Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Hình thành hạ tầng dữ liệu văn hóa số có khả năng liên thông, khai thác dùng chung trên toàn quốc
Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trong lĩnh vực văn hóa, chuyển đổi số không chỉ là số hóa tài liệu, hồ sơ, hiện vật hoặc đưa một số hoạt động lên môi trường mạng. Chuyển đổi số văn hóa là quá trình tái cấu trúc toàn diện hoạt động bảo tồn, sáng tạo, sản xuất, phân phối, lưu thông, thương mại hóa các sản phẩm và dịch vụ văn hoá số, tiếp cận và trải nghiệm văn hóa trên môi trường số.
Theo dự thảo, hạ tầng văn hóa số là hệ thống gồm hạ tầng kỹ thuật số, hạ tầng dữ liệu văn hóa số, nền tảng và dịch vụ văn hóa số, không gian văn hóa số cùng cơ chế quản trị phục vụ hoạt động văn hóa trên môi trường số.
Thực tiễn hiện nay cho thấy điểm nghẽn lớn nhất của chuyển đổi số văn hóa không còn nằm chủ yếu ở thiếu thiết bị hoặc hạ tầng kỹ thuật, mà nằm ở dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn hóa, thiếu metadata, thiếu mã định danh thống nhất, thiếu khả năng liên thông, thiếu truy xuất nguồn gốc dữ liệu, thiếu khả năng sử dụng lại và chưa hình thành được hệ sinh thái dữ liệu dùng chung phục vụ quản lý nhà nước, bảo tồn, sáng tạo số, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo.
Dự thảo Nghị định được xây dựng không nhằm điều chỉnh hạ tầng công nghệ thông tin hoặc hạ tầng kỹ thuật theo nghĩa truyền thống, cũng không làm lại các quy định chung về dữ liệu, đầu tư công, viễn thông, giao dịch điện tử hoặc an toàn thông tin mạng.
Mục tiêu cốt lõi của dự thảo Nghị định là thiết lập khung quản trị đối với hạ tầng dữ liệu văn hóa số và hệ sinh thái văn hóa số hình thành trên hạ tầng dữ liệu đó; bảo đảm dữ liệu văn hóa số được tạo lập, chuẩn hóa, quản trị, chia sẻ, khai thác và bảo vệ phù hợp với đặc thù văn hóa; đồng thời tạo điều kiện để dữ liệu văn hóa số trở thành nền tảng cho sáng tạo số, công nghiệp văn hóa, trí tuệ nhân tạo và phát triển không gian văn hóa số.
Việc ban hành Nghị định nhằm thiết lập khung pháp lý thống nhất đối với hạ tầng dữ liệu văn hóa số và hệ sinh thái văn hóa số trên môi trường số; tạo cơ sở pháp lý để dữ liệu văn hóa số được tạo lập, chuẩn hóa, quản trị, kết nối, chia sẻ, khai thác và bảo vệ phù hợp với đặc thù của lĩnh vực văn hóa.
Nghị định hướng tới mục tiêu hình thành hạ tầng dữ liệu văn hóa số thống nhất, có khả năng liên thông, tái sử dụng và khai thác dùng chung trên phạm vi toàn quốc; khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn hóa, thiếu metadata, thiếu khả năng liên thông và thiếu quản trị thống nhất trong lĩnh vực văn hóa.
Thông qua việc xác lập dữ liệu văn hóa số như một lớp hạ tầng nền tảng của môi trường văn hóa số, Nghị định tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển các nền tảng văn hóa số, sản phẩm văn hóa số, dịch vụ văn hóa số, không gian văn hóa số, công nghiệp văn hóa số và các hệ thống trí tuệ nhân tạo khai thác dữ liệu văn hóa số.
Nghị định đồng thời hướng tới mục tiêu tạo lập hệ sinh thái dữ liệu văn hóa số tin cậy (hệ sinh thái dữ liệu văn hoá tin cậy - trusted cultural data ecosystem), trong đó việc khai thác, chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu được thực hiện trên cơ sở bảo đảm metadata, nguồn gốc dữ liệu, khả năng truy xuất nguồn gốc, bảo vệ ngữ cảnh văn hóa, quyền sở hữu trí tuệ và quyền, lợi ích hợp pháp của cộng đồng, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Ngoài ra, Nghị định còn nhằm cụ thể hóa các quy định của Quốc hội, các luật có liên quan và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về phát triển hạ tầng văn hóa số, chuyển đổi số văn hóa, công nghiệp văn hóa và phát triển không gian văn hóa số trong giai đoạn mới.
Dự thảo Nghị định được xây dựng trên quan điểm dữ liệu văn hóa số không chỉ là dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước mà đã trở thành lớp hạ tầng nền tảng quyết định khả năng vận hành của môi trường văn hóa số.
Theo đó, hạ tầng văn hóa số được tiếp cận như một cấu trúc nhiều lớp, trong đó lớp hạ tầng vật lý và kỹ thuật tiếp tục thực hiện theo các quy định pháp luật chuyên ngành hiện hành, còn trọng tâm điều chỉnh của Nghị định là lớp hạ tầng dữ liệu văn hóa số và lớp nền tảng, hệ sinh thái văn hóa số hình thành trên dữ liệu.
Theo dự thảo, Nghị định không đặt mục tiêu điều chỉnh lại hoặc thay thế các quy định hiện hành về viễn thông, internet, công nghệ thông tin, dữ liệu, chuyển đổi số, giao dịch điện tử, an toàn thông tin mạng hoặc an ninh mạng.
Các nội dung liên quan đến hạ tầng kỹ thuật, trung tâm dữ liệu, mạng truyền dẫn, điện toán đám mây, nền tảng kỹ thuật cơ bản và an toàn hệ thống thông tin tiếp tục thực hiện theo pháp luật chuyên ngành tương ứng.
Nghị định tập trung cụ thể hóa cách áp dụng các nguyên tắc chung đối với lĩnh vực văn hóa – là lĩnh vực có tính đặc thù cao về dữ liệu, ngữ cảnh văn hóa, quyền cộng đồng, quyền sở hữu trí tuệ và giá trị nguyên gốc của dữ liệu.
Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định được xây dựng trên quan điểm dữ liệu văn hóa số vừa phải được bảo tồn, lưu giữ và bảo vệ lâu dài, vừa phải có khả năng kết nối, chia sẻ, tái sử dụng và khai thác để tạo ra giá trị mới cho xã hội, công nghiệp văn hóa và đổi mới sáng tạo.
Việc quản trị dữ liệu văn hóa số phải bảo đảm hài hòa giữa: bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa; chia sẻ dữ liệu và bảo vệ dữ liệu; khai thác dữ liệu và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền cộng đồng; phát triển trí tuệ nhân tạo và bảo vệ nguồn gốc dữ liệu, metadata và ngữ cảnh văn hóa.
Dự thảo Nghị định cũng được xây dựng theo hướng chuyển từ tư duy quản lý cơ sở dữ liệu theo nghĩa truyền thống sang quản trị hệ sinh thái dữ liệu văn hóa số.
Theo đó, trọng tâm không chỉ là lưu trữ và quản lý dữ liệu, mà là tạo điều kiện để dữ liệu có khả năng: kết nối; liên thông; sử dụng lại; truy xuất nguồn gốc; khai thác phục vụ sáng tạo số, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo.
Nghị định đồng thời thiết lập các cơ chế quản trị hiện đại như: metadata; truy xuất nguồn gốc dữ liệu; dữ liệu tái sử dụng - reusable data; API dùng chung; hệ sinh thái dữ liệu tin cậy; sandbox dữ liệu; quản trị bằng điều kiện tham gia hệ sinh thái dữ liệu.
Dự thảo Nghị định xây dựng theo hướng khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân vào việc tạo lập, khai thác và phát triển hệ sinh thái dữ liệu văn hóa số; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo trên cơ sở khai thác dữ liệu văn hóa số.
Bên cạnh đó, việc phát triển hệ sinh thái dữ liệu văn hóa số phải được thực hiện theo cơ chế mở có kiểm soát, bảo đảm dữ liệu văn hóa số không bị khai thác sai lệch, làm mất ngữ cảnh văn hóa hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và cộng đồng.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang lấy ý kiến đối với dự thảo này trên Cổng TTĐT của Bộ.
Minh Hiển