Bài 2: Khi cả cánh đồng cùng thay đổi
(Chinhphu.vn) - Những thay đổi lớn của Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp đã hiện hữu ngay trên đồng ruộng. Từ gieo sạ, bón phân, quản lý nước đến sử dụng drone và nhật ký điện tử, mỗi thay đổi đang tạo nên một phương thức sản xuất mới, nơi cả cánh đồng cùng vận hành theo một quy trình.

Drone vận hành trên vùng lúa liên kết theo Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại xã Định Mỹ, tỉnh An Giang - Ảnh: VGP/LS
Sau cánh bay của drone
Tại vùng nguyên liệu Thoại Sơn, tỉnh An Giang, mỗi lần drone chuẩn bị cất cánh, nông dân đứng trên bờ ruộng theo dõi. Nhiều người dùng điện thoại ghi lại đường bay, có người hỏi kỹ sư về lượng thuốc và thời gian hoàn thành. Khung cảnh ấy khác xa những ngày đầu, khi nhiều người cho rằng thiết bị không người lái chỉ là "đồ diễn".
Kỹ sư Cao Hoàng Tín, Tổ trưởng vùng nguyên liệu phụ trách địa bàn Thoại Sơn, nhớ có nông dân không đồng ý cho drone bay trên ruộng vì lo cánh quạt làm đổ lúa, thuốc không phủ đều hoặc chi phí cao hơn phun thủ công. Các kỹ sư đưa thiết bị vào cánh đồng mô hình để bà con quan sát. Sau mỗi chuyến bay, nông dân xuống ruộng kiểm tra độ phủ của thuốc, tình trạng cây lúa và so sánh với phương pháp cũ.
Qua vài vụ, những người từng đứng ngoài bắt đầu đăng ký dịch vụ. Họ bớt cảnh mang bình thuốc nặng đi giữa ruộng và giảm tiếp xúc trực tiếp với thuốc bảo vệ thực vật. Theo kỹ sư Tín, điều đáng mừng là những người từng phản đối nay lại giới thiệu công nghệ cho hộ khác.
Ông Huỳnh Văn Thòn, Chủ tịch Tập đoàn Lộc Trời nhìn công nghệ rộng hơn là một thiết bị. Theo ông, drone, hệ thống quản lý trang trại, dữ liệu số và quản lý nước ngập-khô xen kẽ đều nhằm giúp nông dân giảm chi phí, giảm lao động, kiểm soát sản xuất tốt hơn và tạo ra sản phẩm có thể truy xuất nguồn gốc. "Công nghệ không thay thế người nông dân mà giúp người nông dân làm nông hiệu quả hơn", ông Thòn nhấn mạnh.
Drone chỉ phát huy hết giá trị trên một vùng sản xuất đồng bộ. Đằng sau mỗi chuyến bay của thiết bị là sự thống nhất về lịch thời vụ, kỹ thuật và trách nhiệm của những người cùng sản xuất. Công nghệ không đi trước sự đồng thuận, mà chỉ trở thành công cụ hiệu quả khi cả cánh đồng đã chấp nhận cùng vận hành theo một nhịp sản xuất.

Công nghệ sạ hàng kết hợp vùi phân giúp giảm giống, tiết kiệm nước tưới và giảm phát thải khí nhà kính so với canh tác truyền thống đang ngày càng được mở rộng ở nhiều địa phương - Ảnh: VGP/LS
Làm ruộng không chỉ bằng thói quen, kinh nghiệm
Trong khi nhiều thửa ruộng xung quanh ngập nước, cánh đồng của xã Định Mỹ chỉ còn một lớp nước mỏng. Người lần đầu chứng kiến thường lo cây lúa thiếu nước, nhưng với những hộ tham gia mô hình, đây là một phần của quy trình quản lý nước theo từng giai đoạn sinh trưởng.
Ông Trương Thanh Hà kể trước đây cứ thấy mặt ruộng cạn hơn bình thường là ông vội bơm nước vào. Giữ ruộng đầy nước tạo cảm giác an toàn và đây là cách nhiều thế hệ nông dân vẫn làm. Chỉ sau khi được kỹ sư hướng dẫn và tự theo dõi phản ứng của cây lúa, ông mới quen với việc điều tiết nước phù hợp thay vì duy trì ngập liên tục.
Tại Cà Mau, ông Nguyễn Trần Thức, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh, cho rằng quản lý nước ngập-khô xen kẽ, cùng với giảm giống, giảm phân và chuyển đổi cách sử dụng phân bón hóa học, giúp giảm đáng kể chi phí đầu vào. Theo ông, tiến bộ kỹ thuật này còn góp phần nâng năng suất, chất lượng lúa; sản phẩm tại các mô hình được doanh nghiệp bao tiêu với giá cao hơn, mức chênh lệch hiện ghi nhận khoảng 10%.
Ông Thức cũng chỉ rõ không phải vùng nào cũng có thể áp dụng đầy đủ ngay từ đầu. Cà Mau nằm cuối nguồn sông Mekong, nhiều khu vực chịu ảnh hưởng của nước mặn, hạn hán, triều cường và hệ thống thủy lợi chưa hoàn chỉnh. Vì thế, quy trình phải được vận dụng theo điều kiện từng vùng, thay vì sao chép máy móc một mô hình đã thành công ở nơi khác.
TS. Clemen Gehlhar, chuyên gia nông nghiệp, Quản lý Dự án sử dụng phân bón đúng của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), cho rằng sản xuất lúa bền vững không phải tập hợp những biện pháp rời rạc. Giảm giống, sử dụng phân bón hợp lý, quản lý nước hiệu quả và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật là các mắt xích bổ trợ lẫn nhau để nâng hiệu quả kinh tế, giảm tác động đến môi trường.
Việc thay đổi cách giữ nước cũng làm thay đổi cách người nông dân nhìn nhận cả vụ lúa. Nước không còn được bơm vào ruộng chỉ để tạo cảm giác yên tâm, mà trở thành một nguồn lực cần được tính toán theo sự phát triển của cây, điều kiện đồng ruộng và mục tiêu giảm chi phí, giảm phát thải.

Các kỹ sư cập nhật nhật ký điện tử ghi lại quá trình canh tác, tạo cơ sở truy xuất nguồn gốc và từng bước đo đếm phát thải - Ảnh: VGP/LS
Nhật ký điện tử ghi dấu từng vụ lúa
Sau một ngày xuống đồng, công việc cuối ngày của các kỹ sư là hướng dẫn bà con nhập nhật ký điện tử: Ngày xuống giống, lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và các công việc đã thực hiện trên ruộng.
Với nhiều nông dân, đây từng là thao tác xa lạ. Nhưng trong vùng nguyên liệu chất lượng cao, phát thải thấp, một hạt lúa không chỉ cần đạt năng suất mà còn phải chứng minh được sản xuất thế nào. Nhật ký trở thành dữ liệu của cả vụ mùa, phục vụ truy xuất nguồn gốc và từng bước đo đếm phát thải.
Theo ông Lê Hữu Toàn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, qua gần 40 mô hình, nông dân đã chuyển rõ từ sản xuất theo kinh nghiệm sang sản xuất theo quy trình kỹ thuật và liên kết chuỗi giá trị. Bà con làm quen với giảm giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới; thu gom hoặc xử lý rơm rạ tại ruộng; tuân thủ tiêu chuẩn giảm phát thải và quan tâm nhiều hơn đến chất lượng hạt lúa thay vì chỉ chú trọng năng suất.
Ông Lê Hữu Toàn xác định quản lý nhật ký sản xuất là một nhiệm vụ của hợp tác xã. Khi lịch thời vụ, vật tư sử dụng và diễn biến sản xuất được ghi nhận đồng bộ, các bên mới có cơ sở giám sát quy trình, truy xuất sản phẩm và kết nối thị trường.
Theo đó, nhật ký điện tử không thay người trồng lúa, nhưng khiến mọi thao tác trên cánh đồng minh bạch hơn và giúp vùng nguyên liệu bước khỏi lối sản xuất manh mún, nhỏ lẻ. Từ những ghi chép tưởng tỉ mỉ, một cánh đồng có thể được quản lý như một đơn vị sản xuất thống nhất, thay vì tập hợp những thửa ruộng riêng lẻ.
Một vụ lúa, nhiều thước đo
Tại An Giang, ông Lê Hữu Toàn cho biết gần 40 mô hình đều ghi nhận hiệu quả tích cực: Chi phí đầu vào giảm khoảng 3,3-5 triệu đồng/ha, lợi nhuận tăng thêm khoảng 3,6-9,3 triệu đồng/ha; một số phép đo thí điểm ghi nhận mức giảm phát thải từ 7,56-8,11 tấn CO₂ tương đương/ha.
Giá trị của mô hình còn thể hiện ở việc giảm lượng vật tư đầu vào, giảm công lao động, nâng chất lượng hạt lúa, xử lý rơm rạ hiệu quả hơn và đo đếm được phát thải.
Theo ông Nguyễn Trần Thức, bối cảnh giá vật tư, nhiên liệu tăng khiến nông dân Cà Mau đặc biệt quan tâm đến Đề án. Khi giảm đầu vào mà năng suất, chất lượng vẫn tăng, bà con nhìn thấy lợi ích ngay trong vụ mùa hiện tại. Nhưng ông cũng lưu ý hiệu quả kỹ thuật chưa đủ nếu vùng sản xuất thiếu hạ tầng, năng lực hợp tác xã còn yếu và liên kết tiêu thụ chưa tương xứng.
Một cánh đồng có thể cùng giảm giống, quản lý nước, sử dụng drone và ghi nhật ký điện tử; nhưng để hàng trăm hộ duy trì kỷ luật ấy qua nhiều mùa vụ, cần một đầu mối tổ chức, điều phối và kết nối với thị trường. Sau câu hỏi "cánh đồng thay đổi thế nào" là câu hỏi lớn hơn: Ai giữ cho cả cánh đồng cùng đi chung một nhịp?
Lê Sơn
Bài 3: Ai 'giữ nhịp' cánh đồng 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao?