(Chinhphu.vn) -  Ông Trần Văn Châu (TPHCM) nhập ngũ tháng 9/1978, tham gia chiến trường K được 3 năm 4 tháng. Ngày 15/4/1989, ông chuyển ngành về cơ quan Nhà nước. Ông thôi việc từ ngày 1/3/2020, được hưởng trợ cấp thất nghiệp đến ngày 19/3/2021 là hết chế độ do không đủ 20 năm đóng BHXH và thẻ BHYT cũng hết hạn từ đó.

Trường hợp thuộc đối tượng cựu chiến binh quy định tại Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP thì cần liên hệ với UBND cấp xã nơi cư trú để được hướng dẫn giải quyết.
Khi chuyển ngành, ông Châu mang quân hàm Thượng úy, không được hưởng trợ cấp theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg.

Ông đã liên hệ Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận để làm thủ tục nhận thẻ BHYT cho đối tượng cựu chiến binh thì được hướng dẫn phải có quyết định hưởng trợ cấp theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg. Ban Chỉ huy quân sự quận cũng trả lời, ông không thuộc diện được hưởng trợ cấp theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg.

Ông Châu hỏi, để được làm thẻ BHYT theo đối tượng cựu chiến binh quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ông phải liên hệ cơ quan nào, thủ tục ra sao?

Về vấn đề này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam trả lời như sau:

Theo quy định về lập danh sách cấp thẻ BHYT của một số đối tượng tại Khoản 5 Điều 11 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT thì: “UBND xã có trách nhiệm lập danh sách đối tượng quy định tại Điều 2; các Khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 16 và 17 Điều 13; Khoản 1, 2 và 4 Điều 4 và Điều 5 của Nghị định này”.

Trường hợp của ông nếu thuộc đối tượng theo quy định tại Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP thì đề nghị ông liên hệ với UBND cấp xã nơi cư trú để được hướng dẫn giải quyết.

Chinhphu.vn

Từ khóa: Cựu chiến binh , BHYT