• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Việc khai sinh cho con ngoài giá thú

(Chinhphu.vn) - Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì UBND cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.

13/03/2013 13:15

Qua Cổng TTĐT Chính phủ, ông Lê Xuân Minh (xuanminh20033@...) đề nghị được tư vấn trường hợp sau:

Năm 2012, ông Anh (ở cùng xã với ông Minh) chung sống với bà Bốn (người ở xã khác) như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Khi có thai bà Bốn về quê bà ở và sinh con. Sau khi sinh, bà Bốn chưa đăng ký khai sinh cho con.

Nay ông Anh đưa con về nhà ông nuôi, muốn đăng ký khai sinh cho con nhưng không có giấy chứng sinh của con và vướng mắc về thủ tục, bà Bốn vẫn sống ở quê của bà. Vậy, để làm giấy khai sinh cho con, ông Anh cần phải làm những gì?

Về vấn đề trên, Luật sư  Trần Văn Toàn, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời như sau:

Khoản 1 Điều 13 và Điều 14 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định: UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là UBND cấp xã), nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì UBND cấp xã, nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng ký khai sinh.

Cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.

Thủ tục đăng ký khai sinh

Tại Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP (trong đó có khoản 1 Điều này đã được sửa đổi, bổ sung theo khoản 4 Điều 1 Nghị định số 06/2012/NĐ-CP  ngày 2/2/2012 của Chính phủ) quy định thủ tục đăng ký khai sinh như sau:

Người đi đăng ký khai sinh phải nộp Tờ  khai, Giấy chứng sinh (theo mẫu quy định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn).

Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.

Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.

Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh. Bản sao Giấy khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.

Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh  và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì UBND cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh.

- Trường hợp sau khi sinh con người mẹ bỏ đi để lại con cho người cha: Theo hướng dẫn tại điểm a, mục 4 Phần II Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 2/6/2008  của Bộ Tư Pháp, trong trường hợp cha, mẹ của trẻ chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không đăng ký kết hôn, người mẹ để con lại cho người cha và bỏ đi không xác định được địa chỉ, thì khi người cha làm thủ tục nhận con, không cần phải có ý kiến của người mẹ. Khi đăng ký khai sinh, phần ghi về người mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được ghi theo Giấy chứng sinh.

Trường hợp không có Giấy chứng sinh, thì ghi theo lời khai của người cha; nếu người cha không khai về người mẹ, thì để trống.

- Trường hợp sau khi sinh con cha mẹ đăng ký kết hôn: Tại điểm b, mục 4 Phần II Thông tư số 01/2008/TT-BTP hướng dẫn, trường hợp con sinh ra trước ngày cha, mẹ đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận, thì tên của người cha sẽ được ghi ngay trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của người con mà người cha không phải làm thủ tục nhận con.

Về việc ông Lê Xuân Minh hỏi: Trường hợp ông Anh, bà Bốn có thời gian chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Do đó, ông Anh chỉ được công nhận là cha của trẻ mà bà Bốn sinh ra khi giải quyết việc nhận con theo quy định tại Điều 33, Điều 34 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP. 

Hiện nay bà  Bốn đang sinh sống tại địa phương, thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ là UBND cấp xã nơi bà Bốn cư trú. Sau khi bà Bốn sinh con, ông Anh và Bốn vẫn không đăng ký kết hôn (có thể do không đủ điều kiện kết hôn, hoặc thuộc trường hợp bị cấm kết hôn, hoặc không muốn kết hôn), thì bà Bốn có trách nhiệm đi khai sinh cho trẻ. Khi đăng ký khai sinh cho trẻ, nếu bà Bốn không khai về người cha thì bỏ trống mục khai về người cha.

Nếu ông Anh kết hợp việc nhận con với việc đăng ký khai sinh cho trẻ thì thông tin về ông Anh được ghi tại mục khai về người cha trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh.  

Luật sư Trần Văn Toàn

VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.

Tin liên quan:

- Làm khai sinh cho con khi bố mẹ chưa có giấy đăng ký kết hôn

Thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn

Việc đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài

Bộ Tư pháp trả lời về mẫu Giấy khai sinh mới