• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa XIII: Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ: Minh bạch là giải pháp của mọi giải pháp

Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ trả lời chất vấn của Quốc hội. (Ảnh: Nhan Sáng/TTXVN)

25/11/2011 10:13
Trong gần hai giờ đăng đàn tại phiên chất vấn chiều 24/11 của Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XIII, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ đã phần nào giải tỏa được những bức xúc của cử tri khi thẳng thắn trả lời vào ba nhóm vấn đề nổi bật gồm: Điều hành giá xăng dầu, điện; quản lý tài chính công, nợ công, chống thất thu thuế và hỗ trợ doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay. Bộ trưởng Huệ khẳng định: Minh bạch là giải pháp căn cơ của mọi giải pháp để giải quyết các vấn đề tồn tại hiện nay.
*Giá điện 2012 sẽ chỉ tăng khoảng 4,6%
Trả lời một loạt câu hỏi của các đại biểu: Đặng Thế Vinh (Long An), Nguyễn Thu Anh (Lâm Đồng), Phùng Văn Hùng (Cao Bằng), Lê Thị Thu Nga (Hà Nội)…xoay quanh công tác điều hành, quản lý, giám sát giá điện, than như: “Giá bán lẻ xăng dầu, điện hiện nay đã đúng?”, “Bao giờ công khai, minh bạch hoạt động của hai ngành độc quyền là xăng, dầu”, “Đâu là giải pháp đột phá trong công tác điều hành giá điện và xăng dầu thời gian tới ”?, Bộ trưởng Vương Đình Huệ đã nhắc lại nguyên tắc quản lý điều hành giá điện, xăng dầu, than, dịch vụ công và các mặt hàng thiết yếu khác là theo thị trường và có sự quản lý Nhà nước. Nguyên tắc thị trường là tôn trọng quyền định giá của doanh nghiệp, tôn trọng việc hạch toán đầy đủ các khoản chi phí hợp lý trong giá thành, đảm bảo cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế có mức lãi phù hợp; đảm bảo thu hút được đầu tư trong và ngoài nước vào các ngành sản xuất như điện. Nguyên tắc thị trường cũng không cho phép bao cấp tràn lan hoặc bù chéo nhau.
Nhà nước hiện điều hành giá trên cơ sở ban hành các quyết định, chính sách nhằm quản lý các mặt hàng này. Trong trường hợp cần bình ổn giá một số mặt hàng thiết yếu thì đây cũng là các biện pháp nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội.
Tuy nhiên, giá thành điện hiện nay vẫn chưa được tính đúng, tính đủ do có sự bù chéo và bao cấp. Hiện giá than cho điện mới được tính bằng 57-63% giá tiêu thụ của than- thấp hơn rất nhiều so với giá bán cho các hộ khác. Giá điện hiện vẫn bao cấp với sản xuất thép và xi măng. Theo kết quả của kiểm toán Nhà nước năm 2010, sản lượng điện cho thép và xi măng chiếm trên 11% tổng sản lượng điện chung với giá bán bình quân 914 đồng/kWh. Theo đó, riêng năm 2010, ngành điện đã bao cấp cho thép 2.547 tỷ đồng. Đây là một vấn đề cần lưu ý trong điều hành giá điện thời gian tới. Bộ trưởng Huệ khẳng định.
Giải đáp câu hỏi của đại biểu quốc hội về khoản lỗ, lãi của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Bộ trưởng Huệ cho biết: Theo kết quả kiểm toán năm 2010, EVN lỗ 8.040 tỷ đồng do mua điện giá cao của các doanh nghiệp ngoài ngành bán và 15.463 tỷ đồng do chênh lệch tỷ giá nâng tổng số lỗ lên 23.503 tỷ đồng. Trong đó, khoản lỗ 8.040 tỷ đồng không liên quan đến đầu tư ra ngoài ngành của EVN. Do đó, không có chuyện phân bổ lỗ do đầu tư ra ngoài ngành của EVN vào trong cơ cấu giá điện.
Năm 2011, mặc dù kế hoạch lỗ của EVN trên 11.000 tỷ đồng tuy nhiên đến hết 9 tháng, lỗ do sản xuất điện của EVN chỉ là 680 tỷ đồng. Đây là nỗ lực lớn của EVN trong giảm tổn thất và chi phí và nhờ nước về các hồ thủy điện nhiều. Tuy nhiên, khi việc cung cấp khí Nam Côn Sơn và Phú Mỹ 3 bị ngừng trong gần một tháng, các nhà máy nhiệt điện khí ở Đông Nam Bộ phải chuyển sang chạy dầu để đảm bảo sản lượng điện cho hệ thống thì EVN lỗ phát sinh thêm 2.655 tỷ đồng. Dự kiến lỗ của EVN năm 2011 từ sản xuất điện sẽ khoảng 3.540 tỷ đồng, chưa kể lỗ do chênh lệch tỷ giá. Do vậy, áp lực tăng giá điện do lỗ của EVN giảm đi khá nhiều với một lần tăng giá duy nhất 15,6% vào tháng 3.
Bộ trưởng Huệ nhấn mạnh: Giá điện sẽ tiếp tục được điều chỉnh dần theo thị trường để đảm bảo bù đắp chi phí cho nhà đầu tư và kêu gọi đầu tư cho các dự án trong Tổng sơ đồ điện 6 và 7, đảm bảo điện cho sản xuất kinh doanh và đời sống. Theo đó, giá điện năm 2012 sẽ là giá thành sản xuất điện của năm 2011 cộng thêm các chi phí và tỷ giá lấy theo mốc 15/9/2011 và không tính các khoản lãi của EVN từ khâu truyền tải, sản xuất, phân phối, bán lẻ. Với phương án này, giá điện bình quân năm 2012 sẽ ở mức 1.242 đồng/kWh, tăng 4,6% so với giá bán điện hiện nay. Giá này đã gồm tất cả các khoản EVN phải giảm trừ theo kết quả kiểm toán như 200 tỷ đồng tiền thu được từ cho thuê cột điện, 100 tỷ đồng tiền bán vật tư tài sản. Tuy vậy, giá điện năm 2012 sẽ phải “cõng” 1/4 lỗ của năm 2010 (khoảng 2.000 tỷ đồng), 1/3 lỗ do chênh lệch tỷ giá (khoảng 5.000 tỷ đồng), 2.000 tỷ đồng điều chỉnh cho than để đảm bảo giá than cho điện bằng 62-80% giá bán và 365 tỷ đồng tiền tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn.
Bộ trưởng Huệ khẳng định: Năm 2012, giá điện vẫn tăng nhưng tăng ở mức kiềm chế. Giá điện bán cho hộ thu nhập thấp vẫn giữ như hiện nay và thấp hơn mức bình quân chung. Tuy nhiên, EVN cần đẩy nhanh việc thoái vốn tại các đơn vị ngoài ngành để tập trung tài chính đầu tư, nâng cấp lưới điện hạ áp, truyền tải, giảm tổn thất điện năng, giảm chi phí và hạ giá thành sản xuất điện. Ngoài ra, Chính phủ, Quốc hội cũng đề nghị EVN giảm chi phí quản lý, giảm chi thường xuyên từ 5-10%/năm nhằm giúp giảm giá thành sản xuất điện.
*Giá xăng dầu theo thị trường thế giới
Trả lời câu hỏi của các đại biểu: Đặng Thế Vy, Ngô Văn My....về tình hình kinh doanh xăng dầu và minh bạch giá xăng dầu, Bộ trưởng Huệ thông tin: Trước 2008, kinh doanh xăng dầu chỉ có lỗ do mục tiêu điều hành giá xăng dầu phục vụ sản xuất. Từ 2008 trở đi, việc điều hành giá xăng dầu đã theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước.
Kết quả kiểm toán quốc tế do Công ty Deloitte tiến hành tại Petrolimex đã ghi nhận: Năm 2008, Petrolimex lãi 913,7 tỷ đồng; trong đó kinh doanh xăng dầu lãi 642 tỷ đồng. Năm 2009, lãi 3.217 tỷ đồng; trong đó lãi từ xăng dầu là 2.660 tỷ đồng . Năm 2010, lãi tổng thể từ kinh doanh xăng dầu vẫn đạt 314 tỷ đồng. Năm 2011, Tổng Công ty Xăng dầu Petrolimex báo cáo lỗ 1.800 tỷ đồng đến hết tháng 6 đối với lĩnh vực kinh doanh xăng dầu; trong đó, lỗ từ chênh lệch tỷ giá đã là 1.400 tỷ đồng. Bên cạnh đó, tỷ lệ hao hụt về xăng dầu năm 2011 dự kiến trên 800 tỷ đồng.
Theo Bộ trưởng Vương Đình Huệ, tình hình lãi lỗ của Petrolimex sẽ được làm rõ hơn sau khi có kết quả kiểm tra xăng dầu tại các doanh nghiệp đầu mối do Bộ Tài chính đang tiến hành. Theo đó, nếu không có sự điều chỉnh tỷ giá vào các tháng đầu năm và nếu các đầu mối xăng dầu thực hiện đúng định mức bán hàng 600 đồng/lít xăng dầu thì các doanh nghiệp kinh doanh đầu mối không thể lỗ.
Trả lời các câu hỏi về nguyên tắc điều hành giá xăng dầu, Bộ trưởng Huệ đã chỉ ra kịch bản vẫn là kiên trì thực hiện nguyên tắc thị trường, phù hợp với giá xăng dầu quốc tế do Việt Nam vẫn phải nhập khẩu tới 70%. Đặc biệt, ngay cả khi thị trường đã có xăng dầu Dung Quất nhưng giá bán xăng dầu Dung Quất cũng theo giá quốc tế. Vì vậy, trên thực tế, giá xăng dầu vẫn được tính như giá xăng dầu nhập khẩu 100%.
Hiện giá xăng dầu bán ra trên thị trường là giá xăng dầu thành phẩm, không phải giá dầu thô. Theo đó, giá xăng dầu được điều hành bám sát Nghị định 84 của Chính phủ. Trước mắt, thuế nhập khẩu xăng dầu vẫn bằng 0%; madut và diezen là 5% nên sẽ khôi phục lại giá cơ sở. Sau đó, nếu giá giảm tiếp, giá xăng dầu trong nước sẽ có điều kiện giảm tiếp. Còn nếu giá tăng, Bộ sẽ xem xét điều chỉnh với mức tăng theo yêu cầu của quản lý vĩ mô và kiềm chế về lạm phát.
Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cho đánh giá sơ kết Nghị định 84 để điều chỉnh một số bất cập như: Chu kỳ điều chỉnh tăng giảm có thể xem xét trong 10 ngày, đưa lợi nhuận định mức ra khỏi giá cơ sở để đảm bảo việc so sánh phù hợp hơn giữa giá cơ sở và giá thực tế. Đặc biệt, Bộ sẽ điều chỉnh lại mức chiết khấu bán hàng cho các đại lý.
Bộ trưởng Huệ cho rằng về lâu dài, thị trường xăng dầu cần cơ cấu lại bằng cách tăng cường năng lực sản xuất kinh doanh của các đầu mối xăng dầu khác như Petro Sài Gòn, Xăng dầu quân đội, Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PV Oil)....Bản thân Petrolimex cũng phải tính toán tái cấu trúc lại để đảm bảo tính cạnh tranh và sòng phẳng trong kinh doanh.
Trả lời câu hỏi của đại biểu Châu Thị Thu Nga (Hà Nội) về tính minh bạch và sự cần thiết của quỹ bình ổn giá xăng dầu, Bộ trưởng Huệ cho biết: Quỹ bình ổn giá xăng dầu được thành lập 2009 đã trích một phần sử dụng vào mục tiêu quỹ bình ổn giá. Tính đến cuối năm 2011, quỹ còn dư 2.500 tỷ đồng làm nguồn dự phòng khá lớn. Trước đây, quỹ này đặt tại doanh nghiệp để thuận tiện sử dụng và tránh cho cơ chế xin cho. Tuy nhiên, để minh bạch hơn, việc quản lý Quỹ sẽ trích lập và nộp tập trung vào Kho bạc Nhà nước nhưng cho phép doanh nghiệp tự động kê khai và thanh toán khoản này, cuối năm sẽ tiến hành hậu kiểm.
*Nợ công vẫn ở ngưỡng an toàn
Trả lời câu hỏi của các đại biểu về tình hình nợ công hiện nay của Việt Nam cũng như chiến lược quản lý nợ công thời gian tới, Bộ trưởng Huệ khẳng định: Nợ công của Việt Nam đang ở mức an toàn do cơ cấu nợ công của khác thế giới. Việt Nam chủ yếu vay ODA và vay ưu đãi lớn. Năm 2011, nợ Chính phủ là 43,6%, nợ quốc gia là 41,5% và nợ công là 54,6%.
Hiện cơ cấu nợ công của Việt Nam có khoảng 79% vay ODA, chỉ có 7% vay thương mại và khoảng 19% vay có ưu đãi. Trong ODA, vay của Ngân hàng Thế giới WB kỳ hạn 40 năm, 10 năm ân hạn nên sau 10 năm nữa mới phải trả và lãi suất rất thấp là 0,75%. Vay của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng là 30 năm, ân hạn 10 năm, lãi suất khoảng 1%. Vay của Nhật Bản cũng 30 năm, thời gian ân hạn 10 năm, lãi suất từ 1- 2%.
Như vậy, tổng chi phí để trả nợ gốc và lãi khoảng 15% trong tổng thu ngân sách và ngưỡng của thế giới khoảng 30%. Trong 15% chi trả cho nợ công hàng năm, ngân sách chỉ trả 13,5%; còn 1,5% là các dự án và các nhà đầu tư phải trả. Nợ công Việt Nam rất khác với các nước là Nhà nước vừa là chủ nợ, nhưng vừa là khách nợ.
Về chiến lược nợ công, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan đã tính toán hết các khoản vay lớn và cũng tính toán hết các dòng tiền ra vào. Theo đó, ngưỡng nợ công khoảng 65% tới năm 2015 có thể chịu đựng được. Còn sau năm 2015, vấn đề trả nợ có thể tương đương với vay hoặc thấp hơn, do đó không vượt quá 65% sau năm 2015 thì cũng đã có tính toán hết.
Theo đó, ba giải pháp được Bộ Tài chính đề xuất với Quốc hội, Chính phủ để tăng cường quản lý nợ công gồm: Thứ nhất, xây dựng kịch bản và lộ trình để giảm bội chi một cách rất nghiêm túc do bội chi là một nguyên nhân khiến Việt Nam phải vay nợ nhiều. Thứ hai, tăng cường năng lực và hiệu lực của công tác quản lý nợ công với việc đã thành lập Cục Quản lý nợ thuộc Bộ Tài chính, tăng cường năng lực phân tích dự báo nợ và các kỹ năng để đàm phán. Thứ ba là phải tăng cường quản lý rủi ro theo danh mục nợ, trong đó có cả quản lý rủi ro về tỷ giá, rủi ro về lãi suất. Ngoài ra, ổn định kinh tế vĩ mô sẽ là giải pháp để quản lý nợ công tốt. Nếu chỉ số GDP, ngoại tệ, ngoại hối, nhập siêu ở trạng thái tích cực, việc giảm nợ công sẽ tốt hơn.
Cũng trong phiên chất vấn, Bộ trưởng Huệ đã trả lời các đại biểu về các giải pháp giảm bội chi ngân sách, chống chuyển giá ở các doanh nghiệp FDI nhằm tăng thu. Theo đó, tăng thu không theo cách tăng tỷ lệ động viên doanh nghiệp mà tăng thu bằng cách chống thất thu ở các khâu và tăng cường cưỡng chế các việc nợ thuế đối với hải quan cũng như đối với thuế nội địa.
Kim Anh-Thùy Dương