• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Tìm giải pháp phát triển "Mỗi làng một nghề"

(Chinhphu.vn) - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) đang đẩy mạnh chương trình “Mỗi làng một nghề” với nội dung cơ bản: Cộng đồng dân cư trong mỗi thôn, mỗi làng, mỗi địa phương dựa vào thế mạnh của mình xây dựng được ít nhất là một dự án phát triển nghề phi nông nghiệp cụ thể phù hợp với điều kiện địa lý, kinh tế, lợi thế so sánh và hướng phát triển của địa phương.

15/09/2009 18:30

Ảnh minh họa

Tại buổi tọa đàm “Mỗi làng một sản phẩm” do Bộ NNPTNT phối hợp với Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức tại Hà Nội ngày 15/9, Thứ trưởng Bộ NNPTNT Hồ Xuân Hùng cho biết, việc xây dựng chương trình “Mỗi làng một nghề” sẽ phát huy được nguồn lực sẵn có của địa phương, tạo ra bước chuyển cơ bản về ngành nghề nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỉ trọng sản phẩm và lao động trong nông nghiệp sang ngành nghề và dịch vụ.

Giáo sư Morihiko Hizamatsu Chủ tịch Hiệp hội Mỗi làng một sản phẩm của Nhật Bản đồng thời là người đề xướng phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” của thế giới cũng khẳng định, mô hình “Mỗi làng một sản phẩm” trước hết là làm cho nông sản mang tính địa phương, sau đó nhân rộng ra toàn cầu, lấy đặc trưng của sản phẩm là nhân tố chính. Không dựa vào sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, người nông dân phải độc lập, sáng tạo, tự chủ. Người nông dân sẽ tự chế biến, sản xuất thành sản phẩm của riêng địa phương mình, không qua thương lái, từ đó sẽ đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho nông dân.

Đối với Việt Nam, theo kết quả điều tra của Cục Chế biến, Thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối (CBNLTS&M) (Bộ NNPTNT) và JICA thực hiện, Việt Nam hiện có trên 2.000 làng nghề với nhiều loại sản phẩm khác nhau.

Số làng nghề truyền thống chỉ chiếm khoảng 15% tổng số làng nghề của cả nước, còn lại là các làng nghề mới hình thành. Hầu hết đều làng nghề có quy mô nhỏ và vừa. Các làng nghề có quy mô nhỏ chiếm trên 60% và số làng nghề quy mô vừa vào khoảng 36%, còn số làng nghề có quy mô lớn chỉ chiếm không quá 4% .  

Có 3 khu vực có sự phát triển của làng nghề tương đối tập trung là đồng bằng sông Hồng, Tây Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long. Riêng vùng Tây Nguyên có 4 tỉnh, song không hình thành một làng nghề nào do chưa có sự giao lưu hàng hoá về các loại sản phẩm thủ công.

Từ số liệu của Cục CBNLTS&M có thể thấy, một số nghề thủ công có số lượng làng nghề vượt trội như: Nghề mây tre đan chiếm số lượng lớn nhất với 713 làng nghề (24,0%) , sau đó là các làng nghề về dệt vải (432 làng, 14,5%), chế biến gỗ (342 làng, 11,5%) và thêu ren (341 làng, 11,5%)…  

Việt Nam có rất nhiều địa phương và có rất nhiều nghề thủ công truyền thống sản xuất ra những sản phẩm mang đậm nét văn hoá của các dân tộc, địa phương,  làm nên nét riêng biệt, độc đáo của đất nước Việt Nam như: Gốm sứ Bát Tràng, Chu Đậu; tranh Đông hồ, Hàng Trống; chiếu cói Nga Sơn; Lụa Hà Đông, Tân Châu; chạm đồng Đồng Xâm, Đại Bái; Đúc đồng Ngũ Xã, nón Huế, Giấy dó làng Bưởi (Hà Nội), mây tre đan Chương Mỹ (Hà Tây cũ)…, Trong khi đó, rất nhiều sản phẩm của các nghề, làng nghề mới đã nổi tiếng trên thị trường trong và ngoài nước như tranh thêu XQ, thảm từ bèo lục bình, hoa giấy, đồ lưu niệm từ thổ cẩm…  

Tồn tại của làng nghề Việt Nam

Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn vẫn mang tính tự phát ở từng địa phương, sử dụng những công nghệ, thiết bị lạc hậu. Trên 80% các cơ sở không đủ vốn đầu tư đổi mới kỹ thuật, mở rộng quy mô sản xuất. Hầu hết các hộ, cơ sở ngành nghề nông thôn đều sử dụng nhà ở làm nơi sản xuất..  

Sản xuất thiếu ổn định do thiếu nguyên liệu. Khoảng 35% số cơ sở ngành nghề nông thôn thiếu nguyên liệu nghiêm trọng, chỉ duy trì sản xuất cầm chừng với nguyên liệu có nguồn gốc không rõ ràng, không ổn định.  

Sự liên kết giữa các làng nghề, nghệ nhân, thợ thủ công và các doanh nghiệp trong mở mang, truyền nghề, cấy nghề, cung cấp thông tin thi trường, tiêu thụ sản phẩm chưa rộng rãi và chặt chẽ.

Chưa khai thác tốt thị trường trong nước và xuất khẩu. Kiểu dáng, chất lượng nhiều loại sản phẩm còn kém, không đồng đều. Công tác đăng ký thương hiệu, thiết kế cải tiến chất lượng sản phẩm, mẫu mã bao bì, kiểu dáng công nghiệp còn rất hạn chế. Chưa khai thác tốt tiềm năng du lịch trong việc quảng bá và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống.  

Công tác đào tạo, hướng dẫn, truyền nghề chưa được chú trọng đúng mức. Năng lực thiết kế mẫu mã sản phẩm của đội ngũ thợ còn hạn chế, hiểu biết về bản sắc văn hoá truyền thống chưa sâu. Việc giữ gìn, tôn vinh và tuyên truyền bản sắc văn hoá dân tộc trong sản phẩm truyền thống chưa được coi trọng.  

Giải pháp phát triển mỗi làng một nghề 

Để hạn chế những tồn tại trên, Bộ NNPTNT đã đưa ra một số nội dung và giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển chương trình mỗi làng một nghề. Trong đó, các hoạt động ưu tiên hàng đầu  là mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề; tăng cường liên kết với các doanh nghiệp và các nhà hỗ trợ để cải tiến mẫu mã, cung cấp vốn, thông tin thị trường; đào tạo nâng cao năng lực quản lý kinh doanh của các chủ cơ sở sản xuất, tay nghề thợ thủ công, truyền nghề… Trên cơ sở đó thu hút nhiều hơn nữa số hộ, số lao động tham gia làm nghề, nâng cao thu nhập của người dân. Làng được công nhận là làng nghề thì nghề đó phải trở thành nguồn thu nhập chủ lực của người dân địa phương.

Với những làng có nhiều nghề, nhiều sản phẩm thì cần lựa chọn ra ít nhất một nghề có sản phẩm mang nét đặc trưng nhất về địa lý, phong tục, văn hoá, truyền thống… của địa phương, có thị trường tiêu thụ lớn, để lập kế hoạch phát triển dài hạn, tập trung nguồn lực, có chính sách ưu đãi thích hợp, phát triển sản phẩm theo hướng củng cố nâng cao kỹ năng truyền thống, đưa công nghệ mới vào các khâu sản xuất, đồng thời làm rõ nét văn hoá truyền thống của địa phương trong sản phẩm, qua đó tạo ra sự khác biệt so với sản phẩm cùng loại của địa phương khác; cùng với đó là việc thành lập hiệp hội ngành nghề; xây dựng, quảng bá rộng rãi thương hiệu, tiếp thị, bán hàng, quan tâm giải quyết vấn đề môi trường, biến sản phẩm đó thành sản phẩm chủ lực, mang đặc trưng của địa phương, phát triển bền vững…  

Đối với các địa phương có nghề truyền thống đã, đang hoặc sẽ có nguy cơ bị mai một, cần nhanh chóng có kế hoạch bảo tồn, lưu giữ những nét văn hoá truyền thống tồn tại trong sản phẩm, bí quyết làm nghề, đồng thời phải chú trọng đến việc thiết kế nên những sản phẩm mới phù hợp với thị trường tiêu thụ hiện đại, dựa trên các nét văn hoá, chất liệu hoặc công nghệ sản xuất truyền thống nhằm nâng cao khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, làm sống lại sự phồn thịnh vốn có của các địa phương này. 

Đối với các làng chưa có nghề phi nông nghiệp, xây dựng các dự án phát triển nghề phi nông nghiệp dựa trên điều kiện cụ thể và bản sắc văn hoá trong vùng, chú trọng khai thác lợi thế so sánh của địa phương, phát triển các nghề dịch vụ nhằm tạo ra nhiều công ăn, việc làm và giải quyết vấn đề lao động dôi dư tại địa phương. Khi xây dựng các dự án này cần đặc biệt chú trọng đến phương pháp xây dựng dự án có sự tham gia của người dân để có thể phát huy được tối đa thế mạnh, hoặc lợi thế so sánh của địa phương làm tiền đề cho sự phát triển bền vững của nghề sau này… 

Kiều Liên