Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 25/6/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 25/6/2026.

Chính phủ ban hành Nghị định số 223/2026/NĐ-CP quy định về tàu bay và khai thác tàu bay
Quy định về tàu bay và khai thác tàu bay
Chính phủ ban hành Nghị định số 223/2026/NĐ-CP quy định về tàu bay và khai thác tàu bay, trong đó quy định cụ thể về Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay, duy trì đủ điều kiện bay liên tục.
Phải luôn tuân thủ đầy đủ và duy trì liên tục các điều kiện an toàn theo quy định
Trong đó, Nghị định quy định tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động liên quan đến tàu bay và khai thác tàu bay phải luôn tuân thủ đầy đủ và duy trì liên tục các điều kiện an toàn theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng.
Tổ chức, cá nhân nêu trên có trách nhiệm:
- Tuân thủ và duy trì liên tục các quy định và giới hạn hoạt động được ghi trong giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận, quyết định phê chuẩn, công nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp;
- Khi không đáp ứng các quy định và giới hạn hoạt động được ghi trong giấy phép, giấy chứng nhận, giấy xác nhận, quyết định phê chuẩn, công nhận do cơ quan có thẩm quyền cấp thì phải tạm dừng hoạt động cho đến khi đáp ứng đầy đủ;
- Khi có kế hoạch thay đổi phạm vi hoạt động, năng định được phê chuẩn, nguồn lực, tổ chức bộ máy mà ảnh hưởng đến yêu cầu, tiêu chuẩn là cơ sở của việc cấp phép, phê chuẩn thì tổ chức, cá nhân chỉ được áp dụng thực hiện sự thay đổi sau khi được Nhà chức trách hàng không Việt Nam phê chuẩn; tổ chức, cá nhân phải bảo đảm đầy đủ các nguồn lực và điều kiện cần thiết để cơ quan có thẩm quyền thực hiện công tác phê chuẩn và kiểm tra, giám sát an toàn theo quy định của pháp luật về hàng không dân dụng;
- Thực hiện đầy đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường và phòng, chống cháy nổ theo quy định của pháp luật;
- Thiết lập, quản lý, lưu giữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu, dữ liệu liên quan đến hoạt động tàu bay và khai thác tàu bay bằng ngôn ngữ tiếng Việt hoặc ngôn ngữ của quốc gia thiết kế tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay dưới hình thức văn bản giấy hoặc điện tử, nếu đáp ứng các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và an ninh mạng;
- Thực hiện theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước, cá nhân có thẩm quyền trong việc tiếp cận để thực hiện kiểm tra, giám sát an toàn đối với tàu bay và khai thác tàu bay, bao gồm cả trách nhiệm cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến hoạt động khai thác của tổ chức theo quy định của pháp luật;
- Lưu giữ, niêm yết giấy chứng nhận tổ chức công khai, rõ ràng tại trụ sở chính. Không được phép thực hiện quảng cáo sai lệch so với phạm vi hoạt động được Nhà chức trách hàng không Việt Nam phê chuẩn hoặc công nhận.
Quy định về Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay
Nghị định quy định Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay bao gồm: Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay tiêu chuẩn, Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay đặc biệt và Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay xuất khẩu.
Trong đó, Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay tiêu chuẩn chỉ được cấp, công nhận cho tàu bay thuộc loại đã được Nhà chức trách hàng không Việt Nam cấp hoặc công nhận Giấy chứng nhận loại để nhập khẩu vào Việt Nam.
Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay tiêu chuẩn cho tàu bay đăng ký quốc tịch Việt Nam được Nhà chức trách hàng không Việt Nam cấp, công nhận, cấp lại, sửa đổi, gia hạn cho từng tàu bay trên cơ sở kết quả kiểm tra, đánh giá hồ sơ của tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang thiết bị tàu bay đáp ứng yêu cầu thiết kế của các tiêu chuẩn đủ điều kiện bay phù hợp về kỹ thuật và môi trường do Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định.
Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay tiêu chuẩn bị mất hiệu lực khi tàu bay không đáp ứng các yêu cầu về đủ điều kiện bay theo quy định; tàu bay không được phép bay cho đến khi được khôi phục lại tình trạng đủ điều kiện bay.
Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay đặc biệt được Nhà chức trách hàng không Việt Nam cấp, công nhận, cấp lại, sửa đổi, gia hạn cho tàu bay chưa đáp ứng yêu cầu của Quốc gia thiết kế để cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay tiêu chuẩn hoặc tàu bay đang trong quá trình thử nghiệm hoặc tàu bay sử dụng cho mục đích chuyên biệt của tổ chức, cá nhân như sau: 1-Nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, bay thử hoặc chứng minh sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn, yêu cầu chứng nhận; 2- Huấn luyện thành viên tổ lái, tổ bay; bay kiểm tra, đánh giá kỹ thuật; bay kiểm tra sau bảo dưỡng, sửa chữa hoặc thay đổi thiết kế; 3- Bay về căn cứ bảo dưỡng hoặc sơ tán tàu bay khỏi khu vực đang bị đe dọa bởi mối nguy hiểm; 4- Hoạt động hàng không chuyên dùng.
Giấy chứng nhận lắp đặt thiết bị vô tuyến điện tàu bay được Nhà chức trách hàng không Việt Nam cấp, gia hạn cùng với Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay tiêu chuẩn và Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay đặc biệt phù hợp với quy định về quản lý thiết bị vô tuyến điện.
Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay xuất khẩu chỉ được Nhà chức trách hàng không Việt Nam cấp cho từng tàu bay khi nhận được đề nghị của tổ chức, cá nhân nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu quốc gia nhập khẩu và trước khi xóa đăng ký quốc tịch Việt Nam.
Thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay
Nghị định quy định khi cấp lần đầu, Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay tiêu chuẩn có thời hạn hiệu lực 12 tháng kể từ ngày cấp đối với tàu bay đã qua sử dụng và có thời hạn hiệu lực 24 tháng đối với tàu bay mới sản xuất; Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay đặc biệt khi cấp, công nhận, gia hạn, cấp lại do hết hạn có thời hạn hiệu lực không quá 12 tháng kể từ ngày cấp.
Khi gia hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay tiêu chuẩn có thời hạn hiệu lực không quá 24 tháng kể từ ngày hết hạn tùy thuộc vào kết quả của chương trình kiểm tra, giám sát của Nhà chức trách hàng không Việt Nam đối với tàu bay.
Khi cấp lại do hết hạn Giấy chứng nhận đủ điều kiện bay tiêu chuẩn có thời hạn hiệu lực không quá 24 tháng kể từ ngày cấp tùy thuộc vào kết quả của chương trình kiểm tra, giám sát của Nhà chức trách hàng không Việt Nam đối với tàu bay.
Giấy chứng nhận lắp đặt thiết bị vô tuyến điện tàu bay có cùng thời hạn hiệu lực với giấy chứng nhận đủ điều kiện bay tiêu chuẩn và giấy chứng nhận đủ điều kiện bay đặc biệt.
Duy trì đủ điều kiện bay liên tục
Để duy trì đủ điều kiện bay liên tục, tàu bay phải được:
1. Bảo dưỡng theo chương trình bảo dưỡng được Quốc gia đăng ký tàu bay phê chuẩn phù hợp với các yêu cầu bảo dưỡng của thiết kế loại của tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang thiết bị tàu bay.
2. Tuân thủ đầy đủ các chỉ lệnh đủ điều kiện bay của tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang thiết bị tàu bay do Nhà chức trách hàng không Việt Nam, quốc gia thiết kế, sản xuất tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay ban hành hoặc công nhận.
3. Kiểm soát cấu hình tàu bay theo dữ liệu thiết kế.
4. Thiết lập và lưu trữ đầy đủ hồ sơ bảo dưỡng theo quy định của Bộ Xây dựng.
5. Bảo dưỡng và ký xác nhận hoàn thành bởi nhân viên kỹ thuật bảo dưỡng tàu bay, tổ chức bảo dưỡng hoặc người khai thác có hệ thống bảo dưỡng tương đương được Nhà chức trách hàng không Việt Nam phê chuẩn hoặc công nhận.
6. Bảo dưỡng, khai thác tuân thủ theo dữ liệu bảo dưỡng, tài liệu kỹ thuật, tài liệu khai thác được Nhà chức trách hàng không Việt Nam phê chuẩn hoặc công nhận.
7. Thực hiện báo cáo cho tổ chức chịu trách nhiệm thiết kế tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay, tổ chức thiết kế thay đổi thiết kế hoặc sửa chữa về các hỏng hóc, trục trặc, khiếm khuyết và sự cố có thể ảnh hưởng đến việc duy trì tiêu chuẩn đủ điều kiện bay liên tục của tàu bay.
8. Các trang thiết bị lắp trên tàu bay phải có giấy chứng nhận cho phép khai thác và phù hợp với thiết kế loại. Việc thay đổi thiết kế, trang thiết bị lắp trên tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay so với thiết kế loại phải được Nhà chức trách hàng không Việt Nam phê chuẩn, công nhận ngoại trừ trường hợp thay đổi thiết kế do tổ chức chịu trách nhiệm thiết kế loại ban hành.
9. Tất cả hướng dẫn thay đổi thiết kế, sửa chữa trên tàu bay đăng ký quốc tịch Việt Nam phải được ban hành bởi các tổ chức thiết kế, tổ chức bảo dưỡng được Nhà chức trách hàng không Việt Nam phê chuẩn hoặc công nhận.
10. Động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và các trang thiết bị tàu bay lắp lên tàu bay đăng ký quốc tịch Việt Nam trong quá trình bảo dưỡng, sửa chữa phải được bảo dưỡng, sửa chữa tại tổ chức bảo dưỡng được Nhà chức trách hàng không Việt Nam phê chuẩn hoặc công nhận.
11. Động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay, các trang thiết bị tàu bay, vật tư bảo dưỡng tàu bay phải có các chứng chỉ, chứng nhận phù hợp và có khả năng truy xuất nguồn gốc đến cơ sở sản xuất, cơ sở bảo dưỡng lần gần nhất, cơ sở cung cấp; các thiết bị có thọ mệnh phải đảm bảo đầy đủ hồ sơ bảo dưỡng để có thể truy xuất được quá trình lắp đặt và sử dụng từ lúc sản xuất.
12. Nội dung về duy trì đủ điều kiện bay liên tục thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
Các quy định trên có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Cơ chế đặc thù đưa 2 Bệnh viện Bạch Mai và Việt Đức cơ sở Ninh Bình vào vận hành
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 32/2026/NQ-CP ngày 25/6/2026 ban hành cơ chế, chính sách bảo đảm đưa Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cơ sở Ninh Bình vào vận hành.
Nghị quyết này quy định một số cơ chế, chính sách bảo đảm đưa Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cơ sở Ninh Bình vào vận hành, gồm: xếp cấp chuyên môn; ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; chuyển người bệnh, mẫu bệnh phẩm giữa cơ sở Hà Nội và cơ sở Ninh Bình của Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; hỗ trợ từ ngân sách nhà nước trong giai đoạn đầu vận hành; trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương và cơ quan, đơn vị liên quan trong tổ chức thực hiện.
Đối tượng áp dụng: Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc tổ chức thực hiện Nghị quyết này.
Áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù
Nghị quyết nêu rõ: Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức được tổ chức hoạt động theo mô hình bệnh viện có nhiều cơ sở hoạt động, mỗi cơ sở được cấp một giấy phép hoạt động độc lập theo quy định tại Nghị định số 96/2023/NĐ-CP ngày 30/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, trong đó Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cơ sở Ninh Bình được áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù sau đây:
Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cơ sở Ninh Bình được xếp cấp chuyên môn kỹ thuật tương ứng với cấp chuyên môn kỹ thuật của Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức ngay từ khi thực hiện cấp giấy phép hoạt động lần đầu.
Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức được ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế với Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội để thực hiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế cho cả cơ sở Hà Nội và cơ sở Ninh Bình.
Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức được chuyển trực tiếp người bệnh giữa cơ sở Hà Nội và cơ sở Ninh Bình; được chuyển mẫu bệnh phẩm giữa cơ sở Hà Nội và cơ sở Ninh Bình để thực hiện dịch vụ cận lâm sàng mà không phải ký hợp đồng giữa các cơ sở.
Đối với Bảng kê nhân lực trong hồ sơ đề nghị ký Hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế: Sử dụng bảng kê nhân lực chung của bệnh viện cho cả cơ sở Hà Nội và cơ sở Ninh Bình tại thời điểm gửi hồ sơ đề nghị ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
Giám đốc Bệnh viện được phân công nhân lực làm việc giữa cơ sở Hà Nội và cơ sở Ninh Bình, bảo đảm nguyên tắc tại một thời điểm mỗi người hành nghề chỉ được hành nghề tại một cơ sở; cập nhật danh mục liên thông dữ liệu khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế lên Hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Mức hỗ trợ thu hút nhân lực tới 15,6 triệu đồng/người/tháng
Bên cạnh đó, Ngân sách nhà nước hỗ trợ một số khoản chi đặc thù sau:
Hỗ trợ kinh phí thực hiện công tác đào tạo theo yêu cầu chuyên môn, phù hợp với từng nhóm đối tượng và vị trí việc làm bảo đảm nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xếp cấp chuyên môn kỹ thuật chuyên sâu tại Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Hỗ trợ chi đặc thù đối với viên chức, người lao động:
Hỗ trợ chi phí vận chuyển hàng ngày tối đa 3.600.000 đồng/01 xe 45 chỗ/01 ngày để đưa đón viên chức, người lao động giữa 2 cơ sở (cơ sở Hà Nội và cơ sở Ninh Bình) thuộc Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức theo phân công của Giám đốc Bệnh viện và có nhu cầu vận chuyển.
Hỗ trợ chi phí thuê nhà lưu trú tối đa 2.500.000 đồng/người/tháng đối với viên chức, người lao động được Giám đốc Bệnh viện quyết định phân công làm việc có thời hạn tại Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cơ sở Ninh Bình và có nhu cầu thuê nhà ở. Không thực hiện hỗ trợ đối với người tuyển dụng vào làm việc thường xuyên tại cơ sở Ninh Bình.
Hỗ trợ chi thu hút nhân lực đối với viên chức, người lao động được Giám đốc Bệnh viện quyết định phân công làm việc có thời hạn tại Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cơ sở Ninh Bình; viên chức, người lao động được tuyển dụng và các đối tượng khác theo yêu cầu hoạt động của cơ sở Ninh Bình. Giám đốc Bệnh viện quyết định mức hỗ trợ cụ thể đảm bảo thu hút nhân lực cho cơ sở Ninh Bình; mức hỗ trợ tối đa bằng mức thu nhập tăng thêm của Bệnh viện cơ sở Hà Nội nhưng không quá mức quy định sau:

Ngân sách nhà nước hỗ trợ các khoản chi đặc thù nêu trên từ khi cơ sở Ninh Bình của Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đi vào hoạt động đến khi cơ sở Ninh Bình tự đảm bảo được chi phí thường xuyên và cân đối được các khoản chi đặc thù theo quy định tại Nghị quyết này.
Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành đến hết ngày 31/12/2028.
Triển khai đầu tư, xây dựng các trạm dừng nghỉ trên các tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông
Văn phòng Chính phủ có Văn bản số 5973/VPCP-CN ngày 24/6/2026 gửi Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương và Ủy ban nhân dân các tỉnh Lâm Đồng, Gia Lai, An Giang truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc về việc triển khai đầu tư, xây dựng các trạm dừng nghỉ trên các tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông.
Văn bản nêu, xét Báo cáo của Bộ Xây dựng (văn bản số 235/BC-BXD ngày 20/6/2026) về tình hình triển khai đầu tư, xây dựng các trạm dừng nghỉ trên tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc có ý kiến như sau:
Bộ Xây dựng chủ động làm việc ngay với Ủy ban nhân dân các tỉnh Lâm Đồng, An Giang, Gia Lai để xử lý dứt điểm các vướng mắc về giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng và thủ tục giao đất, cho thuê đất.
Bộ Công Thương thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực tại Thông báo số 307/TB-VPCP ngày 16/6/2026 của Văn phòng Chính phủ, hoàn thành ban hành Quy chuẩn Việt Nam về trạm sạc và trụ sạc xe điện trước ngày 30/9/2026.
Bộ Xây dựng đôn đốc, chỉ đạo việc đầu tư, xây dựng các trạm dừng nghỉ trên tất cả các tuyến đường bộ cao tốc trên phạm vi cả nước (trong đó tập trung các giải pháp như báo cáo tại văn bản số 235/BC-BXD nêu trên), báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trong tháng 7/2026.
Ban hành tiêu chí, danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1132/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 ban hành tiêu chí, danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị.
Nguyên tắc triển khai, sử dụng nền tảng số dùng chung quốc gia
Quyết định nêu rõ các nguyên tắc triển khai, sử dụng nền tảng số dùng chung quốc gia là phải được duy trì, vận hành, nâng cấp và cải tiến thường xuyên nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của công nghệ.
Sau khi các nền tảng số dùng chung quốc gia được đưa vào vận hành, hoạt động, các cơ quan, tổ chức không đầu tư, xây dựng, mua sắm, thuê dịch vụ hoặc mở rộng phạm vi triển khai đối với các nền tảng, hệ thống, phần mềm có chức năng, mục tiêu và phạm vi sử dụng tương tự với các nền tảng số dùng chung quốc gia thuộc danh mục ban hành kèm theo Quyết định này, trừ trường hợp có yêu cầu đặc thù về quốc phòng, an ninh, cơ yếu hoặc yêu cầu theo quy định của pháp luật chuyên ngành.
Đối với các nền tảng số dùng chung quốc gia chưa được đưa vào vận hành, hoạt động theo kế hoạch triển khai được cấp có thẩm quyền phê duyệt, các cơ quan, tổ chức được tiếp tục duy trì hệ thống hiện có hoặc thuê dịch vụ để đáp ứng yêu cầu thực tiễn cho đến thời điểm nền tảng số dùng chung quốc gia được đưa vào vận hành, hoạt động.
Tiêu chí nền tảng số dùng chung quốc gia
Theo Quyết định, tiêu chí nền tảng số dùng chung quốc gia bao gồm:
I- Tiêu chí xác định nền tảng số dùng chung quốc gia sử dụng chung cho các ngành, lĩnh vực (tiêu chí xác định nền tảng Nhóm A):
1. Là nền tảng số theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Chuyển đổi số, đáp ứng các yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số quy định tại Điều 8 Luật Chuyển đổi số.
2. Phạm vi triển khai trên toàn quốc, để giải quyết bài toán chung có tính liên ngành, liên lĩnh vực, không giới hạn trong phạm vi một bộ, ngành, địa phương.
3. Mục tiêu hướng tới cung cấp dịch vụ dùng chung cho tất cả các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan thuộc hệ thống chính trị, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoặc là hạ tầng dịch vụ cho nhiều hệ thống thông tin, nền tảng số, dịch vụ số của các cơ quan, bộ, ngành, địa phương phát triển và hoạt động; bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu, giảm đầu tư trùng lặp và nâng cao hiệu quả quản lý, phục vụ người dân doanh nghiệp.
4. Triển khai theo hướng mở, linh hoạt; được mở và công bố công khai các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép cơ quan, tổ chức doanh nghiệp cùng tham gia phát triển, cung cấp dịch vụ trên nền tảng số theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Chuyển đổi số.
5. Phải có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với các nền tảng số, hệ thống thông tin khác theo quy định; đồng thời phải cung cấp các dữ liệu, chỉ số và giao diện kỹ thuật cần thiết để cơ quan quản lý nhà nước về chuyển đổi số thực hiện giám sát, đo lường, đánh giá trực tuyến hoạt động vận hành, khai thác và hiệu quả sử dụng của nền tảng.
II- Tiêu chí xác định nền tảng số dùng chung quốc gia cho ngành, lĩnh vực (tiêu chí xác định nền tảng Nhóm B):
1. Là nền tảng số theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Chuyển đổi số, đáp ứng các yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số quy định tại Điều 8 Luật Chuyển đổi số.
2. Phạm vi triển khai trên toàn quốc, để giải quyết bài toán của một ngành, lĩnh vực gắn liền với quy trình nghiệp vụ chuyên ngành, cơ sở dữ liệu chuyên ngành hoặc quy định pháp luật chuyên ngành.
3. Mục tiêu hướng tới cung cấp dịch vụ chuyên ngành cho tất cả các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan thuộc hệ thống chính trị, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nhằm triển khai thống nhất các quy trình nghiệp vụ, hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ và khai thác dữ liệu trong phạm vi một ngành, lĩnh vực; bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu, giảm đầu tư trùng lặp và nâng cao hiệu quả quản lý, phục vụ người dân doanh nghiệp.
4. Có khả năng kết nối, sử dụng lại, kế thừa các dịch vụ của nền tảng dùng chung Nhóm A để phát triển các dịch vụ chuyên ngành; không triển khai trùng lặp chức năng và tách rời với các nền tảng dùng chung quốc gia Nhóm A.
5. Triển khai theo hướng mở, linh hoạt; được mở và công bố công khai các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép cơ quan, tổ chức doanh nghiệp cùng tham gia phát triển, cung cấp dịch vụ trên nền tảng số theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Chuyển đổi số.
6. Phải có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với các nền tảng số, hệ thống thông tin khác theo quy định; đồng thời phải cung cấp các dữ liệu, chỉ số và giao diện kỹ thuật cần thiết để cơ quan quản lý nhà nước về chuyển đổi số thực hiện giám sát, đo lường, đánh giá trực tuyến hoạt động vận hành, khai thác và hiệu quả sử dụng của nền tảng.
Căn cứ trên tiêu chí nền tảng số dùng chung, các cơ quan thuộc hệ thống chính trị đề xuất Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định cập nhật danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia.
Danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia
Danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia bao gồm 2 nhóm:
Nhóm A: nhóm nền tảng số dùng chung quốc gia sử dụng chung cho các ngành, lĩnh vực bao gồm 17 nền tảng: Cổng dịch vụ công quốc gia; Nền tảng VNelD; Nền tảng định danh và xác thực điện tử; Trục liên thông văn bản quốc gia; Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu của Trung tâm dữ liệu quốc gia; Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia; Cổng dữ liệu quốc gia; Nền tảng điện toán đám mây trong Trung tâm dữ liệu quốc gia; Nền tảng chuỗi khối (blockchain) quốc gia; Trợ lý ảo quốc gia; Trung tâm tính toán hiệu năng cao của Trung tâm dữ liệu quốc gia; Nền tảng số từ điển dữ liệu dùng chung; Nền tảng SOC quốc gia thế hệ mới (Nền tảng điều hành an ninh mạng quốc gia); Hệ thống phòng vệ mạng quốc gia; Nền tảng quản lý dữ liệu thống kê; Cổng Pháp luật quốc gia; Hệ thống Công báo điện tử Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhóm B: Nhóm các nền tảng số dùng chung quốc gia cho ngành, lĩnh vực bao gồm 62 nền tảng như: Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính thuộc các ngành, lĩnh vực; Cổng Thông tin một cửa quốc gia; Hệ thống quản lý đấu giá tài sản; Nền tảng quản lý doanh nghiệp quốc gia (Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp); Hệ thống công nghệ thông tin thực hiện Hải quan số; Nền tảng Cổng công khai ngân sách nhà nước; Hệ thống thông tin quản lý thuế; Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; Nền tảng quản lý cán bộ công chức, viên chức quốc gia; Nền tảng hợp đồng lao động điện tử; Sàn giao dịch việc làm quốc gia; Nền tảng Sổ sức khỏe điện tử; Hệ thống thông tin và Cơ sở dữ liệu quốc gia về An toàn thực phẩm; Nền tảng giáo dục thông minh quốc gia; Nền tảng trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ phân tích, cảnh báo thiên tai...
Rà soát, xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027
Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký Công văn số 721/TTg-PL ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện rà soát, xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027.
Công văn nêu, thực hiện chủ trương của Đảng về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật và cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, trong thời gian qua, các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã xây dựng, trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật theo cơ chế xử lý tạm thời để bảo đảm tính liên tục, thông suốt của hoạt động quản lý nhà nước và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, các văn bản này sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027.
Không để xảy ra tình trạng chậm tiến độ, nợ đọng văn bản làm phát sinh khoảng trống pháp lý
Để đẩy nhanh tiến độ xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027, bảo đảm không phát sinh khoảng trống pháp lý, xét kiến nghị của Bộ Tư pháp tại Báo cáo số 436/BC-BTP ngày 16/6/2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ tiếp tục quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm các chủ trương, định hướng của Đảng về công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tiến độ, chất lượng xây dựng, sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản thuộc phạm vi quản lý để xử lý các văn bản sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027; không để xảy ra tình trạng chậm tiến độ, nợ đọng văn bản làm phát sinh khoảng trống pháp lý.
Đồng thời, chủ động tổ chức triển khai thực hiện các phương án xử lý đối với 508 văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027, trong đó tập trung triển khai thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
Tiếp tục rà soát, phân loại các nội dung sửa đổi, bổ sung có tính chất tương đồng liên quan đến phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền; xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. Nghiên cứu, áp dụng phương thức một văn bản sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản đối với các văn bản có nội dung liên quan chặt chẽ nhằm bảo đảm xử lý tập trung, đồng bộ, hạn chế việc sửa đổi nhiều lần trong thời gian ngắn; đồng thời tiếp tục rà soát tổng thể hệ thống văn bản thuộc phạm vi quản lý, chủ động đề xuất phương án hợp nhất, tích hợp, xử lý tập trung các quy định có nội dung tương đồng.
Đối với các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết đã được đưa vào Chương trình lập pháp năm 2026, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định, bảo đảm tiến độ, chất lượng theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Đối với các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết chưa được đưa vào Chương trình lập pháp năm 2026, chủ động phối hợp với Bộ Tư pháp rà soát, hoàn thiện hồ sơ, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định bổ sung vào Chương trình các kỳ họp năm 2026 của Quốc hội, các kỳ họp còn lại của năm 2026 và đầu năm 2027 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định.
Đối với các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, chủ động rà soát, sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành trước ngày 01/3/2027.
Trong quá trình sửa đổi, bổ sung các văn bản, tiếp tục rà soát, đánh giá thực tiễn thi hành các cơ chế, chính sách được thực hiện theo cơ chế đặc thù, tạm thời; nghiên cứu, đề xuất thể chế hóa các quy định đã được thực tiễn kiểm nghiệm, phát huy hiệu quả, bảo đảm tính ổn định, đồng bộ, thống nhất và khả thi của hệ thống pháp luật.
Bộ Tư pháp tổng hợp tình hình thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ chậm nhất ngày 25 hằng tháng
Đối với các cơ chế, chính sách đang phát huy hiệu quả trong thực tiễn nhưng có nguy cơ chưa thể sửa đổi, bổ sung, ban hành trước ngày 01/3/2027, chủ động đánh giá tác động, đề xuất phương án chuyển tiếp hoặc các giải pháp xử lý phù hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định nhằm bảo đảm tính liên tục của hoạt động quản lý nhà nước, không làm gián đoạn việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của người dân, doanh nghiệp và không để phát sinh khoảng trống pháp lý.
Đối với các văn bản chưa đề xuất phương án xử lý, khẩn trương rà soát, đề xuất phương án xử lý, trong đó xác định rõ cơ quan chủ trì, tiến độ thực hiện và thời hạn hoàn thành.
Định kỳ hằng tháng, rà soát, cập nhật danh mục, tình hình triển khai, kết quả xử lý các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản lý, nhất là các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách lĩnh vực chậm nhất là ngày 20 hằng tháng, đồng thời gửi Bộ Tư pháp để theo dõi, tổng hợp chung.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc rà soát, hoàn thiện và triển khai thực hiện phương án xử lý các văn bản sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027; ưu tiên thời gian, nguồn lực trong phối hợp góp ý, thẩm định sớm các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung thay thế các văn bản sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027.
Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp tổng hợp tình hình thực hiện của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chậm nhất là ngày 25 hằng tháng về kết quả xử lý các văn bản quy phạm pháp luật sẽ hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027.
Văn phòng Chính phủ theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Văn bản này; phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp, các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong quá trình rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực trước ngày 01/3/2027; kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền hoặc phát sinh vướng mắc cần chỉ đạo, xử lý./.
Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu về việc tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật
Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 325/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu về việc tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật.
Tại Thông báo trên, Phó Thủ tướng đánh giá cao Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã phối hợp chặt chẽ trong quá trình tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm thực hiện việc đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật. Đề án thí điểm đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật là việc mới, khó nhưng rất cần thiết để đổi mới quản trị công tác xây dựng pháp luật, chuyển từ theo dõi bằng báo cáo định tính sang quản trị bằng dữ liệu, tiến độ, chất lượng và trách nhiệm cụ thể.
Phó Thủ tướng cơ bản nhất trí với Báo cáo của Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Quyết định; giao Bộ Tư pháp tiếp thu các ý kiến hợp lý của các Bộ, cơ quan ngang Bộ và ý kiến của các đại biểu dự họp, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự thảo Quyết định, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 28/6/2026, trong đó tập trung vào một số nội dung sau đây:
Thí điểm đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật trong thời hạn 01 năm
Thống nhất thực hiện thí điểm đánh giá, chấm điểm (KPI) về công tác xây dựng pháp luật trong thời hạn 01 năm; các Bộ, cơ quan ngang Bộ quán triệt tinh thần trong quá trình thí điểm, các tiêu chí, điểm số, nội dung, phương pháp chấm điểm sẽ tiếp tục được nghiên cứu, đánh giá để hoàn thiện trong giai đoạn tiếp theo.
Thống nhất việc quy định tiêu chí đánh giá, chấm điểm chất lượng thẩm định của Bộ Tư pháp theo hướng không đặt ra yêu cầu Bộ Tư pháp phải khẳng định ngay trong báo cáo thẩm định (lần đầu) về việc hồ sơ dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đủ hay chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, sau khi cơ quan chủ trì soạn thảo đã tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định và gửi lại hồ sơ theo quy định, Bộ Tư pháp có trách nhiệm rà soát, có ý kiến bằng văn bản nêu rõ quan điểm đồng ý hoặc không đồng ý với nội dung tiếp thu, giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo. Trường hợp Bộ Tư pháp không có ý kiến rõ ràng thì có cơ chế trừ điểm phù hợp.
Phó Thủ tướng giao Văn phòng Chính phủ chấm điểm chất lượng thẩm định của Bộ Tư pháp; tuy nhiên Bộ Tư pháp cần nghiên cứu cơ chế chấm điểm phù hợp, thuận tiện, kết hợp ngay trong giai đoạn thẩm định, trình hồ sơ dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Bảo đảm công bằng, không tạo ra tâm lý né tránh tham gia thẩm định
Về tiêu chí chấm điểm các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc phối hợp với Bộ Tư pháp tham gia thẩm định, Phó Thủ tướng thống nhất trong giai đoạn thí điểm chỉ đánh giá, chấm điểm đối với các Bộ đã được nêu tên và quy định rõ trách nhiệm trong việc phối hợp với Bộ Tư pháp thẩm định theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật. Bộ Tư pháp rà soát toàn bộ nhóm tiêu chí này, bảo đảm công bằng, không tạo ra tâm lý né tránh tham gia thẩm định nhưng cũng không để tình trạng các Bộ, cơ quan được mời nhưng không tham gia và không có ý kiến, làm ảnh hưởng đến tiến độ trình hoặc làm giảm chất lượng của hồ sơ dự án, dự thảo văn bản.
Trong quá trình nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp rà soát, nghiên cứu việc bổ sung các Bộ, cơ quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp tham gia thẩm định (nếu cần thiết); đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ khác có liên quan, cần quy định rõ chủ thể mời tham gia Hội đồng thẩm định, cuộc họp thẩm định là đại diện Bộ, cơ quan hay với tư cách cá nhân, chuyên gia.
Các tính điểm đảm bảo công khai, công bằng
Về hệ số điều chỉnh theo số lượng văn bản (hệ số K), điểm thưởng và phương pháp tính điểm, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ nghiên cứu, ban hành văn bản hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về hệ số K, điểm thưởng đối với nhiệm vụ phát sinh và cách tính điểm KPI cuối cùng, bảo đảm công khai, công bằng giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Về các tiêu chí đánh giá, chấm điểm khác, Phó Thủ tướng yêu cầu rà soát các tiêu chí chấm điểm, bảo đảm đơn giản, dễ thực hiện, bao quát được các vấn đề để kiểm soát tiến độ, chất lượng và trách nhiệm của các cơ quan; không nhất thiết phải quy định quá nhiều tiêu chí thành phần.
Về các trường hợp ngoại lệ, việc quy định các trường hợp ngoại lệ tại dự thảo Quyết định là cần thiết nhưng phải được kiểm soát chặt chẽ. Bộ Tư pháp nghiên cứu, bổ sung vào dự thảo Quyết định nguyên tắc xác định các trường hợp ngoại lệ; trên cơ sở đó Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, cơ quan ban hành văn bản hướng dẫn bảo đảm chặt chẽ, tránh lạm dụng, tùy tiện trong việc quy định các trường hợp ngoại lệ.
Về xử lý các trường hợp văn bản bị phát hiện trái pháp luật ngoài kỳ đánh giá, Bộ Tư pháp rà soát quy định về thời hạn, cách thức trừ điểm đối với các văn bản sau khi ban hành bị phát hiện có nội dung trái pháp luật, bao gồm cả trường hợp văn bản ban hành ở kỳ đánh giá trước nhưng được cơ quan có thẩm quyền kết luận ở kỳ đánh giá sau. Trong trường hợp này, chỉ trừ điểm khi có căn cứ rõ ràng về nội dung trái pháp luật và trách nhiệm của cơ quan được đánh giá; không trừ điểm đối với trường hợp sửa đổi, bổ sung do thay đổi chủ trương, chính sách, yêu cầu quản lý mới hoặc chỉ đạo mới của cấp có thẩm quyền mà không phải do lỗi của các Bộ, cơ quan trong quá trình xây dựng văn bản.
Triển khai Hệ thống thông tin quản lý Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong Quý III năm 2026
Bộ Tư pháp khẩn trương hoàn thiện Hệ thống thông tin quản lý Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm triển khai từ Quý III năm 2026, trong đó nghiên cứu, thiết kế Hệ thống thông tin với quy trình chấm điểm đơn giản, linh hoạt, liên thông với các Hệ thống, phần mềm hiện hữu, không tạo thêm gánh nặng hành chính cho các cơ quan trong quá trình thực hiện; nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ quá trình chấm điểm. Nghiên cứu tổ chức chạy thử để kiểm tra Hệ thống trước khi triển khai chính thức.
Phê duyệt danh sách thành viên Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Túc ký Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 phê duyệt danh sách thành viên Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế.
Theo đó, Danh sách thành viên Đoàn đàm phán Chính phủ về kinh tế và thương mại quốc tế, bao gồm:
Trưởng đoàn là Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng.
3 Phó Trưởng đoàn gồm:
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân (Phó Trưởng đoàn thường trực), giúp Trưởng đoàn điều phối hoạt động chung của Đoàn đàm phán Chính phủ, trực tiếp phụ trách công tác chuyên môn về đàm phán kinh tế và thương mại quốc tế, phụ trách các lĩnh vực trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Bộ Công Thương và thay mặt Trưởng đoàn khi được ủy quyền;
Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Quốc Phương phụ trách các lĩnh vực trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tài chính, bao gồm mở cửa thị trường của Việt Nam về thuế, hải quan, đầu tư, dịch vụ tài chính (bảo hiểm, chứng khoán), mua sắm chính phủ và các lĩnh vực khác, thay mặt Trưởng đoàn khi được ủy quyền trong phạm vi lĩnh vực phụ trách;
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Hằng phụ trách công tác đối ngoại, vận động ngoại giao, quan hệ song phương, đa phương trong đàm phán kinh tế thương mại và các lĩnh vực khác theo yêu cầu về chức năng, nhiệm vụ, thay mặt Trưởng đoàn khi được ủy quyền trong phạm vi lĩnh vực phụ trách.
Các thành viên gồm: Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung; Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định; Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh; Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phan Tâm; Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Ngọc Cảnh; Thứ trưởng Bộ Công an Phạm Thế Tùng; Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Tri Thức; Thứ trưởng Bộ Nội vụ Cao Huy.
Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế, Bộ Công Thương Tạ Hoàng Linh; Vụ trưởng, Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương Lê Triệu Dũng; Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công Thương Lương Hoàng Thái tham gia hỗ trợ công tác thường trực của Đoàn đàm phán Chính phủ./.