• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Vành đai 5 vùng Thủ đô dự kiến xây dựng 8 làn xe, khởi công trước năm 2030

(Chinhphu.vn) - Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đề nghị tư vấn đường Vành đai 5 Thủ đô nghiên cứu theo hướng thống nhất quy mô đầu tư tuyến chính với 6 làn xe, có dự phòng mở rộng lên 8 làn xe đối với đoạn qua địa bàn TP. Hà Nội. Đồng thời, nghiên cứu đầu tư 2 tuyến đường song hành.

13/05/2026 17:33
Vành đai 5 vùng Thủ đô dự kiến xây dựng 8 làn xe, khởi công trước năm 2030- Ảnh 1.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh chủ trì cuộc họp với các địa phương về Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô

Ngày 13/5, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh chủ trì cuộc họp với các địa phương về Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đầu tư đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô.

Báo cáo tại cuộc họp, Ban Quản lý dự án Thăng Long và Liên danh tư vấn lập báo cáo tiền khả thi do Công ty Cổ phần Tư vấn thiết kế đường bộ (HECO) dẫn đầu cho biết, Dự án đầu tư xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô là dự án quan trọng quốc gia.

Theo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tuyến Vành đai 5 được xác định là công trình trọng điểm, dự kiến triển khai trong giai đoạn 2026 - 2030.

Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 23/11/2022 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định: "Đến năm 2030, hoàn chỉnh các tuyến đường bộ cao tốc hướng tâm và các tuyến vành đai vùng Thủ đô (ưu tiên vành đai 4, vành đai 5)".

Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng xác định tuyến Vành đai 5 có lộ trình đầu tư trước năm 2030.

Vì vậy, việc nghiên cứu và đầu tư tuyến Vành đai 5 trong giai đoạn 2026-2030 là cần thiết, phù hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước và các quy hoạch có liên quan.

Đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng gia tăng của Thủ đô

Bên cạnh đó, đầu tư đường Vành đai 5 sẽ đáp ứng nhu cầu vận tải ngày càng gia tăng tại khu vực phát triển năng động nhất cả nước; tăng cường tính kết nối và đồng bộ hạ tầng giao thông giữa Thủ đô Hà Nội với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc; nâng cao năng lực vận tải, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng.

Trên cơ sở đó, tại báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, tư vấn đề xuất mục tiêu đầu tư dự án nhằm hoàn thiện kết cấu hạ tầng, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội toàn diện; nâng cao chất lượng đời sống nhân dân; mở ra cơ hội thu hút đầu tư và phát triển kinh tế địa phương; đồng thời hoàn thành mục tiêu Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã đề ra.

Mục tiêu cụ thể của dự án gồm: Đáp ứng nhu cầu vận tải, giảm tải và bảo đảm an toàn giao thông trên tuyến Vành đai 5; Hoàn thành và đưa vào khai thác đồng bộ các tuyến đường bộ cao tốc có năng lực lớn, an toàn và tốc độ cao trên hành lang vận tải các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng.

Tăng cường liên kết vùng, thúc đẩy hợp tác và phát triển giữa Đồng bằng sông Hồng và Trung du, miền núi phía Bắc; Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập sâu rộng; từng bước hoàn thiện mạng lưới giao thông đường bộ theo quy hoạch; Góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Theo đề xuất của tư vấn, dự án có điểm đầu tại Km0 (tương ứng Km 367+100 đường Hồ Chí Minh), thuộc địa phận xã Yên Bài, thành phố Hà Nội; điểm cuối trùng với điểm đầu, tạo thành tuyến khép kín.

Vành đai 5 - Vùng Thủ đô có tổng chiều dài tuyến 340km

Tổng chiều dài tuyến khoảng 340km (không bao gồm 33km đi trùng với cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên và cao tốc Hà Nội - Lào Cai).

Tuyến đi qua địa bàn 7 địa phương gồm: TP. Hà Nội (51km), Ninh Bình (36km), Hưng Yên (27km), TP Hải Phòng (63km), Bắc Ninh (49km), Thái Nguyên (36km) và Phú Thọ (78km).

Về quy mô đầu tư, tuyến chính cao tốc được đề xuất xây dựng theo quy mô 6 làn xe theo quy hoạch; riêng đoạn qua Thái Nguyên (từ Km 248+124 đến cao tốc CT.07) quy mô 4 làn xe; tốc độ thiết kế 100-120km/h.

Các địa phương đồng thời quy hoạch hệ thống đường song hành, cây xanh và vỉa hè. Tổng bề rộng mặt cắt ngang (bao gồm cao tốc, đường song hành và cây xanh) tối thiểu 120m.

Với quy mô nêu trên, sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 265.517 tỷ đồng, trong đó chi phí giải phóng mặt bằng và tái định cư khoảng 81.356 tỷ đồng.

Vành đai 5 vùng Thủ đô dự kiến xây dựng 8 làn xe, khởi công trước năm 2030- Ảnh 2.

Hướng tuyến đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô theo đề xuất ban đầu của tư vấn lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi

Các địa phương thống nhất với hướng tuyến 

Đóng góp ý kiến đối với báo cáo nghiên cứu tiền khả thi của dự án, đại diện các địa phương cơ bản thống nhất với phương án hướng tuyến do tư vấn đề xuất. 

Đối với các nút giao, cần rà soát và dự báo chính xác lưu lượng giao thông để lựa chọn giải pháp kỹ thuật tối ưu, xác định quy mô đầu tư và hình thức tổ chức nút giao phù hợp; bảo đảm vừa đáp ứng yêu cầu dự trữ quỹ đất, vừa bảo đảm lưu thông thông suốt, giải phóng nhanh phương tiện, tránh hình thành các điểm nghẽn, ùn tắc trong tương lai.

Về hình thức đầu tư, các địa phương đề nghị áp dụng hình thức đầu tư công, sử dụng vốn ngân sách Trung ương nhằm bảo đảm tiến độ triển khai dự án sớm, hiệu quả và khả thi. Các địa phương hiện gặp nhiều khó khăn về cân đối ngân sách do phải bố trí nguồn lực thực hiện nhiều dự án của Trung ương trên địa bàn, bao gồm cả công tác giải phóng mặt bằng và các dự án được giao triển khai.

Các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng đề nghị tư vấn tiếp tục rà soát, cập nhật dự báo nhu cầu vận tải, lưu lượng trên tuyến chính, tại các nút giao và đường song hành để xác định quy mô đầu tư phù hợp. Đồng thời, cần tính đến các yếu tố như chuyển đổi phương tiện xanh, biến đổi khí hậu, khả năng chống ngập; nghiên cứu đầy đủ phương án trạm thu phí, trạm dừng nghỉ để xác định chính xác tổng mức đầu tư toàn tuyến.

Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Anh Tuấn nhấn mạnh tiến độ hoàn thành báo cáo nghiên cứu tiền khả thi là rất gấp để kịp báo cáo các cơ quan có thẩm quyền, hướng tới mục tiêu trình Quốc hội xem xét chủ trương đầu tư tại kỳ họp tới. Các địa phương cần nghiên cứu kỹ phương thức đầu tư và nguồn vốn, đặc biệt đối với hệ thống đường song hành, do liên quan trực tiếp đến trách nhiệm quản lý, vận hành và khai thác sau khi dự án hoàn thành.

Đầu tư tuyến chính 6 làn xe, dự phòng mở rộng lên 8 làn xe

Thống nhất với ý kiến của các địa phương và các cơ quan liên quan, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh khẳng định đây là dự án quan trọng quốc gia, đồng thời là công trình giao thông trọng điểm của ngành xây dựng, triển khai theo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Mặc dù tiến độ rất khẩn trương, dự án cần được nghiên cứu bài bản, kỹ lưỡng, có tầm nhìn dài hạn 50 - 100 năm; phương thức triển khai cần đổi mới, sáng tạo; đồng thời rà soát, cập nhật đầy đủ các quy hoạch liên quan, bao gồm cả quy hoạch địa phương, nhằm bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả lâu dài.

Bộ trưởng đề nghị tư vấn nghiên cứu theo hướng thống nhất quy mô đầu tư tuyến chính với 6 làn xe, có dự phòng mở rộng lên 8 làn xe đối với đoạn qua địa bàn TP. Hà Nội. 

Đồng thời, nghiên cứu đầu tư 2 tuyến đường song hành; tuy nhiên, cần phối hợp chặt chẽ với các địa phương để đánh giá cụ thể từng vị trí, từng đoạn tuyến đi qua khu dân cư, khu đô thị, khu công nghiệp và các điểm kết nối với hệ thống đường hiện hữu. Trên cơ sở đó xác định rõ đoạn nào cần bố trí đường song hành, đoạn nào chỉ cần đường dân sinh hoặc đường gom với quy mô phù hợp, bảo đảm hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí.

Đối với các công trình cầu trên tuyến, việc bố trí cầu nhỏ thực hiện theo địa bàn từng tỉnh, phù hợp với thiết kế tuyến. Riêng 3 cầu lớn kết nối giữa hai địa phương gồm cầu Vĩnh Thịnh, cầu Thái Hà và cầu sông Luộc sẽ do Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm đầu tư.

Hệ thống hầm chui dân sinh cũng cần được nghiên cứu, lựa chọn phương án thiết kế thống nhất, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật, mỹ quan, tĩnh không thông xe, đồng thời có giải pháp thoát nước phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi và an toàn cho phương tiện cơ giới lưu thông giữa hai tuyến đường song hành hai bên cao tốc.

Bên cạnh đó, các nút giao, trạm dừng nghỉ và trạm thu phí cần được nghiên cứu kỹ lưỡng trên cơ sở ý kiến của các địa phương và đơn vị liên quan, bảo đảm tính đồng bộ, an toàn và hiệu quả khai thác.

Đặc biệt, các vấn đề liên quan đến môi trường và hạ tầng kỹ thuật, như bố trí trạm sạc, trạm thay pin dọc tuyến để phục vụ phương tiện giao thông điện, cần được xem xét, tích hợp ngay trong giai đoạn nghiên cứu hiện nay.

Bộ trưởng yêu cầu Ban Quản lý dự án Thăng Long và đơn vị tư vấn nghiêm túc tiếp thu đầy đủ các ý kiến đóng góp, hoàn thiện báo cáo nghiên cứu tiền khả thi bảo đảm chất lượng, tiến độ và tính khả thi của dự án.

Phan Trang