• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

(Chinhphu.vn) - Thông cáo báo chí của VPCP về thông tin chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

10/12/2021 09:28
Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về tình hình kinh tế - xã hội tháng 11, 11 tháng đầu năm 2021; dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022

Ngày 9/12/2021, Văn phòng Chính phủ đã ban hành Thông báo 329/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về tình hình kinh tế - xã hội tháng 11, 11 tháng đầu năm 2021; dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022.

Về nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm những tháng cuối năm 2021, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tập trung ưu tiên cho phòng, chống dịch COVID-19, không được lơ là, chủ quan, nhất là trong bối cảnh xuất hiện biến thể mới, có tốc độ lây lan nhanh và nguy hiểm hơn; đẩy nhanh tốc độ bao phủ vaccine, chủ động, có kế hoạch bảo đảm nguồn vaccine, thuốc điều trị, kít xét nghiệm để đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch trong thời gian tới.

Đẩy mạnh hơn nữa việc tuyên truyền, nâng cao ý thức và sự vào cuộc của người dân, doanh nghiệp phải tham gia tích cực, hiệu quả và thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội.  

Đồng thời, điều hành chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác để vừa giữ vững ổn định vĩ mô, vừa góp phần phục hồi và thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Tăng cường quản lý, điều hành giá cả, thị trường, bảo đảm cung ứng, lưu thông hàng hóa phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần giảm lượng hàng tồn kho, thúc đẩy tiêu dùng trong nước. Tiếp tục thực hiện biện pháp bình ổn giá, bảo đảm cung cầu hàng hóa thiết yếu, kiểm soát lạm phát.

Bên cạnh đó, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, ngân sách nhà nước; triển khai quyết liệt hóa đơn điện tử theo quy định của pháp luật về quản lý thuế; chủ động có giải pháp khai thác hiệu quả các dư địa thu ngân sách nhà nước.

Chủ động nghiên cứu và thực hiện hiệu quả các giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số, xây dựng Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, xã hội số, nhất là trong các lĩnh vực ngân hàng, thuế, hải quan, chứng khoán, bảo hiểm; đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành.

Tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc để đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, thu hút FDI, thúc đẩy triển khai công tác quy hoạch; chuẩn bị các điều kiện để tổ chức tốt Hội nghị của Chính phủ với các địa phương về đánh giá năm 2021 và triển khai kế hoạch năm 2022.

Về dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao bám sát vào Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2021 – 2025, Kết luận số 20-KL/TW ngày 16/10/2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), các Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 để góp ý trực tiếp vào dự thảo Nghị quyết; đồng thời xác định các nhiệm vụ, giải pháp, chỉ tiêu, đề án cụ thể và thời hạn hoàn thành thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý, bảo đảm ngắn gọn, rõ ràng, hiệu quả, khả thi và có trọng tâm, trọng điểm.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết để báo cáo Chính phủ.

Phê duyệt quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập ngành tư pháp

Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh đã ký Quyết định 2070/QĐ-TTg ngày 8/12/2021 phê duyệt quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành tư pháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Mục tiêu cụ thể giai đoạn 2021-2025, về mạng lưới các đơn vị sự nghiệp, sẽ thực hiện rà soát, sắp xếp, kiện toàn các đơn vị sự nghiệp công lập, bảo đảm tinh gọn, có cơ cấu hợp lý và đồng bộ, thống nhất, đảm bảo cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công phù hợp với danh mục dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu thuộc ngành tư pháp. Trong quá trình sắp xếp, đến năm 2025, phấn đấu giảm tối thiểu bình quân cả nước 10% đơn vị sự nghiệp công lập (không bao gồm các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu) và 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách Nhà nước so với năm 2021 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.

Về thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, các đơn vị tăng dần mức độ tự chủ hàng năm theo lộ trình quy định tại khoản 4 Điều 35 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập. Phấn đấu đến hết năm 2025, có tối thiểu 20% số đơn vị tự chủ tài chính. Giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách Nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập so với giai đoạn 2016-2020 theo Nghị quyết số 19-NQ/TW.

Về nội dung quy hoạch, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực công chứng, giai đoạn 2021-2025, duy trì các Phòng công chứng tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư và tại những nơi chưa có điều kiện xã hội hóa hoạt động công chứng để giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng dịch vụ công chứng; không thành lập mới Phòng công chứng đối với những nơi đã xã hội hóa được hoạt động công chứng.

Tiếp tục chuyển đổi hoạt động của các Phòng công chứng sang cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; các Phòng công chứng tăng dần mức độ tự chủ hàng năm theo lộ trình quy định tại khoản 4 Điều 35 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP; giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách Nhà nước cho Phòng công chứng so với giai đoạn 2016-2020; giảm 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước so với năm 2021; duy trì Trung tâm thông tin và tư vấn công chứng thuộc Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh, hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên.

Giai đoạn 2026-2030, tiếp tục duy trì các Phòng công chứng hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư để giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng dịch vụ công chứng; đẩy mạnh mức độ tự chủ tài chính hàng năm.

Không thành lập mới Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản

Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực đấu giá tài sản, giai đoạn 2021-2025, duy trì các Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư để giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng dịch vụ đấu giá tài sản; những nơi chưa có điều kiện xã hội hóa hoạt động đấu giá tài sản thì duy trì các Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản hiện có; không thành lập mới Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

Đẩy mạnh chuyển đổi hoạt động của các Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản sang cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; các Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tăng dần mức độ tự chủ hàng năm theo lộ trình quy định tại khoản 4 Điều 35 Nghị định số 60/2021/NĐ-CP; giảm bình quân 10% chi trực tiếp từ ngân sách Nhà nước cho Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản so với giai đoạn 2016-2020; giảm 10% biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách Nhà nước so với năm 2021.

Giai đoạn 2026-2030, tiếp tục duy trì các Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản hoạt động theo cơ chế tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư để giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng dịch vụ đấu giá tài sản; đẩy mạnh mức độ tự chủ tài chính hàng năm, phấn đấu chỉ còn Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ quản lý nhà nước.

Với các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, giai đoạn 2021-2025, mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 1 Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước để cung ứng dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý; các Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.

Giao dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022

Phó Thủ tướng Lê Minh Khái đã ký Quyết định 2047/QĐ-TTg giao dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022.

Theo đó, giao dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022 cho các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương (các bộ, cơ quan trung ương) và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Ủy quyền Bộ trưởng Bộ Tài chính giao cho các bộ, cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương các nhiệm vụ thu, chi sau: Số thu phí, lệ phí; số phí, lệ phí nộp ngân sách Nhà nước và số chi từ nguồn thu phí để lại của các bộ, cơ quan trung ương; thu chênh lệch thu, chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; chi tiết các khoản thu được loại trừ khi xác định số tăng thu ngân sách địa phương dành để cải cách chính sách tiền lương; chi nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia; chi đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức; bổ sung có mục tiêu chi thường xuyên ngân sách trung ương cho ngân sách từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo từng mục tiêu, nhiệm vụ theo mức dự toán đã được Quốc hội quyết định; tổng mức vay, vay bù đắp bội chi, vay để trả nợ gốc, mức bội chi của từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Về triển khai thực hiện dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn các bộ, cơ quan trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương triển khai thực hiện dự toán theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và Luật Đầu tư công.

Các bộ, cơ quan trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức khác có liên quan trong phạm vi quản lý được giao, có nhiệm vụ tập trung chỉ đạo quyết liệt công tác quản lý thu ngân sách Nhà nước; chống thất thu thuế, chống chuyển giá, trốn thuế, gian lận thương mại; đôn đốc thu hồi nợ thuế, giảm nợ đọng thuế; kiểm soát chặt chẽ hoàn thuế giá trị gia tăng; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính về thuế; thực hiện nghiêm quy định về đấu giá khi thực hiện bán, chuyển nhượng, cho thuê tài sản công, giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật; đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; chỉ đạo người đại diện phần vốn Nhà nước đôn đốc doanh nghiệp nộp kịp thời vào ngân sách Nhà nước số thu cổ tức, lợi nhuận được chia cho phần vốn Nhà nước tại các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

Đề cao kỷ luật, kỷ cương tài chính ngân sách Nhà nước; phấn đấu hoàn thành cao nhất nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước năm 2022. Tăng cường trách nhiệm người đứng đầu trong quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách; phân bổ và giao dự toán cho đơn vị sử dụng ngân sách đầy đủ, đúng thời hạn theo quy định. Điều hành chi ngân sách Nhà nước chặt chẽ, hiệu quả, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên; giảm mạnh kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo, khánh tiết, đi nghiên cứu, khảo sát nước ngoài để dành nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch COVID-19, khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, dự phòng cho các trường hợp bất khả kháng; tập trung chỉ đạo giải ngân vốn đầu tư công, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, cản trở làm chậm tiến độ giao, giải ngân vốn đầu tư nguồn ngân sách Nhà nước; cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu trong trường hợp giải ngân chậm, gắn với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Đẩy mạnh thực hiện tinh giản biên chế, sắp xếp, tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, tổ chức lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập, giảm hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách cho các đơn vị sự nghiệp công lập phù hợp với mức độ tự chủ theo quy định. Triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, bảo đảm hiệu quả sử dụng ngân sách Nhà nước.

Tiếp tục thực hiện cơ chế tài chính đặc thù được cấp có thẩm quyền quy định đối với một số cơ quan hành chính nhà nước cho tới khi thực hiện cải cách tiền lương theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động trong doanh nghiệp.

Giao Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể tính tiết kiệm tối thiểu 15% chi thường xuyên (ngoài chi tiền lương, phụ cấp, các khoản đóng góp theo lương và các khoản chi trực tiếp cho con người) so với dự toán năm 2021 để cắt giảm trước khi giao dự toán đối với các cơ quan, đơn vị đang được áp dụng cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù theo phê duyệt của cấp có thẩm quyền sử dụng nguồn phí được để lại, nguồn thu ngoài ngân sách Nhà nước (tương tự như đối với các cơ quan, đơn vị áp dụng cơ chế tài chính, thu nhập đặc thù sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước).

Giao kế hoạch đầu tư vốn ngân sách Nhà nước năm 2022

Phó Thủ tướng Lê Minh Khái đã ký Quyết định số 2048/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch đầu tư vốn ngân sách Nhà nước năm 2022 cho các bộ, cơ quan Trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu căn cứ kế hoạch đầu tư vốn ngân sách Nhà nước năm 2022 được giao, Thủ trưởng các bộ, cơ quan Trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phân bổ kế hoạch đầu tư vốn ngân sách Trung ương năm 2022 đúng quy định, hiệu quả, đẩy nhanh tốc độ giải ngân; bảo đảm việc phân bổ vốn ngân sách Trung ương năm 2022 tuân thủ điều kiện, thủ tục, thứ tự ưu tiên bố trí vốn quy định tại Luật Đầu tư công, các Nghị quyết của Quốc hội số 34/2021/QH15 ngày 13 tháng 11 năm 2021 về dự toán ngân sách Nhà nước năm 2022 và số 40/2021/QH15 ngày 13 tháng 11 năm 2021 về phân bổ ngân sách Trung ương năm 2022; theo tổng mức đầu tư và cơ cấu nguồn vốn của dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và thứ tự ưu tiên như sau:

- Bố trí vốn để thanh toán hết nợ đọng xây dựng cơ bản phát sinh trước ngày 01 tháng 01 năm 2015 theo đúng mức được Thủ tướng Chính phủ giao;

- Bố trí vốn để thu hồi số vốn ứng trước còn lại phải thu hồi trong Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 – 2025 tối thiểu bằng mức được Thủ tướng Chính phủ giao;

- Bố trí đủ vốn cho các dự án đã hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng trước năm 2022;

- Bố trí đủ vốn cho dự án nhóm C chuyển tiếp từ giai đoạn 2016 - 2020 sang giai đoạn 2021 - 2025 của các địa phương, các dự án chuyển tiếp đã quá thời gian bố trí vốn theo quy định, các dự án chuyển tiếp phải hoàn thành năm 2022 theo thời gian bố trí vốn;

- Bố trí đủ vốn cho các nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư, nhiệm vụ quy hoạch và vốn đối ứng cho các dự án ODA, vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn nhà nước tham gia vào các dự án PPP; bố trí đủ các khoản trả nợ đến hạn năm 2022 thuộc nghĩa vụ thanh toán của ngân sách trung ương;

- Bố trí đủ vốn cho các dự án chuyển tiếp thực hiện theo tiến độ được phê duyệt;

- Sau khi bố trí đủ vốn cho các nhiệm vụ nêu trên mới bố trí vốn cho các dự án khởi công mới đã đủ thủ tục đầu tư, trong đó ưu tiên bố trí đủ vốn theo tiến độ cho các dự án quan trọng quốc gia, dự án đường bộ cao tốc, trọng điểm, dự án đường ven biển, dự án kết nối, có tác động liên vùng có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững;

- Mức vốn bố trí cho từng dự án không vượt quá tổng mức đầu tư dự án trừ đi lũy kế vốn đến hết năm 2021 và không vượt quá số vốn kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021 - 2025 trừ đi số vốn đã bố trí trong kế hoạch năm 2021 của dự án.

- Mức vốn bố trí cho các nhiệm vụ, dự án phải phù hợp với khả năng thực hiện và giải ngân trong năm 2022;

- Ngoài các nguyên tắc nêu trên, các chương trình, dự án được bố trí kế hoạch vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài năm 2022 theo thứ tự ưu tiên như sau: 1- Dự án đủ thủ tục đầu tư kết thúc Hiệp định trong năm 2022 không có khả năng gia hạn Hiệp định, chuyển tiếp, hoàn thành trong năm 2022; 2- Dự án khởi công mới đã ký Hiệp định và có khả năng giải ngân trong năm 2022.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chủ động rà soát, cắt giảm kế hoạch vốn của các dự án triển khai chậm để bổ sung vốn cho các dự án có khối lượng hoàn thành cao, bảo đảm đúng quy định và giải ngân hết kế hoạch vốn được giao, gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính ngay khi có Quyết định điều chỉnh vốn giữa các dự án để tổng hợp.

Đồng thời, tập trung đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành dự án quan trọng quốc gia, dự án cấp thiết đang đầu tư dở dang. Đề cao kỷ luật, kỷ cương đầu tư công, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, cản trở làm chậm tiến độ giao vốn, giải ngân vốn; cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu trong trường hợp giải ngân chậm, gắn kết quả giải ngân với đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Đến hết niên độ ngân sách năm 2022, các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương không giải ngân tối thiểu đạt 90% kế hoạch được giao là một trong các tiêu chí để xem xét đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu và cán bộ, công chức liên quan theo quy định.

Phê duyệt Đề án "Kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050"

Phó Thủ tướng Lê Văn Thành đã ký Quyết định số 2067/QĐ-TTg ngày 8/12/2021 phê duyệt Đề án "Kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050".

Đề án trên được thực hiện trên phạm vi toàn quốc, tập trung vào các khu vực ưu tiên là đối tượng của quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia, bao gồm: Khu bảo tồn thiên nhiên, hành lang đa dạng sinh học, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, khu vực đa dạng sinh học cao.

Mục tiêu chung của Đề án thực hiện điều tra, kiểm kê, quan trắc, thiết lập và vận hành cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia nhằm đánh giá hiện trạng, giá trị, diễn biến đa dạng sinh học phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ theo yêu cầu chuyển đổi số, tăng cường hiệu quả quản lý đa dạng sinh học của các bộ, ngành, địa phương và hoạt động phát triển kinh tế, xã hội của các tổ chức, doanh nghiệp.

Đề án phấn đấu đến năm 2030, Chương trình kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học tại các khu vực ưu tiên được triển khai thực hiện trên toàn quốc.

Cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật thực hiện kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và vận hành cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học được hoàn thiện nâng cấp; 100% đội ngũ cán bộ thực hiện điều tra, kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo đa dạng sinh học được tăng cường năng lực. Hệ thống quan trắc đa dạng sinh học được vận hành hiệu quả.

Tiếp tục phát triển, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học theo mức độ tăng trưởng, phát triển của yêu cầu quản lý nhà nước, tiến bộ khoa học công nghệ về khoa học dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa hiệu quả khai thác, ứng dụng. Dữ liệu về thiên nhiên, đa dạng sinh học sẽ góp phần phát triển kinh tế số, xã hội số; huy động được sự tham gia của khu vực tư nhân, cộng đồng vào các hoạt động phục vụ số hóa quản lý thiên nhiên và đa dạng sinh học; tạo dựng nguồn thông tin chính thống, kịp thời cho các nhà đầu tư khi tiến hành lập dự án nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí.

Để đạt mục tiêu trên, Đề án sẽ triển khai xây dựng Chương trình kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học theo bộ chỉ tiêu kiểm kê, chỉ thị quan trắc; thí điểm các phương pháp, quy trình, định mức kinh tế - kỹ thuật điều tra, kiểm kê, quan trắc đa dạng sinh học; hoàn thiện, phát triển bộ chỉ tiêu kiểm kê, chỉ thị quan trắc; hoàn thiện hành lang pháp lý; phương pháp, quy trình, hướng dẫn kỹ thuật, định mức kinh tế - kỹ thuật điều tra, kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia

Xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu, lập báo cáo đa dạng sinh học thống nhất từ trung ương tới địa phương; tăng cường năng lực, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, huy động nguồn lực; tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên về điều tra, kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo, xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học và cập nhật thông tin, dữ liệu.

Nghiên cứu đề xuất xây dựng Chiến lược phát triển ngành xe nhiên liệu sạch tại Việt Nam

Ngày 8/12/2021, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản số 8980/VPCP-CN về đề xuất xây dựng Chiến lược phát triển ngành xe nhiên liệu sạch tại Việt Nam.

Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam gửi Thủ tướng Chính phủ đề xuất về chiến lược phát triển ngành xe nhiên liệu sạch để thu hút đầu tư nước ngoài tiến tới xuất khẩu trong 5 năm tới tại Việt Nam. Về vấn đề này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có ý kiến chỉ đạo như sau:

Bộ trưởng Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, xử lý các kiến nghị của Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam; báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trước ngày 10/12/2021.

Bổ nhiệm lãnh đạo 2 cơ quan

Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định bổ nhiệm Phó Chính ủy Quân chủng Hải quân và Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.

Cụ thể, tại Quyết định 2059/QĐ-TTg ngày 7/12/2021, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm đồng chí Chuẩn đô đốc Hải quân Đỗ Văn Yên, Chính ủy Vùng 2, Quân chủng Hải quân, giữ chức Phó Chính ủy Quân chủng Hải quân.

Tại Quyết định 2058/QĐ-TTg ngày 7/12/2021, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm ông Tô Dũng Thái, Thành viên Hội đồng thành viên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, giữ chức Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam./.