• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Vật liệu gỗ xây dựng: Góc nhìn từ thị trường nguyên liệu đến chiến lược lâm nghiệp

(Chinhphu.vn) - Các công trình xây dựng hiện nay đang theo xu hướng ngày càng phải thực hiện các tiêu chí "xanh". Gỗ được coi là một vật liệu thay thế nhiều hơn trong vật liệu xây dựng tới đây.

27/03/2026 15:47
Vật liệu gỗ xây dựng: Góc nhìn từ thị trường nguyên liệu đến chiến lược lâm nghiệp- Ảnh 1.

Việt Nam hiện có trên 14,7 triệu ha rừng, trong đó rừng trồng chiếm tỷ trọng lớn và cung cấp khoảng 20-22 triệu m³ gỗ mỗi năm - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Yêu cầu thị trường đang tác động đến nguồn cung của gỗ

Theo TS. Nguyễn Thị Thu Trang - Nguyên Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập (VCCI), các yêu cầu thị trường về các sản phẩm nói chung hiện chia thành hai nhóm song hành. Một là yêu cầu "cứng", đó là các quy định pháp lý bắt buộc như cơ chế điều chỉnh carbon tại biên giới (CBAM), quy định chống mất rừng (EUDR), tiêu chuẩn thiết kế sinh thái, kinh tế tuần hoàn. Hai là yêu cầu "mềm" đến từ người tiêu dùng và nhà mua hàng - những yếu tố ngày càng có sức chi phối mạnh mẽ đến quyết định thị trường.

Điểm đáng chú ý là các tiêu chí xanh đang chuyển từ khuyến khích sang bắt buộc, từ đơn lẻ sang hệ thống. Điều này buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc toàn diện nếu muốn duy trì khả năng xuất khẩu và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, vật liệu gỗ, đặc biệt là gỗ rừng trồng và gỗ kỹ thuật nổi lên như một lựa chọn có lợi thế cạnh tranh rõ rệt. Không thuộc nhóm phát thải cao như thép, xi măng hay nhôm, vật liệu gỗ dễ đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, đồng thời phù hợp với các tiêu chí kinh tế tuần hoàn nhờ khả năng tái sử dụng và tái chế.

Đáng chú ý, các dòng vật liệu gỗ kỹ thuật như CLT, Glulam hay LVL còn cho phép thi công tiền chế, giúp giảm rác thải xây dựng và tối ưu hiệu quả năng lượng - những tiêu chí đang được thị trường quốc tế đặc biệt coi trọng.

Bên cạnh yếu tố chính sách, xu hướng tiêu dùng cũng đang tạo thêm lực đẩy cho thị trường vật liệu xanh. Một nhóm khách hàng mới, "người tiêu dùng xanh" đang dần hình thành, với đặc điểm quan tâm đến sức khỏe, môi trường và nguồn gốc sản phẩm, đồng thời có khả năng chi trả cao. Đây được xem là phân khúc tiềm năng cho các sản phẩm vật liệu gỗ trong tương lai.

Song song với xu hướng tiêu dùng, thị trường gỗ nguyên liệu cho vật liệu xây dựng cũng đang có những chuyển động đáng chú ý. Việt Nam hiện có trên 14,7 triệu ha rừng, trong đó rừng trồng chiếm tỷ trọng lớn và cung cấp khoảng 20-22 triệu m³ gỗ mỗi năm. Tuy nhiên, phần lớn nguồn cung này vẫn là gỗ nhỏ, chủ yếu phục vụ dăm gỗ, viên nén hoặc sản phẩm giá trị thấp.

Đây chính là điểm nghẽn lớn khi phát triển vật liệu gỗ xây dựng. Các sản phẩm như CLT hay Glulam đòi hỏi gỗ nguyên liệu có đường kính lớn, chất lượng cao, ổn định và được quản lý rừng bền vững. Trong khi đó, chu kỳ khai thác rừng trồng tại Việt Nam hiện vẫn khá ngắn (5-7 năm), khiến nguồn gỗ lớn còn hạn chế.

Mặt khác, áp lực từ các quy định quốc tế như EUDR đang buộc chuỗi cung ứng gỗ phải minh bạch hơn, từ vùng trồng đến chế biến. Điều này khiến nhu cầu về gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC, PEFC) ngày càng tăng. Tuy nhiên, diện tích rừng có chứng chỉ tại Việt Nam vẫn còn khiêm tốn so với tổng quy mô.

Trên thị trường thế giới, nguồn cung gỗ nguyên liệu cũng đang chịu tác động từ biến đổi khí hậu, cháy rừng và chính sách hạn chế khai thác tại nhiều quốc gia. Điều này khiến giá gỗ có xu hướng biến động và tạo áp lực cạnh tranh về nguồn cung dài hạn.

Vật liệu gỗ xây dựng: Góc nhìn từ thị trường nguyên liệu đến chiến lược lâm nghiệp- Ảnh 2.

Gỗ kỹ thuật có thể giảm tới 40% tổng phát thải của công trình nếu được ứng dụng đồng bộ - Ảnh: VGP/Đỗ Hương

Định hướng ngành lâm nghiệp: Từ "lượng" sang "chất" và kinh tế tuần hoàn

Chuyển đổi vật liệu không còn là lựa chọn, mà đang trở thành yêu cầu bắt buộc khi các thị trường lớn, đặc biệt là châu Âu, ngày càng siết chặt tiêu chuẩn môi trường.

Tại Việt Nam lại tồn tại một nghịch lý, dù xuất khẩu gỗ đạt hơn 15 tỷ USD mỗi năm, ứng dụng gỗ kỹ thuật trong xây dựng vẫn rất hạn chế. Tính đến năm 2024, chỉ khoảng 10 công trình sử dụng vật liệu này và phần lớn cấu kiện vẫn phải nhập khẩu.

Các nghiên cứu cho thấy, gỗ kỹ thuật có thể giảm tới 40% tổng phát thải của công trình nếu được ứng dụng đồng bộ. Ngoài ra, vật liệu này còn giúp giảm trọng lượng kết cấu, rút ngắn thời gian thi công và tối ưu chi phí vòng đời.

Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành thị trường thực tế, vai trò của chính sách được xem là yếu tố quyết định.

Ông Võ Quang Hà - Chủ tịch Hội Gỗ Xây dựng TP.HCM (SAWA), Chủ tịch TAVICO Group, nhấn mạnh, trong bối cảnh các chính sách carbon toàn cầu ngày càng siết chặt, vật liệu phát thải thấp như gỗ đang có cơ hội trở thành lựa chọn cạnh tranh trong ngành xây dựng, đặc biệt khi tiếp cận các thị trường tiêu chuẩn cao.

Không chỉ mang lại giá trị xuất khẩu, ngành gỗ hiện còn tạo sinh kế cho hơn 1 triệu lao động Việt Nam. Việc thúc đẩy sử dụng gỗ rừng trồng trong nước không chỉ gia tăng giá trị kinh tế mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên rừng và phát triển bền vững.

Theo Cục trưởng Lâm nghiệp và Kiểm lâm Trần Quang Bảo, trong Đề án “Phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ bền vững, hiệu quả giai đoạn 2021-2030”, Việt Nam đặt mục tiêu giá trị xuất khẩu gỗ và lâm sản đạt 20 tỷ USD vào năm 2025. Đồng thời, hơn 80% số cơ sở chế biến, bảo quản gỗ đạt trình độ và năng lực công nghệ sản xuất tiên tiến; 100% gỗ, sản phẩm gỗ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước được sử dụng từ nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp, gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền vững.

Bên cạnh việc xây dựng các khu chế biến công nghệ cao, mở rộng thị phần xuất khẩu, chủ động xúc tiến thương mại gỗ và sản phẩm gỗ tại các thị trường chính, ngành gỗ cần quan tâm hơn và đầu tư vào vùng nguyên liệu. Cần phát triển nhiều hơn rừng trồng gỗ lớn, rừng được quản lý bền vững và cấp chứng chỉ (FSC hoặc PEFC).

Tiêu chuẩn rừng trồng của Việt Nam càng cao, gỗ và sản phẩm chế biến từ gỗ càng dễ thâm nhập vào những thị trường khó tính. Trong bối cảnh khó khăn cả từ thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ và nhập khẩu nguyên liệu gỗ, việc liên kết, đầu tư để phát triển vùng nguyên liệu gỗ ổn định, bền vững đang có ý nghĩa hết sức cấp thiết.

Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm hiện đã phối hợp các đơn vị thực hiện thí điểm việc cấp mã số vùng trồng rừng tại một số tỉnh phía bắc, tiến tới mở rộng ra toàn quốc. Nhiệm vụ này nhằm phát triển chuỗi cung gỗ hợp pháp, bảo đảm truy xuất nguồn gốc gỗ thích ứng với các yêu cầu quốc tế, cũng như phát triển phương pháp đo đếm, báo cáo và thẩm định để xác định khả năng hấp thụ, lưu trữ các-bon rừng trồng. Tuy nhiên, việc này còn khó khăn do rừng trồng chủ yếu thuộc sở hữu hộ gia đình, quy mô nhỏ.

Đỗ Hương