi biển đa giá trị và bền vững.

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào các đối tượng truyền thống, ngành nuôi biển khó tạo ra đột phá. Do đó, việc nghiên cứu, lựa chọn các loài nuôi mới có giá trị kinh tế cao và tiềm năng xuất khẩu lớn là yêu cầu cấp thiết.

Ông Trần Thế Mưu, Phó Giám đốc Viện Khoa học thủy sản Việt Nam, cho biết thời gian qua, đơn vị đã tập trung nghiên cứu một số loài như cá chim, cá cam và cá nhụ.

Trong đó, cá chim đã cơ bản hoàn thiện công nghệ từ sản xuất giống đến nuôi thương phẩm. Đối với cá cam và cá nhụ, viện đã làm chủ công nghệ sản xuất giống và đang tiếp tục hoàn thiện quy trình nuôi.

"Chúng tôi đã thử nghiệm nuôi cá cam tại Cát Bà. Sau khoảng 8 tháng, cá đạt trọng lượng gần 1kg/con, sinh trưởng tốt, tuy nhiên tỷ lệ sống vẫn cần tiếp tục cải thiện. Viện đang nghiên cứu các yếu tố môi trường và quy trình kỹ thuật để nâng cao hiệu quả nuôi", ông Mưu cho biết.

Theo đánh giá, cá cam và cá nhụ là những loài có giá trị kinh tế cao, nhu cầu lớn tại các thị trường như Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Nhật Bản, Singapore. Nếu hoàn thiện công nghệ và nhân rộng mô hình, đây có thể trở thành nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực trong tương lai.

"Việc lựa chọn đúng đối tượng có thị trường là yếu tố quan trọng nhất để tạo đột phá cho nuôi biển", ông Mưu nhấn mạnh.

Bên cạnh các đối tượng tiềm năng đã được nghiên cứu, nhiều ý kiến cũng đề cập đến khả năng phát triển các loài có giá trị kinh tế cao như cá ngừ đại dương.

Theo ông Nguyễn Quang Hùng, trước đây ngành thủy sản đã thử nghiệm mô hình khai thác cá ngừ nhỏ (3–4kg/con) tại các ngư trường xa bờ, sau đó đưa về vịnh Nha Trang để nuôi thương phẩm đạt trọng lượng 50–60kg.

Trong thời gian tới, việc nghiên cứu sản xuất giống cá ngừ đại dương được xem là hướng đi có ý nghĩa quan trọng, giúp giảm áp lực khai thác tự nhiên và nâng cao giá trị chuỗi sản phẩm.

Tuy nhiên, đây là lĩnh vực khó, đòi hỏi đầu tư lớn về khoa học – công nghệ và thời gian nghiên cứu dài hạn.

Ngoài ra, việc nhập khẩu, thuần hóa và chọn tạo giống các loài thủy sản có giá trị cao từ nước ngoài cũng được đặt ra, song cần được tính toán kỹ lưỡng dựa trên điều kiện môi trường biển trong nước.

Định hình đối tượng nuôi chủ lực, mở hướng đi mới cho kinh tế biển- Ảnh 2.

Ông Trần Thế Mưu, Phó Giám đốc Viện Khoa học thủy sản Việt Nam - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Gắn lựa chọn đối tượng với thị trường và phát triển bền vững

Một trong những vấn đề được các chuyên gia đặc biệt lưu ý là phát triển nuôi biển phải gắn chặt với tín hiệu thị trường. Việc mở rộng ồ ạt một đối tượng khi chưa có đầu ra ổn định có thể dẫn đến tình trạng dư thừa nguồn cung, giá giảm, gây thiệt hại cho người nuôi.

Do đó, chiến lược phát triển cần có lộ trình rõ ràng, lựa chọn đối tượng theo từng giai đoạn, tránh chạy theo phong trào.

Cùng với đó, xu hướng nuôi biển hiện đại đang chuyển sang mô hình đa loài, kết hợp giữa cá, rong biển, nhuyễn thể… nhằm tối ưu hệ sinh thái, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và nâng cao hiệu quả kinh tế.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, lĩnh vực thủy sản có nguồn tài nguyên sinh học phong phú, đa dạng, do đó hoạt động nghiên cứu cần được triển khai theo hướng liên ngành, liên lĩnh vực và gắn với chuỗi giá trị.

"Một đề tài nghiên cứu không chỉ dừng ở quy mô vài tỷ đồng mà cần đầu tư hàng chục tỷ đồng để giải quyết toàn diện bài toán của một đối tượng nuôi, từ giống, quy trình nuôi, sinh trưởng đến chế biến và thị trường", ông Tiến cho biết.

Ông cũng dẫn chứng, rong biển hiện là nguyên liệu quan trọng trong công nghiệp thực phẩm và mỹ phẩm toàn cầu, song sản lượng chế biến còn hạn chế. Vì vậy, cần nghiên cứu đồng bộ từ phương thức nuôi, quy trình kỹ thuật đến chế biến để nâng cao sản lượng và chất lượng.

Việc xác định đúng đối tượng nuôi chủ lực và tiềm năng không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn góp phần tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, yêu cầu từ thị trường quốc tế ngày càng khắt khe, nuôi biển Việt Nam cần chuyển mạnh sang mô hình công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao, gắn với chuỗi giá trị và thị trường xuất khẩu.

Với sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và giới khoa học, cùng định hướng chính sách phù hợp, nuôi biển được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những trụ cột quan trọng của kinh tế nông nghiệp, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của đất nước trong những năm tới.

Đỗ Hương