Dự án có tên đầy đủ: “Ứng dụng công nghệ thu trữ nước mưa, xây dựng mô hình nông lâm nghiệp kết hợp thủy lợi, góp phần phòng chống sa mạc hóa vùng đất cát khô hạn ven biển”. Đây là dự án thuộc Chương trình Xây dựng mô hình ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ (KHCN) phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn từ nay đến năm 2015. Theo đó Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường - Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam là cơ quan chủ trì chuyển giao công nghệ cho Trung tâm Thông tin & Ứng dụng tiến bộ KHCN Bình Thuận thực hiện dự án.
Với đặc trưng dải đất cát ven biển tỉnh ta là khô hạn, lượng mưa không đáng kể do vậy thường xảy ra hạn hán và sa mạc hóa ngày càng gay gắt. Thêm nữa, điều kiện địa hình không phù hợp xây dựng công trình thủy lợi mà chỉ dựa vào nước trời, nên người dân vùng này luôn phập phồng nguy cơ mất mùa. Qua theo dõi cho thấy, hàng năm có khoảng 5.000 - 8.000 ha diện tích nông nghiệp bị khô hạn, có năm như 2004 hạn hán làm thiệt hại đến hơn 280 tỷ đồng… Chính vì vậy, việc ứng dụng công nghệ thu trữ nước mưa đủ cấp nước tưới bổ sung cho cây trồng trên vùng đất cát là một giải pháp khả thi.
Kỹ sư Nguyễn Hoàng Nhân - Chủ nhiệm dự án cho biết, mô hình này đã áp dụng tại một số tỉnh có điều kiện địa hình, đặc điểm khí hậu tương tự và đem lại hiệu quả cao. Với tỉnh ta, dự án hướng đến mục tiêu khắc phục hạn hán và sa mạc hóa, góp phần phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo cũng như bảo vệ môi trường sinh thái vùng đất cát ven biển. Trong thời gian 3 năm, dự án sẽ triển khai ở 6 xã thuộc 3 huyện: Lương Sơn, Hòa Thắng, Hồng Phong (Bắc Bình), Hồng Liêm, Hồng Sơn (Hàm Thuận Bắc), Chí Công (Tuy Phong). Giải pháp khoa học công nghệ thu trữ nước mưa và bố trí cây trồng nông lâm kết hợp được xây dựng 6 mô hình trình diễn, với 1- 3 ha/mô hình. Tuy vậy, tùy tình hình canh tác và khả năng áp dụng mô hình cụ thể ở từng xã mà dự án có thể phân bổ khác nhau…
Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, quy trình thiết kế hệ thống thu trữ nước mưa bằng vật liệu xi măng đất, phù hợp tập quán canh tác của người dân địa phương. Các bể chứa nước được gia cố chống thấm với dung tích từ 18-20 m 3 , có phần che đậy nhằm bảo quản lượng nước thu trữ, tránh hiện tượng bốc hơi. Riêng phần thu nước là một tấm vải địa kỹ thuật HDPE, được rải trên sườn dốc hướng dòng chảy xuống phía dưới để tập trung chảy vào bể chứa. Việc lấy nước ra sẽ dựa vào địa hình: Nếu dốc thì dùng vòi tự chảy, còn trường hợp bằng phẳng có thể dùng máy bơm sao cho đảm bảo lấy hết được nước trữ.
Có được nước trữ, cây trồng trên vùng đất cát được bố trí theo mô hình “nông nghiệp trú ẩn” nhằm tăng khả năng giữ ẩm, chống bốc hơi cho đất. Theo gợi ý của dự án, hàng rào trong mô hình nên trồng cây dầu lai chịu hạn cao, có khả năng chống gió tầng thấp và chắn gia súc không vào phá hại. Khu vành đai có thể trồng cây neem mới du nhập, khi cao trên 3 mét phát triển nhiều cành lá xanh quanh năm, có tác dụng chắn gió tầng trung. Còn phía bên trong bố trí trồng cây trôm kết hợp xen canh cây nông nghiệp như các cây họ đậu, dưa… Trong đó cây trôm giữ nhiệm vụ chắn gió tầng cao, riêng cây nông nghiệp sau khi thu hoạch có thể dùng thân cây bón phủ vào gốc trôm.
Nếu mô hình thành công, những vùng đất đồi cát bỏ hoang sẽ được tận dụng canh tác ngay trong mùa khô bằng việc thu trữ nước mưa để tưới bổ sung. Hiệu quả cũng đã ghi nhận từ các mô hình thí điểm: Ban đầu chỉ cho thu nhập 5- 10 triệu đồng/ha/năm từ cây nông nghiệp ngắn ngày, nhưng khi vườn trôm đã lớn có thể đem lại vài chục đến vài trăm triệu đồng… Quả thực, đây là dự án rất thiết thực cho vùng đất cát khô hạn ven biển Bình Thuận với tổng kinh phí 2.300 triệu đồng (1/2 từ nguồn ngân sách sự nghiệp KHCN trung ương). Nếu triển khai thành công, không chỉ có 6 xã mà tương lai còn có thêm nhiều khu vực ven biển từ Tân Thắng, Hàm Tân đến Bình Thạnh, Tuy Phong được ứng dụng mô hình.
Đ.Quốc - B.Thuận