• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Teo ruột non bẩm sinh: đặc điểm và phương pháp điều trị

Bắt đầu triển khai các phẫu thuật sơ sinh từ tháng 4-2005, Bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai coi đây là bước phát triển mới của ngoại nhi Đồng Nai. Để đánh giá kết quả thực hiện phẫu thuật sơ sinh trong 5 năm qua, nhóm bác sĩ Vũ Công Tầm, Phạm Anh Tuấn, Lê Thọ Đức đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Teo ruột non bẩm sinh ở trẻ sơ sinh” nhằm rút ra những kinh nghiệm điều trị tốt hơn cho phẫu thuật sơ sinh.

11/11/2010 12:14
Điều trị sau phẫu thuật tại bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai Một trong những dị tật thường gặp và cần phải phẫu thuật sớm để cứu sống bệnh nhân là teo ruột non bẩm sinh ở trẻ sơ sinh. Teo ruột non là thể tắc ruột ở trẻ sơ sinh. Trong công tác phẫu thuật điều trị teo ruột non cho trẻ sơ sinh đều có những nguyên tắc rất riêng. Tuy nhiên, trong quá trình phẫu thuật có rất nhiều khó khăn ở các khâu chẩn đoán, gây mê sơ sinh, phẫu thuật sơ sinh, hồi sức hậu phẫu sơ sinh. Bác sĩ Vũ Công Tầm, người thực đề tài cho biết, việc nghiên cứu được thực hiện dựa trên bệnh án của 13 ca bệnh được phẫu thuật teo ruột non bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi đồng Đồng Nai trong 5 năm kể từ năm 2005. Đề tài được triển khai nhằm khảo sát các yếu tố chẩn đoán giúp xác định các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, các yếu tố liên quan đến tuổi thai, cân nặng, vị trí teo ruột, chiều dài ruột cắt bỏ, dị tật phối hợp và các biến chứng trước khi bệnh nhân được phẫu thuật teo ruột non bẩm sinh. Qua thống kê nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, có đến 100% các bệnh nhân bị teo ruột non bẩm sinh có triệu chứng ói dịch mật, đó là triệu chứng sớm nhất của bệnh teo ruột non bẩm sinh. Ngoài ra, bệnh nhân cũng bị các triệu chứng khác như: bị chướng bụng dưới nhiều hình thái khác nhau (chướng căng, chướng thượng vị kèm bụng lõm lòng thuyền, có lúc chướng lúc không…); bệnh nhân có thể bị đi cầu, 100% bệnh nhân không có mực nước – hơi trên X quang, ngay cả khi phát hiện bệnh trễ. Bác sĩ cũng cho biết thêm, các triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân teo ruột non cũng là triệu chứng lâm sàng ở một số bệnh lý khác, chính điều đó đã gây không ít khó khăn trong việc chẩn đoán bệnh nhân bị teo ruột non. Tiến hành điều trị cho 13 ca bị teo ruột non bẩm sinh ở Bệnh viện Nhi đồng, đã có 10 bệnh nhân sống và ra viện. Cũng theo bác sĩ Vũ Công Tầm, tỷ lệ này còn thấp hơn so với các tác giả trên thế giới thực hiện, tuy nhiên so với mặt bằng chung về điều trị teo ruột non ở Việt Nam thì tỷ lệ này hoàn toàn bình thường, với kết quả bước đầu thực nghiên cứu và điều trị, nhóm bác sĩ thực hiện đề tài cho rằng, điều đó tạo động lực rất lớn để mọi người cùng cố gắng phát triển chuyên môn, nhất là trong việc điều trị cho bệnh nhân bị teo ruột non bẩm sinh. Bác sĩ Phạm Anh Tuấn, người đồng thực hiện đề tài cho biết, trong quá trình điều trị cho bệnh nhân bị teo ruột non bẩm sinh, đã có nhiều ca bệnh rất đặc biệt mà các bác sĩ nghiên cứu đề tài còn nhớ rất rõ. Ca bệnh đặc biệt nhất là bệnh nhân tên Hồng, cân nặng 2,7 kg, bị teo hỗng tràng type 4. Bệnh nhân trong tình trạng viêm phúc mạc, có một ổ mủ đặc vàng xám, mô ruột chai sượng, chưa thông suốt. Tiến hành phẫu thuật cho bệnh nhân, chúng tôi dùng đến phương pháp là đặt hậu môn tạm (HMT), nuôi ăn tĩnh mạch, tiến hành nhỏ giọt dịch và thức ăn qua HMT đồng thời thụt tháo HMT để kích thích cho ruột non hoạt động và phát triển thêm. Sau 43 ngày khi ruột non đủ lớn và thông suốt bé được ăn bằng miệng và sau 63 ngày điều trị, bé Hồng được xuất viện trong tình trạng sức khỏe đã bình phục lại. Việc giành lại được tính mạng cho những sinh linh bé nhỏ như bé Hồng, chúng tôi cảm thấy hạnh phúc vô cùng, trong đó vai trò hồi sức tiền phẫu thuật và hậu phẫu sơ sinh đã chiếm phần lớn thời gian điều trị bệnh nhân hàng tháng trời. Để có được những bước phát triển cho nhi khoa Đồng Nai là sự phối hợp hiệu quả giữa nội và ngoại khoa trong đó ngoại khoa đóng vai trò mổ và nội khoa đóng vai trò quan trọng trong việc hồi sức và điều trị tiền - hậu phẫu. “Từ mô hình điều trị teo ruột non bẩm sinh ở trẻ sơ sinh đã tạo tiền đề để chúng tôi thành công trong những bệnh lý phức tạp hơn như thoát vị hoành bẩm sinh”- bác sĩ Anh Tuấn cho biết thêm. Diệu Linh