Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 22/6/2026
(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 22/6/2026.
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp
Chính phủ ban hành Nghị định số 216/2026/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp, trong đó quy định Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp bao gồm 3 nhóm thông tin và do Bộ Công an xây dựng, quản lý, vận hành, bảo vệ, lưu trữ.

Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp do Bộ Công an xây dựng, quản lý, vận hành, bảo vệ, lưu trữ.
Nghị định quy định chi tiết Điều 11 về cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và Điều 14 về bảo vệ, lưu trữ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và hướng dẫn về trách nhiệm cung cấp thông tin lý lịch tư pháp để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, lập lý lịch tư pháp, cập nhật thông tin lý lịch tư pháp, thủ tục yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và khai thác, sử dụng thông tin lý lịch tư pháp.
Bộ Công an xây dựng, quản lý, vận hành, bảo vệ và lưu trữ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp
Trong đó, Nghị định quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc xây dựng, quản lý, vận hành, kết nối cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.
Theo quy định, Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì tổ chức thực hiện việc xây dựng, quản lý, vận hành, bảo vệ và lưu trữ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo quy định của pháp luật.
Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vị trực thuộc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp và Nghị định này.
Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng tập trung, theo nguyên tắc mở
Về nguyên tắc xây dựng, bảo vệ, lưu trữ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, Nghị định quy định việc xây dựng, bảo vệ, lưu trữ cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải tuân thủ quy định của Luật Lý lịch tư pháp, Nghị định này và các quy định của pháp luật về dữ liệu, giao dịch điện tử, tiếp cận thông tin, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, chuyển đổi số, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan có liên quan trong hệ thống chính trị.
Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng tập trung; theo nguyên tắc mở, bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị và quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung; tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu, công nghệ thông tin và các quy định có liên quan, các tiêu chuẩn về an ninh mạng và khả năng phục hồi sau sự cố; được xây dựng, đầu tư, bảo trì, nâng cấp theo định mức kinh tế - kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; bảo đảm hiệu quả, đơn giản, thuận tiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện dịch vụ công, thủ tục hành chính và các hoạt động khác.
Dữ liệu lý lịch tư pháp đã có trong các cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ thì không thu thập lại. Mọi bản ghi dữ liệu được lưu vết truy cập, chỉnh sửa, cập nhật, đảm bảo khả năng truy xuất lịch sử thay đổi và biến động dữ liệu.
Các nhóm thông tin trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp
Nghị định quy định hoạt động xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp bao gồm:
- Tiếp nhận, kiểm tra, phân loại và xử lý thông tin lý lịch tư pháp;
- Lập Lý lịch tư pháp;
- Cập nhật thông tin lý lịch tư pháp vào Lý lịch tư pháp đã được lập;
- Điều chỉnh thông tin lý lịch tư pháp của cá nhân trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.
Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp bao gồm các nhóm thông tin sau đây:
- Thông tin của cá nhân được lập lý lịch tư pháp theo quy định tại khoản 4a Điều 2 Luật Lý lịch tư pháp. Trong đó, thông tin về số định danh cá nhân hoặc số hộ chiếu trong trường hợp không có số định danh cá nhân được sử dụng làm thông tin gốc để kết nối, đối soát và đồng bộ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư;
- Thông tin lý lịch tư pháp về án tích, tình trạng thi hành án, xóa án tích;
- Thông tin về việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.
Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải ghi nhận lịch sử cập nhật, điều chỉnh dữ liệu, bao gồm thời gian, nội dung và chủ thể thực hiện, nhằm phục vụ việc kiểm tra, đối soát, truy vết nguồn gốc dữ liệu và bảo đảm tính toàn vẹn, minh bạch trong quản lý dữ liệu.
Các phương thức kết nối, chia sẻ dữ liệu
Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia thông qua các phương thức, nền tảng kết nối, chia sẻ dữ liệu liên thông, tự động, bảo đảm đúng mục đích, đúng thẩm quyền, đúng phạm vi, đúng đối tượng và tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp là hoạt động bắt buộc, được thực hiện thông qua các phương thức sau:
- Kết nối thông qua Nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu quốc gia (NDOP) và các điểm kết nối bảo mật theo quy định;
- Khai thác, truy vấn dữ liệu thông qua giao diện lập trình ứng dụng (API) theo tiêu chuẩn, quy trình do cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp Bộ Công an và cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu chuyên ngành của các bộ, ngành thống nhất ban hành;
- Đồng bộ dữ liệu tự động giữa hệ thống thông tin của Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, các ngành có liên quan với cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.
Dữ liệu lý lịch tư pháp được chia sẻ dưới dạng thông điệp dữ liệu điện tử có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Cơ quan, tổ chức không được yêu cầu cung cấp lại thông tin lý lịch tư pháp khi thông tin đó đã có trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và đã được kết nối, chia sẻ. Trường hợp cần xác minh, thẩm tra tính chính xác của thông tin hoặc khi thông tin khai thác được chưa đầy đủ, chưa chính xác, cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu theo quy định của pháp luật.
Cơ sở dữ liệu chuyên ngành trước khi thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải đảm bảo an ninh, an toàn thông tin và có tiêu chuẩn kỹ thuật phù hợp với cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; dữ liệu chia sẻ phải được làm sạch, bảo đảm chính xác, đầy đủ; có nguồn gốc hợp pháp, được xác thực theo thẩm quyền; phản ánh đúng hiện trạng về pháp lý và đầy đủ các trường thông tin.
Nghị định nêu rõ Bộ Công an có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra, xử lý và cập nhật thông tin vào cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo quy định của pháp luật.
Các bộ, ngành trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ có phát sinh nguồn thông tin được quy định tại Điều 15, Điều 33 và Điều 36 Luật Lý lịch tư pháp có trách nhiệm tạo lập, cập nhật ngay thông tin và số hóa dữ liệu vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành do mình quản lý để chia sẻ, đồng bộ với cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp do Bộ Công an quản lý. Việc chia sẻ đồng bộ dữ liệu được thực hiện trong thời gian không quá 01 ngày làm việc kể từ khi thông tin được cập nhật vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới
Chính phủ ra Nghị quyết số 158/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới (Chương trình).

Đến năm 2045, Hà Nội trở thành một trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi hội tụ tri thức và công nghệ; hạ tầng, quản trị đô thị hiện đại.
Mục tiêu của Chương trình là xây dựng và phát triển Thủ đô lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển; chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân làm thước đo; đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tuần hoàn làm động lực trọng tâm để thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới. Phát triển Thủ đô phải đi đôi với ổn định bền vững - lấy ổn định chính trị - xã hội, giữ vững an ninh, trật tự làm bệ đỡ để xây dựng, phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới; phấn đấu đạt các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể tại Nghị quyết số 02-NQ/TW...
Để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu tại Nghị quyết số 02-NQ/TW, Chính phủ yêu cầu trong thời gian tới, bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND thành phố Hà Nội, các địa phương trong vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc và các địa phương trong cả nước cần cụ thể hóa và tổ chức triển khai các nhiệm vụ, giải pháp sau: Công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến thông tin và tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TW; quy hoạch phát triển Thủ đô với tầm nhìn dài hạn, ổn định; đẩy mạnh liên kết, phát triển vùng; xây dựng thể chế đột phá phát triển Thủ đô; phát triển toàn diện văn hóa, con người Thủ đô; xác lập mô hình tăng trưởng mới của Thủ đô; phát triển các ngành kinh tế thế mạnh của Thủ đô; huy động, khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực...
Quy hoạch tổng thể Thủ đô bảo đảm ổn định, lâu dài với tầm nhìn chiến lược 100 năm
Trong năm 2026, các bộ, ngành và các địa phương chủ động phối hợp chặt chẽ với thành phố Hà Nội hoàn thành lập Quy hoạch tổng thể Thủ đô bảo đảm ổn định, lâu dài với tầm nhìn chiến lược 100 năm. Thành phố Hà Nội chủ động phối hợp với các bộ, ngành và các địa phương trong vùng để rà soát, lập Quy hoạch tổng thể Thủ đô trên cơ sở cụ thể hóa các nội dung quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc và bảo đảm đồng bộ, kết nối với các quy hoạch tỉnh của các tỉnh, thành phố trong vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du và miền núi phía Bắc theo quy định của pháp luật. Các tỉnh, thành phố trong vùng Thủ đô, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng trung du miền núi phía Bắc, chủ động nghiên cứu Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn chiến lược 100 năm để điều chỉnh các quy hoạch của địa phương mình nhằm báo đảm phù hợp, đồng bộ.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô được lập theo hướng chuyển từ "quy hoạch tĩnh" sang "quy hoạch động và mở" hướng tới mục tiêu xây dựng Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc", mở rộng không gian phát triển gắn với chiến lược phát triển hạ tầng kết nối hiện đại, ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và bản sao số (Urban Digital Twin) nhằm đảm bảo tính khoa học, minh bạch và khả năng thích ứng cao với các biến động của thực tiễn.
Phát triển thành phố theo mô hình, cấu trúc chùm đô thị đa tầng, đa lớp, đa cực và đa trung tâm
Chính phủ yêu cầu xây dựng và phát triển thành phố theo mô hình, cấu trúc chùm đô thị đa tầng, đa lớp, đa cực và đa trung tâm. Trong đó, Hà Nội là đô thị trung tâm hạt nhân, đóng vai trò kết nối vùng và liên vùng quốc tế, các đô thị thuộc tỉnh giáp ranh là hệ thống đô thị vệ tinh với vai trò, chức năng rõ ràng để hỗ trợ, chia sẻ áp lực và tạo động lực phát triển chung cho cả vùng, cụ thể hóa cấu trúc "đơn cực tập trung" sang "đa cực - đa trung tâm" kết hợp với các trục động lực có chức năng chuyên biệt nhưng gắn kết hữu cơ trong thể thống nhất của Thủ đô, vùng Thủ đô và cả nước cùng hệ thống các vành đai phát triển đô thị, hành lang phát triển kinh tế nhằm thúc đẩy liên kết vùng và quốc gia.
Xây dựng không gian phát triển cấu trúc đô thị Thủ đô lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái - văn hóa chủ đạo, kết hợp hài hòa với việc duy trì và phát huy hệ thống hành lang xanh từ sông Đuống, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tô Lịch và rừng đặc dụng Ba Vì tạo nền tảng sinh thái bền vững, đảm bảo sự cân bằng giữa bảo tồn các giá trị thiên nhiên, di sản văn hóa với nhu cầu phát triển đô thị hiện đại.
Đến năm 2030, phấn đấu hoàn thành khoảng 100 km đường sắt đô thị
Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đồng bộ, hiện đại, nhất là hạ tầng giao thông kết nối các vùng động lực, hành lang phát triển Thủ đô với liên vùng và nội vùng để tăng cường liên kết, mở rộng không gian phát triển tạo nền tảng cho sự phát triển Thủ đô.
Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống đường sắt đô thị, đến năm 2030, phấn đấu hoàn thành khoảng 100 km đường sắt đô thị, từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực đầu tư, quản lý và vận hành, đến năm 2030 làm chủ ít nhất 50% khối lượng công việc và làm chủ toàn bộ vào năm 2050. Nghiên cứu xây dựng các tuyến đường sắt tốc độ cao, kết nối vùng, cảng thủy nội địa, sân bay.
Hỗ trợ người dân để chuyển đổi giao thông xanh, giao thông công cộng
Cùng với đó, đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng chiến lược, thích ứng với biển đổi khí hậu; cải thiện nâng cao năng lực hệ thống cấp, thoát nước, chống ngập, đầu tư cải tạo, nâng cấp đồng bộ các tuyến đê, các công trình chuyển nước kết hợp với tạo cảnh quan đô thị, môi trường; đến năm 2030, cơ bản giải quyết tình trạng úng ngập tại nội đô.
Xây dựng và phát triển đô thị nén, đô thị xoay quanh các điểm trung chuyển giao thông công cộng (TOD) để hình thành các chuỗi đô thị thông minh kết nối đô thị trung tâm. Quản lý, phát triển đô thị theo hướng tích hợp hạ tầng số, dữ liệu đô thị, năng lượng xanh và quản trị số. Rà soát, tổ chức xây dựng và thực hiện có hiệu quả quy hoạch phát triển không gian ngầm, không gian tầm thấp và tầm cao; ưu tiên quy hoạch diện tích cây xanh, mặt nước, công trình công cộng. Có cơ chế, chính sách đột phá hỗ trợ người dân để chuyển đổi giao thông xanh, giao thông công cộng; kiểm soát sử dụng phương tiện cơ giới cá nhân, khắc phục tình trạng ùn tắc giao thông trong nội đô và các cửa ngõ.
Đến năm 2030, hoàn thành cải tạo, xây dựng lại các khu chung cư cũ, nguy hiểm cấp độ D
Đẩy nhanh lộ trình tái cấu trúc đô thị; khẩn trương cải tạo các khu chung cư cũ gắn với việc chỉnh trang, tái thiết các khu đô thị lân cận, tái thiết các khu đô thị có hạ tầng yếu kém, xuống cấp để hình thành các khu đô thị văn minh, hiện đại, đa mục tiêu; đến năm 2030, hoàn thành cải tạo, xây dựng lại các khu chung cư cũ, nguy hiểm cấp độ D. Nghiên cứu, xây dựng chính sách đột phá nhất là về đất đai, tài chính để doanh nghiệp dễ tiếp cận quỹ đất, nguồn vốn phát triển dự án nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, Quyết liệt di dời các cơ sở gây ô nhiễm, cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, y tế không còn phù hợp quy hoạch ra khỏi khu vực nội thành gắn với kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng đất sau di dời bảo đảm đồng bộ với quy hoạch. Phát triển đô thị sinh thái kết hợp hài hòa giữa bảo tồn bản sắc văn hóa, truyền thống với phát triển không gian đổi mới sáng tạo,
Xây dựng Thủ đô trở thành trung tâm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghệ số và dịch vụ giá trị cao
Chính phủ yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới của Thủ đô theo hướng xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghệ số và dịch vụ giá trị cao với các chính sách hỗ trợ đột phá, hàng đầu của cả nước ngang tầm với các nước trong khu vực và Châu Á, đóng vai trò dẫn dắt các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ của vùng và cả nước.
Tập trung phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo, công nghệ tài chính, y tế, giáo dục chất lượng cao và công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu; phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế đô thị gắn với không gian văn hóa - sáng tạo, không gian công cộng, kinh tế ban đêm gắn với khai thác có hiệu quả không gian văn hóa - lịch sử, phố cổ, phố đi bộ... Tiếp tục tái cơ cấu công nghiệp theo hướng công nghiệp công nghệ cao có giá trị gia tăng cao, công nghệ sinh thái giữ vai trò dẫn dắt trong các chuỗi liên kết phát triển hành lang công nghiệp - đô thị - dịch vụ nội vùng và liên vùng. Ưu tiên phát triển công nghiệp bán dẫn, công nghệ thông tin, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, điện toán, Internet vạn vật (IoT), ...
Phát triển các ngành kinh tế thế mạnh của Thủ đô
Về phát triển các ngành kinh tế thế mạnh của Thủ đô, Chính phủ yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng lấy khoa học và công nghệ cao và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt để phát triển các ngành kinh tế thế mạnh của Thủ đô như dịch vụ tài chính, ngân hàng và logistics; công nghiệp công nghệ cao, kinh tế đô thị, kinh tế ban đêm, kinh tế sáng tạo và các ngành dịch vụ giá trị cao.
Cụ thể, phát triển mạnh dịch vụ logistics; hình thành và phát triển Trung tâm tài chính hài hòa kết nối không gian đi sản và hiện đại dọc trục hồ Hoàn Kiếm - Hồ Tây - sông Hồng trước năm 2030; đa dạng hóa các loại hình thương mại, dịch vụ; xây dựng và hình thành "thung lũng công nghệ", "vườn ươm công nghệ, doanh nghiệp công nghệ", trung tâm đổi mới sáng tạo gắn với giáo dục, đào tạo và y tế chất lượng cao, tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ của Thủ đô; phát triển mạnh kinh tế đô thị, kinh tế ban đêm, kinh tế sáng tạo; khai thác hiệu quả các không gian đô thị, không gian văn hóa, thương mại, dịch vụ, du lịch để mở rộng các hoạt động kinh tế có giá trị gia tăng cao; cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng chuyển mạnh từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp đô thị; phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, gắn sản xuất với chế biến, bảo quản, xây dựng thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm…
Kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 64-TB/VPTW ngày 22/5/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo kết luận của Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với một số cơ quan về tình hình triển khai Chỉ thị số 34-CT/TW của Ban Bí thư về nhà ở xã hội và định hướng phát triển nhà ở trong thời gian tới
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký Quyết định số 1115/QĐ-TTg ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Thông báo số 64-TB/VPTW ngày 22/5/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo kết luận của Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với một số cơ quan về tình hình triển khai Chỉ thị số 34-CT/TW của Ban Bí thư về nhà ở xã hội và định hướng phát triển nhà ở trong thời gian tới (Kế hoạch).

Phát triển nhanh thị trường nhà ở cho thuê với giá hợp lý
Mục đích của Kế hoạch nhằm tổ chức quán triệt đầy đủ và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nội dung Thông báo số 64-TB/VPTW ngày 22/5/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với một số cơ quan về tình hình triển khai Chỉ thị số 34-CT/TW của Ban Bí thư về nhà ở xã hội và định hướng phát triển nhà ở trong thời gian tới.
Đồng thời, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội về quan điểm, định hướng chính sách phát triển nhà ở trong thời gian tới.
Ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê
Quyết định nêu rõ quan điểm chỉ đạo là quán triệt quan điểm quyền có nơi ở hợp pháp là quyền cơ bản của công dân, tiếp cận nhà ở an toàn, phù hợp với khả năng chi trả là thước đo của tiến bộ xã hội, tạo nền tảng phát triển xã hội ổn định, bền vững, nâng cao niềm tin của người dân. Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở để hướng tới mục tiêu mọi người đều có chỗ ở.
Định hướng phát triển nhà ở là nội dung quan trọng trong chiến lược, quy hoạch phát triển đô thị, nông thôn, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, an ninh đô thị, an ninh nông thôn, nâng cao năng suất lao động và bảo đảm sự phát triển lành mạnh của thị trường bất động sản.
Chuyển đổi mạnh tư duy về nhà ở: bên cạnh nhà ở để bán, cần ưu tiên phát triển nhà ở cho thuê, nhất là mô hình chung cư cho thuê tại các đô thị lớn, khu công nghiệp, khu kinh tế, vùng động lực và các hành lang kinh tế quan trọng, trong đó nhà ở cho thuê được xác định là phân khúc chiến lược, dài hạn, phục vụ đông đảo người dân, nhất là công nhân, người lao động, sinh viên, cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.
Phát triển nhà ở trong giai đoạn tới theo cơ chế thị trường có sự định hướng, quản lý hiệu quả của Nhà nước; Nhà nước không bao cấp về nhà ở, nhưng cũng không hoàn toàn để thị trường tự điều tiết. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua xây dựng thể chế, chính sách, quy hoạch để thị trường phát triển lành mạnh, minh bạch, doanh nghiệp tham gia xây dựng, vận hành với lợi nhuận hợp lý và người dân được tiếp cận chỗ ở ổn định, an toàn, phù hợp với khả năng chi trả.
Phát triển nhà ở phải đặt trong mối liên hệ hoàn thiện đồng bộ thể chế, chính sách, mang tính chất liên ngành, liên cấp, liên vùng, gắn với quy hoạch đô thị, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển khu công nghiệp, giao thông công cộng, thị trường lao động và quản lý dân cư.
Huy động đa dạng nguồn lực, không chỉ ngân sách; tập trung khơi thông dòng vốn tư nhân, dòng vốn dài hạn từ các quỹ đầu tư, tổ chức tín dụng; sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước để dẫn dắt, thúc đẩy thị trường, tạo động lực huy động nguồn lực tư nhân tham gia đầu tư, phát triển nhà ở để cho thuê.
Tập trung thực hiện 9 nhiệm vụ, giải pháp
Theo Kế hoạch, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả 9 nhiệm vụ, giải pháp:
1- Tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về tư duy phát triển nhà ở trong thời gian tới.
2- Sơ kết tình hình thực hiện Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 24/5/2024 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát triển nhà ở xã hội trong tình hình mới, đề xuất ban hành văn bản phù hợp của Ban Bí thư hoặc Bộ Chính trị, làm cơ sở hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, trong đó sửa đổi, bổ sung Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản.
3- Chủ động đề xuất kịp thời các cơ chế, chính sách mới, trong đó nghiên cứu, quán triệt rõ chủ trương chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Thông báo số 64-TB/VPTW ngày 22/5/2026 để cụ thể hóa các chủ trương, chính sách vào Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI (tháng 10 năm 2026).
4- Nghiên cứu, xây dựng chính sách phát triển nhà ở theo mô hình mới, phù hợp với Hiến pháp, chủ trương, đường lối của Đảng và nhu cầu của Nhân dân; khẩn trương xác định quy chuẩn, tiêu chuẩn từng nhóm nhà ở theo mô hình mới.
5- Nghiên cứu xây dựng chính sách đất đai, tín dụng, cơ chế tài chính, thuế... phù hợp để phát triển nhanh thị trường nhà ở cho thuê với giá hợp lý, khuyến khích thu hút khu vực tư nhân tham gia.
6- Thực hiện đơn giản hóa thủ tục phát triển nhà ở theo cơ chế một cửa, một đầu mối, một quy trình chuẩn. Các thủ tục về đầu tư, quy hoạch, giao đất, cấp phép xây dựng, tiếp cận tín dụng ưu đãi phải được rút ngắn, bảo đảm thuận lợi, rõ thời hạn và trách nhiệm cá nhân.
7- Đưa vào vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu về nhà ở và thị trường bất động sản; tăng cường ứng dụng công nghệ số, dữ liệu trong quản lý phát triển nhà ở và kinh doanh bất động sản.
8- Rà soát lại quỹ đất, hoàn thiện quy hoạch; trong đó, quy hoạch nhà ở trong mọi phân khúc phải gắn liền với quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ xã hội thiết yếu, thiết chế văn hóa, y tế, giáo dục,... trước hết tại các khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao và khu vực đô thị hóa nhanh; chủ động giải phóng mặt bằng, chuẩn bị quỹ đất sạch để phát triển nhà ở cho thuê.
9- Kiểm soát chặt chẽ, minh bạch các trường hợp được hưởng chính sách ưu tiên về nhà ở, không để xảy ra tình trạng trục lợi chính sách; kiểm soát, ngăn chặn tình trạng đầu cơ nhà ở.
Bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường vào Chương trình Kỳ họp không thường lệ năm 2026 của Quốc hội khóa XVI
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 159/NQ-CP ngày 20/6/2026 về việc bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường vào Chương trình Kỳ họp không thường lệ năm 2026 của Quốc hội khóa XVI.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng, hoàn thiện dự án Luật theo đúng quy định, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định bổ sung dự án Luật vào Chương trình Kỳ họp không thường lệ năm 2026 của Quốc hội (dự kiến tổ chức vào cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8/2026).
Cụ thể, Chính phủ thống nhất xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường (gọi tắt là dự án Luật) theo trình tự, thủ tục rút gọn. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng, hoàn thiện dự án Luật theo đúng quy định, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định bổ sung dự án Luật vào Chương trình Kỳ họp không thường lệ năm 2026 của Quốc hội (dự kiến tổ chức vào cuối tháng 7 hoặc đầu tháng 8/2026) và đồng thời cho ý kiến về dự án Luật để trình Quốc hội xem xét, thông qua.
Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội về đề xuất xây dựng dự án Luật; chủ động báo cáo, giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội theo quy định và chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung, báo cáo đề xuất./.