Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Chậm nhất đến ngày 01/7/2027, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan, tổ chức được thực hiện thống nhất thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu.
Nghị định này gồm 5 chương, 21 điều quy định chi tiết khoản 2 Điều 154 Luật Thi hành án hình sự về xây dựng, thu thập, lưu trữ, xử lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự.
Cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự là tập hợp thông tin về tình hình, kết quả thi hành án hình sự và thông tin khác có liên quan đến người, pháp nhân thương mại chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Viện kiểm sát về các hình phạt và biện pháp tư pháp.
Việc thu thập, chuẩn hóa, cập nhật và quản lý dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, toàn vẹn, tính xác thực và khả năng truy xuất nguồn gốc của dữ liệu.
Việc xử lý dữ liệu cá nhân, bao gồm dữ liệu cá nhân nhạy cảm trong lĩnh vực thi hành án hình sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật có liên quan.
1. Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an; Cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng.
2. Trại giam; trại tạm giam; cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh; cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; ủy ban nhân dân cấp xã; đơn vị quân đội cấp trung đoàn và tương đương; Công an cấp xã.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc cung cấp, trao đổi, khai thác, sử dụng thông tin, dữ liệu về thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
Nghị định quy định Bộ Công an chủ trì xây dựng, quản lý và vận hành cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự đồng bộ, tập trung, thống nhất, dùng chung trên phạm vi toàn quốc; tổ chức đầu mối quản trị, vận hành tập trung cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự.
Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và cơ quan, đơn vị có liên quan có trách nhiệm chuẩn hóa, cung cấp và cập nhật, đồng bộ, kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu thuộc phạm vi quản lý vào cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
Cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về công nghệ thông tin, bảo đảm khả năng tích hợp, liên thông và vận hành ổn định giữa các hệ thống thông tin.
Thiết kế cấu trúc của cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự phải có tính tương thích, khả năng tích hợp, chia sẻ thông tin, bảo đảm việc mở rộng, nâng cấp và phát triển.
Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự được thực hiện thông qua các hoạt động sau đây:
a) Thu thập thông tin, dữ liệu từ các nguồn quy định tại Điều 9 Nghị định này;
b) Kiểm tra, xác thực, phân loại và chuẩn hóa dữ liệu theo tiêu chuẩn, quy chuẩn dữ liệu;
c) Số hóa hồ sơ, tài liệu nghiệp vụ về thi hành án hình sự;
d) Nhập và cập nhật dữ liệu vào hệ thống cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự;
đ) Kiểm tra, đối chiếu dữ liệu với hồ sơ, tài liệu nghiệp vụ để bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu;
e) Quản lý, bảo trì, nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu để bảo đảm hoạt động ổn định, liên tục.
Việc xây dựng, quản lý, vận hành cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự phải phù hợp với Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia, Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, Từ điển dữ liệu dùng chung và quy định của pháp luật về kết nối, chia sẻ dữ liệu.
Nghị định quy định việc kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu được thực hiện thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu, nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, giao diện lập trình ứng dụng hoặc phương thức kỹ thuật khác theo quy định của pháp luật; bảo đảm đúng phạm vi, mục đích, thẩm quyền, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ bí mật nhà nước.
Việc kết nối, cung cấp thông tin, dữ liệu của các tổ chức, cá nhân cho cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thông qua hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
Việc kết nối và chia sẻ dữ liệu về thi hành án hình sự phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Dữ liệu được chia sẻ theo đúng phạm vi, mục đích và thẩm quyền của cơ quan, tổ chức khai thác dữ liệu;
b) Việc chia sẻ dữ liệu được thực hiện thông qua các phương thức kết nối điện tử, bảo đảm khả năng truy cập, trao đổi và đồng bộ dữ liệu giữa các hệ thống thông tin;
c) Dữ liệu được kiểm tra, xác thực trước khi thực hiện chia sẻ để bảo đảm tính chính xác và toàn vẹn của dữ liệu;
d) Việc chia sẻ dữ liệu phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng.
Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026.
Chậm nhất đến ngày 01/7/2027, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định này được thực hiện thống nhất thông qua nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu./.