• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/2/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/2/2026.

13/02/2026 18:18
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/2/2026- Ảnh 1.

Đẩy mạnh phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh triển khai Đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 – 2030 

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 13/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh triển khai Đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030.

Chỉ thị nêu: Trong thời gian qua, thực hiện các quy định pháp luật liên quan và Đề án của Thủ tướng Chính phủ số 438/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2021 về Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030, các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan liên quan đã nghiêm túc thực hiện và triển khai nhiều giải pháp thiết thực, tạo được sự chuyển biến rõ nét và đạt được nhiều kết quả quan trọng trong công tác quản lý đô thị, góp phần thúc đẩy phát triển đô thị tăng trưởng xanh, thông minh, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và cả nước.

Đến nay, việc tổ chức triển khai thực hiện Đề án đã đạt được một số kết quả cụ thể như: (1) toàn bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã ban hành kế hoạch hành động hoặc văn bản hướng dẫn ứng phó với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực phát triển đô thị; (2) các tỉnh đã hoàn thành nhiệm vụ rà soát các đồ án quy hoạch đô thị và bổ sung, lồng ghép nội dung biến đổi khí hậu đối với những đô thị được đánh giá là chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu; (3) từng bước xác định các phân vùng rủi ro thiên tai cho khu vực đô thị; (4) nâng cao nhận thức về công tác phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu; (5) triển khai nhiều dự án đầu tư về biến đổi khí hậu tại địa phương…

Tuy nhiên, công tác phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập: việc xây dựng hệ thống bản đồ cảnh báo rủi ro đô thị (Atlats Đô thị và Khí hậu) còn gặp khó khăn về xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu; các tài liệu hướng dẫn các giải pháp kỹ thuật chủ yếu tập trung vào ứng phó với biến đổi khí hậu, còn thiếu các giải pháp tập trung vào giảm nhẹ phát thải khí nhà kính trong đô thị; nguồn lực để triển khai các nhiệm vụ còn hạn chế…

Hoàn thiện các chính sách, quy định về phát triển đô thị tăng trưởng xanh

Công tác quản lý, quản trị phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu hiện nay là nhiệm vụ cấp thiết của xã hội, của các cấp ủy đảng và của chính quyền địa phương các cấp. Để tăng cường chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên trong cải tạo nâng cấp và phát triển đô thị, góp phần từng bước kiểm soát và giảm mức độ ô nhiễm không khí, nước, đất theo các tiêu chuẩn quốc tế; rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch, quản lý đầu tư phát triển đô thị trong bối cảnh gia tăng nguy cơ từ biến đổi khí hậu, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị Bộ Xây dựng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội, giao Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương tiếp tục, khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ đã được giao tại Quyết định số 438/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030" và các chỉ đạo có liên quan đảm bảo hiệu quả, thiết thực, đúng quy định của pháp luật.

Thực hiện theo dõi, giám sát nội dung phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu trong công tác quy hoạch, quản lý phát triển đô thị, bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, loại bỏ các mâu thuẫn, chồng chéo, đáp ứng được yêu cầu phát triển của thực tiễn và hội nhập.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, các địa phương tiếp tục triển khai hoàn thiện, đồng bộ các cơ chế chính sách, quy định, quy phạm pháp luật về phát triển đô thị tăng trưởng xanh; phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị xanh, thông minh; xây dựng các quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật trong phát triển vật liệu xanh, công trình xanh, công trình sử dụng năng lượng hiệu quả; thực hiện có kế hoạch, hiệu quả các nhiệm vụ đã được giao tại các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số: 84/QĐ-TTg ngày 19 tháng 01 năm 2018 về kế hoạch phát triển đô thị tăng trưởng xanh Việt Nam đến năm 2030; 950/QĐ-TTg ngày 01 tháng 8 năm 2018 về phát triển đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018 - 2025 và định hướng đến năm 2030.

Tổ chức lập Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 và các chương trình, dự án đầu tư nâng cấp đô thị, tăng trưởng xanh, thông minh, ứng phó với biến đổi khí hậu cho giai đoạn 2025 - 2030 và các giai đoạn tiếp theo, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt làm cơ sở quản lý hiệu quả các nguồn lực của đô thị, hướng tới phát triển đô thị ổn định, bền vững.

Xây dựng các khung hướng dẫn; sửa đổi, bổ sung hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn cụ thể về đô thị tăng trưởng xanh, công trình xanh, công trình tiết kiệm năng lượng và quy định việc thực hiện bắt buộc đối với các công trình sử dụng vốn đầu tư công. Hoàn thành trong năm 2026.

Đồng thời, Bộ Xây dựng tiếp tục chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương đẩy mạnh trao đổi kinh nghiệm, kết nối mạng lưới, đối thoại chính sách về phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, đô thị tăng trưởng xanh, phát triển đô thị thông minh nhằm hướng đến phát triển hệ thống đô thị Việt Nam bền vững và bao trùm thông qua Diễn đàn Đô thị Việt Nam; tiếp tục theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch đô thị, chương trình phát triển đô thị, hạ tầng kỹ thuật đô thị tính toán giải pháp phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, đô thị phát thải carbon thấp, tăng trưởng xanh và thông minh.

Tăng cường hướng dẫn các địa phương quản lý sử dụng đất đô thị

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương nghiên cứu báo cáo cấp có thẩm quyền xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các quy định liên quan đến hướng dẫn cơ chế tài chính, phân bổ ngân sách cho các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu trong đô thị; nghiên cứu cơ chế tài chính xanh hỗ trợ các đô thị dễ bị tổn thương.

Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương tăng cường kiểm tra kế hoạch, chương trình, dự án và các nhiệm vụ quản lý nhà nước về đầu tư công, đảm bảo gắn kết giữa kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đô thị, các chương trình, dự án phát triển đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cung cấp các thông tin, cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia, dữ liệu khí tượng thủy văn, bản đồ ngập lụt, nước biển dâng hỗ trợ công tác quản lý và phát triển đô thị; chủ trì, phối hợp các Bộ, ngành tăng cường hướng dẫn các địa phương quản lý sử dụng đất đô thị, đảm bảo phù hợp với quy hoạch, kế hoạch của địa phương đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Các bộ, ngành, địa phương chủ động phối hợp với Bộ Xây dựng, triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến quy hoạch và phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, đô thị tăng trưởng xanh được phân công tại các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số: 438/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2021; 1658/QĐ-TTg ngày 01 tháng 10 năm 2021, 882/QĐ-TTg ngày 22 tháng 7 năm 2022, 84/QĐ-TTg ngày 19 tháng 01 năm 2018, 950/QĐ-TTg ngày 01 tháng 8 năm 2018 và các nhiệm vụ có liên quan tại Chỉ thị này.

Nâng cấp, xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng xã hội hiện đại tại đô thị

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch quản lý, sử dụng đất để phát triển đô thị theo đúng quy định pháp luật; tăng cường kiểm soát quá trình phát triển đô thị theo quy hoạch và kế hoạch, rà soát các kịch bản thay đổi của khí hậu, phân chia theo mức độ chống chịu với thiên tai, thảm họa; tiếp tục rà soát, xây dựng chương trình phát triển đô thị, kế hoạch phát triển đô thị theo quy định pháp luật trong đó tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị đảm bảo kết nối giữa các khu vực trong đô thị; thực hiện nâng cấp, cải tạo, xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng xã hội hiện đại tại đô thị và mạng lưới cung cấp dịch vụ hạ tầng xã hội nhằm thúc đẩy phát triển đô thị thông minh, xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Rà soát, hạn chế tối đa giao đất, cho thuê đất các khu vực ven biển, nhất là các khu vực có môi trường, phong cảnh và bãi tắm đẹp tự nhiên… cho việc phát triển các dự án không phục vụ trực tiếp cộng đồng để đảm bảo ứng phó biến đổi khí hậu, nước biển dâng, giữ gìn và bảo vệ cảnh quan tự nhiên ven biển, bảo vệ môi trường vùng bờ; trong đó ưu tiên đảm bảo mục đích tầm nhìn và tiếp cận mở thông trực tiếp với bờ biển, ưu tiên làm các không gian công cộng lâu dài của cộng đồng.

Tăng cường ứng dụng công nghệ trong phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu

Cùng với đó, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương rà soát, thống kê, chủ động thực hiện lập và quản lý bản đồ ngập úng đô thị theo kịch bản biến đổi khí hậu, bản đồ dự báo các khu vực có nguy cơ và mức độ, quy mô ngập lụt, sạt lở, lũ quét...; cập nhật thường xuyên các khu vực có nguy cơ cao bị ảnh hưởng thiên tai trong đô thị.

Rà soát và xử lý các tồn tại trong công tác quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị đảm bảo ứng phó với biến đổi khí hậu để đề ra các giải pháp thực hiện hoặc tổ chức điều chỉnh quy hoạch; rà soát chương trình, xây dựng cơ sở hạ tầng, quản lý vận hành hệ thống thoát nước đô thị, hạn chế tối đa phát sinh điểm ngập mới hoặc tái diễn kéo dài.

Tăng cường nghiên cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật và công nghệ phù hợp với địa phương trong phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng trưởng xanh như: tăng diện tích hồ điều hòa, không gian trữ nước, vùng ngập tạm; phục hồi sông hồ, kênh rạch bị lấn chiếm và các giải pháp phù hợp khác.

Cân đối nguồn lực, xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm đảm bảo bố trí đủ nguồn vốn để đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội trong đô thị, đặc biệt chú trọng đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật khi xây dựng đường giao thông đô thị. Bảo đảm sự kết nối về hạ tầng giao thông, hạ tầng kỹ thuật trong từng khu vực và toàn đô thị cũng như với các khu vực phụ cận. Thiết lập hệ thống theo dõi, giám sát quá trình phát triển đô thị theo các bộ chỉ tiêu về xây dựng đô thị tăng trưởng xanh, phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu đảm bảo phù hợp với tình hình kinh tế xã hội.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương phải phân công rõ trách nhiệm giữa các cấp chính quyền, chủ đầu tư, đơn vị quản lý vận hành hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong việc phòng, chống và khắc phục hậu quả ngập lụt, sạt lở; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, hướng dẫn cộng đồng nâng cao ý thức, kỹ năng ứng phó với các loại hình thiên tai trong khu vực cư trú.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/2/2026- Ảnh 2.

Chính phủ ban hành quy định mới về chính sách đối với người lao động khi cổ phần hóa doanh nghiệp

Nghị định về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp 

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 57/2026/NĐ-CP ngày 12/2/2026 về cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trong đó có nội dung đáng chú ý về chính sách đối với người lao động khi cổ phần hóa doanh nghiệp. 

Điều kiện cổ phần hóa doanh nghiệp

Nghị định quy định: "Cổ phần hóa" là việc tổ chức lại doanh nghiệp theo hình thức chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thành công ty cổ phần.

Cổ phần hóa doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải gắn với mục tiêu tăng cường hiệu quả kinh doanh và năng lực hoạt động sản xuất kinh doanh, cạnh tranh của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp cổ phần hóa là doanh nghiệp cấp I chuyển thành công ty cổ phần, gồm: Công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, Công ty mẹ của tổng công ty nhà nước; Công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Các doanh nghiệp nêu trên thực hiện cổ phần hóa khi đảm bảo các điều kiện sau:

a) Không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn điều lệ;

b) Sau khi đã xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp theo quy định tại Mục 2 và Mục 3 Chương II Nghị định này mà giá trị thực tế doanh nghiệp bằng hoặc lớn hơn các khoản phải trả.

3 hình thức cổ phần hóa doanh nghiệp

Nghị định nêu rõ các hình thức cổ phần hóa gồm:

1. Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.

2. Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán bớt một phần vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu đế tăng vốn điều lệ.

3. Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp hoặc kết hợp vừa bán toàn bộ vốn nhà nước vừa phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ.

Chính sách bán cổ phần cho người lao động

Nghị định quy định cụ thể chính sách bán cổ phần cho người lao động

1. Cổ phần bán với giá ưu đãi cho người lao động

a) Đối tượng mua cổ phần với giá ưu đãi bao gồm:

- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa.

- Người lao động của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã được cử xuống làm đại diện phần vốn tại các doanh nghiệp khác chưa được hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi tại các doanh nghiệp khác.

- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cấp II (chưa được hưởng chính sách mua cổ phần ưu đãi tại các doanh nghiệp khác) tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa của doanh nghiệp cấp I.

b) Các đối tượng quy định tại điểm a nêu trên được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc tại khu vực nhà nước với giá bán bằng 60% giá trị 01 cổ phần tính theo mệnh giá (10.000 đồng/cổ phần);

c) Đối với người lao động đại diện cho hộ gia đình nhận khoán (mỗi hộ gia đình nhận khoán cử một người lao động đại diện) tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa có hợp đồng nhận khoán ổn định lâu dài với công ty nông, lâm nghiệp khi chuyển sang công ty cổ phần được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế đã nhận khoán với công ty với giá bán bằng 60% giá trị 01 cổ phần tính theo mệnh giá (10.000 đồng/cổ phần);

d) Khoản chênh lệch giữa giá bán cho người lao động so với mệnh giá cổ phần theo quy định tại được trừ vào giá trị phần vốn nhà nước khi quyết toán tại thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thành công ty cổ phần;

đ) Số cổ phần bán với giá ưu đãi theo quy định tại khoản này, người lao động phải nắm giữ và không được chuyển nhượng trong vòng 03 năm kể từ thời điểm nộp tiền mua cổ phần ưu đãi;

e) Tổng giá trị của số cổ phần bán với giá ưu đãi cho người lao động tính theo mệnh giá tối đa không vượt quá giá trị phần vốn chủ sở hữu theo sổ sách kế toán tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.

2. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa, thuộc đối tượng doanh nghiệp cần sử dụng và có cam kết làm việc lâu dài cho doanh nghiệp trong thời hạn ít nhất là 03 năm (kể từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu) sẽ được mua thêm cổ phần theo quy định sau:

a) Mua thêm theo mức 200 cổ phần/01 năm cam kết làm việc tiếp trong doanh nghiệp nhưng tối đa không quá 2.000 cổ phần cho một người lao động.

Riêng người lao động là các chuyên gia giỏi, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao được mua thêm theo mức 500 cổ phần/01 năm cam kết làm việc tiếp trong doanh nghiệp nhưng tối đa không quá 5.000 cổ phần cho một người lao động. Doanh nghiệp cổ phần hóa căn cứ đặc thù ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của mình xây dựng và quyết định các tiêu chí để xác định chuyên gia giỏi, có trình độ nghiệp vụ cao và phải được nhất trí thông qua tại Hội nghị người lao động của doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa;

b) Giá bán cổ phần cho người lao động mua thêm quy định tại điểm a khoản này là giá khởi điểm được cơ quan đại diện chủ sở hữu phê duyệt trong phương án cổ phần hóa;

c) Mỗi một người lao động chỉ được hưởng quyền mua thêm cổ phần theo một mức xác định tại điểm a khoản này;

d) Số cổ phần người lao động mua thêm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông sau khi kết thúc thời gian cam kết.

Trường hợp công ty cổ phần thực hiện thay đổi cơ cấu, công nghệ, di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền dẫn tới người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động, thôi việc, mất việc theo quy định của Bộ luật lao động trước thời hạn đã cam kết thì số cổ phần đã được mua thêm sẽ được chuyển đổi thành cổ phần phổ thông. Trường hợp người lao động có nhu cầu bán lại cho doanh nghiệp số cổ phần này thì công ty cổ phần có trách nhiệm mua lại với giá sát với giá giao dịch trên thị trường.

Trường hợp người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn đã cam kết thì phải bán lại cho công ty cổ phần toàn bộ sổ cổ phần đã được mua thêm với giá sát với giá giao dịch trên thị trường nhưng không vượt quá giá đã được mua tại thời điểm cổ phần hóa;

đ) Số cổ phần người lao động được mua thêm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này được xác định theo thời gian cam kết tiếp tục làm việc tối đa đến đủ tuổi nghỉ hưu đối với lao động trong điều kiện lao động bình thường theo quy định tại Bộ luật Lao động hiện hành.

3. Người lao động trong doanh nghiệp thực hiện tái cơ cấu chuyển thành công ty cổ phần thông qua Công ty Mua bán nợ Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định này được áp dụng các chính sách quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này theo điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và phương án tái cơ cấu được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

4. Người lao động có nhu cầu mua thêm cổ phần ngoài số cổ phần được mua theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thực hiện đăng ký mua đấu giá công khai theo quy định như các nhà đầu tư khác.

Chính sách đối với người lao động dôi dư

Nghị định quy định: Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và người lao động của doanh nghiệp cổ phần hóa tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa đã được cử xuống làm đại diện phần vốn tại các doanh nghiệp khác mà không bố trí được việc làm tại công ty cổ phần theo phương án sử dụng lao động sẽ được hưởng chính sách đối với người lao động dôi dư theo quy định của pháp luật.

Người quản lý doanh nghiệp do cơ quan đại diện chủ sở hữu xem xét, quyết định bố trí công việc. Trường hợp cơ quan đại diện chủ sở hữu đã tìm mọi biện pháp nhưng không bố trí được việc làm thì được hưởng chính sách như chính sách tinh giản biên chế đối với cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật.

Người quản lý doanh nghiệp cấp II do Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch các doanh nghiệp nhà nước xem xét, quyết định bố trí công việc. Trường hợp đã tìm mọi biện pháp nhưng không bố trí được việc làm thì giải quyết chính sách theo quy định của pháp luật về lao động.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/2/2026- Ảnh 3.

Điều chỉnh Quy hoạch bảo tồn Di tích Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nghệ An

Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kim Liên, tỉnh Nghệ An 

Phó Thủ tướng Mai Văn Chính ký Quyết định số 283/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kim Liên, tỉnh Nghệ An.

Theo đó, Khu vực điều chỉnh nằm trong phân vùng chức năng Khu mộ bà Hoàng Thị Loan; diện tích điều chỉnh khoảng 6.000 m², trong đó: 1.429,3 m² thuộc Khu vực bảo vệ II di tích Khu mộ bà Hoàng Thị Loan và 4.570,7 m² nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích.

Mục đích của điều chỉnh Quy hoạch nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án xây dựng đền thờ bà Hoàng Thị Loan thuộc Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kim Liên, tỉnh Nghệ An, góp phần phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch bền vững, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Đồng thời, đáp ứng nhu cầu, tình cảm của Nhân dân cả nước và người dân địa phương đối với Thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh, qua đó giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn cho các thế hệ, góp phần cụ thể hoá các định hướng, phương án phát triển tại các quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Nội dung Quy hoạch điều chỉnh

Quyết định nêu rõ nội dung Quy hoạch điều chỉnh như sau:

1- Giữ nguyên Khu vực bảo vệ di tích theo Quyết định số 1943/QĐ-TTg ngày 27/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kim Liên, tỉnh Nghệ An.

2- Điều chỉnh, bổ sung phân vùng chức năng:

- Điều chỉnh từ đất khu dịch vụ - chòi nghỉ (I-DV5) diện tích 108,0 m² và đất rừng cảnh quan (I-LN1) diện tích 5.892,0m² sang đất xây dựng Đền thờ bà Hoàng Thị Loan và các công trình phụ trợ.

- Xây dựng mới công trình đền thờ Bà Hoàng Thị Loan và các công trình phụ trợ. Kiến trúc, cảnh quan của công trình mới phù hợp với tổng thể không gian, kiến trúc, cảnh quan chung của cả khu vực.

3- Điều chỉnh quy hoạch mạng lưới hạ tầng kỹ thuật.

4- Vốn đầu tư thực hiện điều chỉnh cục bộ phân vùng chức năng, điều chỉnh quy hoạch mạng lưới hạ tầng kỹ thuật, xây dựng công trình Đền thờ bà Hoàng Thị Loan và các công trình phụ trợ: Nguồn xã hội hóa.

Các nội dung khác được giữ nguyên như Quyết định số 1943/QĐ-TTg ngày 27/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Kim Liên, tỉnh Nghệ An.

Điều chỉnh Quy hoạch bảo đảm thống nhất

Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An chịu trách nhiệm toàn diện đối với nội dung đề xuất về phạm vi, quy mô, ranh giới điều chỉnh quy hoạch; bảo đảm phù hợp, đồng bộ, thống nhất với các quy hoạch có liên quan đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không hợp pháp hóa sai phạm (nếu có); không để xảy ra các chồng chéo, tranh chấp, khiếu kiện khi thực hiện các hoạt động, dự án đầu tư, bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và trong quá trình tổ chức thực hiện quy hoạch.

Rà soát, hoàn thiện hồ sơ điều chỉnh Quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An (thuyết minh, bản đồ, quy định quản lý...) bảo đảm thống nhất, đúng Quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ; lưu giữ và lưu trữ hồ sơ điều chỉnh Quy hoạch được phê duyệt theo quy định của pháp luật về lưu trữ và pháp luật liên quan.

Tổ chức công bố công khai điều chỉnh Quy hoạch bằng các hình thức phù hợp, tạo sự đồng thuận, nhất trí cao trong triển khai thực hiện. Tiến hành cập nhật ranh giới, diện tích điều chỉnh Quy hoạch bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại xã Kim Liên, tỉnh Nghệ An vào Hồ sơ khoa học di tích và phương án sử dụng đất trong quy hoạch tỉnh (phù hợp với từng thời kỳ quy hoạch).

Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An chỉ đạo chính quyền địa phương các cấp tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường vùng di tích và các khu vực phụ cận bên ngoài vùng di tích; tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm, bổ sung tài liệu, cứ liệu khoa học về lịch sử, văn hóa, địa chất, địa mạo, đa dạng sinh học khu vực di tích; giáo dục tinh thần tự giác chấp hành tốt các quy định về quy hoạch và quản lý quy hoạch, về quản lý và bảo vệ di sản văn hóa, về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, về đầu tư, xây dựng, bảo vệ môi trường cảnh quan thiên nhiên.

Thực hiện đầu tư xây dựng trong phạm vi bảo vệ của di tích trên nguyên tắc tuân thủ các quy định của Quy hoạch được phê duyệt tại quyết định này và các quy hoạch có liên quan trên địa bàn được lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch, xây dựng...

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/2/2026- Ảnh 4.

Phấn đấu tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh trên toàn quốc mỗi năm

Phê duyệt "Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030"

Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 13/2/2026 phê duyệt "Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế trên toàn quốc đến năm 2030" (Chương trình).

Phấn đấu tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh trên toàn quốc mỗi năm

Mục tiêu của Chương trình là tăng tỷ lệ sinh để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực, góp phần thực hiện thành công Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Chương trình phấn đấu đến năm 2030, tăng trung bình 2% tổng tỷ suất sinh trên toàn quốc mỗi năm. Trên 95% các cặp vợ chồng, nam, nữ trong độ tuổi sinh đẻ được cung cấp thông tin về kết hôn, sinh con để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc. 100% tỉnh, thành phố thực hiện các chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con.

Gia tăng tỷ lệ sinh

Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đưa ra các giải pháp cụ thể như: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động thay đổi hành vi; điều chỉnh, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích; mở rộng tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ có liên quan...

Trong đó, Chương trình quán triệt sâu sắc hơn nữa việc chuyển hướng trọng tâm chính sách dân số sang dân số và phát triển, điều chỉnh mức sinh sang đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc. Thống nhất nhận thức trong lãnh đạo và chỉ đạo việc vận động, khuyến khích, hỗ trợ để cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo gia tăng tỷ lệ sinh, chú trọng ở địa phương có mức sinh dưới mức sinh thay thế để đạt và duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc, điều kiện quan trọng nhất bảo đảm nguồn nhân lực, là tiền đề cơ bản nhất để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, dân tộc trường tồn.

Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vận động với hình thức đa dạng, phong phú, sinh động, hấp dẫn và thuyết phục. Nâng cao hiệu quả của truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, chú trọng việc sử dụng các phương tiện truyền thông đa phương tiện, internet và mạng xã hội. Sử dụng hợp lý các loại hình văn hóa, văn nghệ, giải trí. Phát huy vai trò của những người có ảnh hưởng với công chúng, gia đình và dòng họ như những người nổi tiếng trong các lĩnh vực chính trị, khoa học, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, già làng, trưởng bản... Đặc biệt quan tâm đẩy mạnh các hoạt động truyền thông trực tiếp, nhất là các hoạt động truyền thông tại nhà, tại cộng đồng thông qua đội ngũ cộng tác viên, tuyên truyền viên, nhân viên y tế thôn bản.

Bổ sung các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con

Cùng với đó, Chương trình thực hiện rà soát, đề xuất sửa đổi các quy định không phù hợp với mục tiêu đạt và duy trì vững chắc mức sinh thay thế, đặc biệt là các quy định xử lý vi phạm chính sách dân số hiện hành. Đề xuất ban hành quy định về việc đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc sinh con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc để đạt và duy trì mức sinh thay thế.

Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách nhà nước, các tỉnh, thành phố có chính sách hỗ trợ cặp vợ chồng, cá nhân sinh con, nuôi con nhằm đạt và duy trì mức sinh thay thế bền vững; ưu tiên đối với tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế, dân tộc thiểu số rất ít người.

Bổ sung các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh con, sinh đủ hai con, phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi trên cơ sở phân tích, đánh giá tác động của các chính sách về lao động, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội, giáo dục, y tế;... đến việc sinh ít con; xây dựng, triển khai các mô hình can thiệp thích hợp.

Mở rộng tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình

Mở rộng tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình và các dịch vụ có liên quan bằng cách: Phổ cập dịch vụ kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản tới mọi người dân đảm bảo công bằng, bình đẳng trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ, không phân biệt giới, người đã kết hôn, người chưa kết hôn để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm nâng cao chất lượng dân số; xây dựng và triển khai các loại hình dự phòng vô sinh tại cộng đồng; đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, phát triển mạng lưới hỗ trợ sinh sản.

Đối với địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo: Tổ chức các loại hình cung cấp dịch vụ phù hợp; tư vấn, kiểm tra sức khỏe, phát hiện sớm, phòng, tránh các yếu tố nguy cơ dẫn đến sinh con dị tật, mắc các bệnh, tật ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng dân số...

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/2/2026- Ảnh 5.

Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo phòng không nhân dân Trung ương 

Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình - Trưởng Ban chỉ đạo phòng không nhân dân Trung ương ký Quyết định số 10/QĐ-BCĐPKNDTW ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo này.

Quy chế này quy định về chế độ làm việc, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các thành viên Ban chỉ đạo phòng không nhân dân Trung ương (Ban chỉ đạo) và quy định chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo, chế độ hội họp, mối quan hệ công tác của Ban chỉ đạo.

Theo quy định, Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và Ủy viên Ban chỉ đạo làm việc theo chế độ kiêm nhiệm.

Ban chỉ đạo làm việc theo chế độ đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu. Trưởng ban là người quyết định cuối cùng đối với các vấn đề của Ban chỉ đạo; Phó Trưởng ban được quyết định một số vấn đề cụ thể theo phân công, ủy quyền của Trưởng ban; các Ủy viên Ban chỉ đạo chịu trách nhiệm triển khai công việc được phân công và chủ động chỉ đạo cơ quan chức năng triển khai các nhiệm vụ thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước được giao để thực hiện các chương trình, nhiệm vụ, đề án về phòng không nhân dân.

Thành viên Ban chỉ đạo có trách nhiệm tham dự đầy đủ các cuộc họp, trường hợp không thể tham dự, báo cáo Trưởng Ban chỉ đạo và ủy quyền cho người đại diện cơ quan, đơn vị dự họp.

Nguyên tắc làm việc

Ban chỉ đạo hoạt động theo quy chế và theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể, đề cao trách nhiệm của Trưởng ban, Phó Trưởng ban và thực hiện theo kết luận của Trưởng Ban chỉ đạo hoặc của Phó trưởng Ban Thường trực Ban chỉ đạo (khi được Trưởng Ban chỉ đạo ủy quyền). Ủy viên Ban chỉ đạo phòng không nhân dân Trung ương làm việc theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được phân công.

Nhiệm vụ của các thành viên Ban Chỉ đạo

Trưởng Ban chỉ đạo có nhiệm vụ chỉ đạo, điều hành toàn bộ hoạt động của Ban chỉ đạo theo quy định của pháp luật về phòng không nhân dân; thay mặt Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch, chương trình hoạt động và những vấn đề liên quan đến phòng không nhân dân sau khi đã được Ban chỉ đạo thảo luận và quyết nghị.

Chỉ đạo, chủ trì các hội nghị, cuộc họp định kỳ, đột xuất của Ban chỉ đạo; khi cần thiết có thể phân công, ủy quyền cho Phó Trưởng Ban chỉ đạo, các Ủy viên chủ trì các hội nghị, cuộc họp để thảo luận, quyết định một số vấn đề cụ thể thuộc nhiệm vụ của Ban chỉ đạo; phân công nhiệm vụ cho thành viên Ban chỉ đạo; kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện chương trình công tác của Ban chỉ đạo; quyết định những vấn đề thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ đạo. Trong trường hợp cần thiết, ủy quyền cho Phó Trưởng ban giải quyết công việc thuộc thẩm quyền của mình; trường hợp có tính chất quan trọng, cấp bách, trực tiếp chỉ đạo xử lý một số công việc đã phân công cho Thành viên Ban chỉ đạo...

Các Phó Trưởng ban có nhiệm vụ tham mưu với Trưởng Ban chỉ đạo các chủ trương, chính sách, giải pháp quan trọng thực hiện nhiệm vụ, hoạt động phòng không nhân dân; đề xuất biện pháp, phương hướng giải quyết các vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, hoạt động phòng không nhân dân thuộc lĩnh vực được phân công.

Đôn đốc các địa phương thực hiện kế hoạch, chương trình, nhiệm vụ, hoạt động phòng không nhân dân; chủ trì các cuộc họp theo sự ủy quyền của Trưởng Ban chỉ đạo; cho ý kiến về Quy chế tổ chức, hoạt động, các chương trình công tác của Ban chỉ đạo và tổ chức thực hiện sau khi được ban hành; chịu trách nhiệm trước Trưởng Ban chỉ đạo về nội dung được phân công, ủy quyền; tham mưu với người đứng đầu cơ quan mình ban hành văn bản hướng dẫn theo từng lĩnh vực, ngành phụ trách để thực hiện các nhiệm vụ phòng không nhân dân liên quan của Ban chỉ đạo...

Các Ủy viên Ban chỉ đạo có nhiệm vụ chịu trách nhiệm trước Trưởng ban, Phó Trưởng ban về toàn bộ công việc thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực công tác, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật về phòng không nhân dân, bao gồm những công việc đã phân công hoặc ủy nhiệm cho cấp dưới; thực hiện quản lý nhà nước về phòng không nhân dân thuộc lĩnh vực được phân công trên phạm vi cả nước; chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch phòng không nhân dân bảo đảm phù hợp với đặc điểm tình hình, yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị, địa phương. Chỉ đạo tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ, hoạt động phòng không nhân dân theo quy định của pháp luật về phòng không nhân dân; theo phạm vi trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công chủ trì tham mưu, đề xuất với Trưởng ban các giải pháp, biện pháp triển khai thực hiện nhiệm vụ, hoạt động phòng không nhân dân theo quy định của pháp luật.

Các Ủy viên Ban chỉ đạo tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm trước Trưởng ban về chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ phòng không nhân dân được phân công; thực hiện đầy đủ chế độ thông tin, báo cáo theo quy định; đề xuất, kiến nghị với Trưởng ban, Phó Trưởng ban Thường trực các chủ trương, giải pháp, cơ chế, chính sách để triển khai thực hiện nhiệm vụ, hoạt động phòng không nhân dân đối với ngành, lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ được phân công.

Tham gia xây dựng, góp ý vào chương trình công tác, kế hoạch, báo cáo và các văn bản liên quan của Ban chỉ đạo do cơ quan Thường trực dự thảo; đề xuất giải quyết các nhiệm vụ của Ban chỉ đạo; chủ trì hoặc tham gia các đoàn công tác của Ban chỉ đạo theo kế hoạch hoặc theo sự phân công của Trưởng ban...

Chức năng, nhiệm vụ cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo

Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo là cơ quan tham mưu, giúp việc cho Ban chỉ đạo phòng không nhân dân Trung ương, thực hiện các nhiệm vụ: Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác của Ban chỉ đạo; chủ trì các cuộc họp đột xuất xử lý những công việc ngoài chương trình công tác của Ban chỉ đạo liên quan đến nhiệm vụ phòng không nhân dân.

Đôn đốc triển khai thực hiện Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo, chương trình công tác, các công việc thường xuyên, đột xuất của Ban chỉ đạo; trường hợp cần bổ sung, sửa đổi Quy chế, trên cơ sở đề xuất của các thành viên Ban chỉ đạo, báo cáo Trưởng ban xem xét, quyết định và thực hiện các nhiệm vụ khác do Ban chỉ đạo, Trưởng Ban chỉ đạo giao.

Chế độ hội họp

Ban chỉ đạo họp thường kỳ 05 năm hai lần để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phòng không nhân dân và triển khai nhiệm vụ, hoạt động phòng không nhân dân thời gian tiếp theo; khi cần thiết hoặc theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban chỉ đạo triệu tập các phiên họp bất thường của Ban chỉ đạo.

Cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo mỗi năm họp một lần. Ủy viên Ban chỉ đạo, thành viên cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo có trách nhiệm tham gia đầy đủ các phiên họp, đóng góp ý kiến trong các phiên họp, các văn bản và tham gia kiểm tra phòng không nhân dân theo kế hoạch của Ban chỉ đạo.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/2/2026- Ảnh 6.

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại buổi kiểm tra công trường, thăm, chúc Tết cán bộ công nhân viên tại Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 78/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại buổi kiểm tra công trường, thăm, chúc Tết cán bộ công nhân viên tại Dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1.

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà gửi lời cảm ơn và chúc Tết tới toàn thể cán bộ, công nhân viên tham gia thực hiện Dự án và gia đình đón một năm mới an lành, công việc hanh thông tốt đẹp, có nhiều sức khỏe để hoàn thành mọi mục tiêu, nhiệm vụ được giao trong năm mới; đồng thời tin tưởng với tinh thần quyết tâm, nỗ lực, trí tuệ, nhiệt huyết, kinh nghiệm và sáng tạo của toàn thể đội ngũ cán bộ, công nhân viên trên công trường như trong thời gian qua, mọi khó khăn, vướng mắc sẽ được vượt qua để sớm hoàn thành, đưa Dự án vào vận hành khai thác tiến độ, chất lượng, đáp ứng yêu cầu, mong mỏi của Đảng, Nhà nước, người dân và xã hội.

Tìm giải pháp khắc phục kịp thời các tồn tại

Để kịp thời chấn chỉnh, đẩy nhanh tiến độ thực hiện Dự án, Phó Thủ tướng yêu cầu Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV), các nhà thầu và các cơ quan, đơn vị có liên quan cần nghiêm túc rà soát, làm rõ nguyên nhân xảy ra tồn tại, tình trạng chậm tiến độ (nguyên nhân do cơ cấu tổ chức, nhân sự, chậm thanh toán,…) để kịp thời có giải pháp tháo gỡ phù hợp. Trường hợp không có giải pháp hiệu quả, Dự án không thể hoàn thành đúng tiến độ cam kết, ACV phải chủ động báo cáo và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về sự chậm trễ nêu trên.

Phó Thủ tướng yêu cầu ACV làm việc ngay với các nhà thầu (cả nhà thầu phụ) để làm rõ nguyên nhân dẫn đến việc giảm số lượng cán bộ, công nhân trên công trường, đặc biệt tại các gói thầu, hạng mục là đường găng, khối lượng còn lại lớn để từ đó cùng tìm giải pháp khắc phục kịp thời. Trước mắt, yêu cầu các Nhà thầu kiện toàn ngay cán bộ chủ chốt tại các gói thầu để chỉ đạo điều hành công trường và có cam kết cụ thể về tiến độ hoàn thành các hạng mục, gói thầu.

ACV chỉ đạo Ban Quản lý dự án tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của Dự án; chủ động rà soát số lượng cán bộ kỹ thuật hiện có tại dự án để có giải pháp kịp thời điều chuyển thêm các dự án khác về hỗ trợ chỉ đạo, điều hành dự án; trên cơ sở đó đàm phán với các nhà thầu để ký phụ lục hợp đồng cập nhật tiến độ thực hiện, hình thức tạm ứng, thanh toán hoặc tạm thanh toán các khối lượng đã thực hiện trên tinh thần tháo gỡ khó khăn, rủi ro chia sẻ, giá trị thanh toán tối thiểu bảo đảm đủ trả lương, chế độ chính sách cho người lao động trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 và chi phí vật tư thiết bị đưa về công trường để các nhà thầu có nguồn lực tài chính tiếp tục thực hiện dự án.

Đồng thời, ACV chỉ đạo đơn vị tư vấn giám sát, Nhà thầu rà soát toàn bộ đường găng của Dự án để xây dựng tiến độ thi công chi tiết của từng gói thầu, hạng mục để kiểm soát, chỉ đạo điều hành bảo đảm Dự án triển khai đúng tiến độ; phối hợp với Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và các cơ quan chức năng có liên quan có phương án duy trì, bảo đảm an ninh, an toàn phục vụ người dân và doanh nghiệp tại các Cảng hàng không, sân bay do ACV quản lý trên toàn quốc trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026.

Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đường bộ kết nối

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng tiếp tục duy trì công tác thẩm tra, thẩm định, nghiệm thu dự án hoàn thành theo quy định pháp luật; phối hợp với Bộ Tài chính, ACV, UBND tỉnh Đồng Nai tổng hợp báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện, các khó khăn, vướng mắc, giải pháp tháo gỡ.

Đồng thời, Bộ Xây dựng phối hợp với UBND Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai, Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam rà soát, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án đường bộ kết nối Cảng hàng không Long Thành với trung tâm thành phố và Cảng hàng không Tân Sơn Nhất bảo đảm hoàn thành đồng bộ với Dự án.

Tuyệt đối không để thiếu lương, tiền công và chế độ của người lao động

Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai chỉ đạo nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn thành hệ thống đường ống dẫn nhiên liệu cho tàu bay từ cảng đầu nguồn tới Dự án và hệ thống thoát nước của Cảng hàng không quốc tế Long Thành bảo đảm hoàn thành, phục vụ khai thác đồng bộ Dự án. Trong quá trình thực hiện có giải pháp bảo đảm cung cấp đầy đủ nhiên liệu cho sân bay, tuyệt đối không để ảnh hưởng đến việc khai thác thương mại của Dự án.

Các nhà thầu thực hiện dự án tập trung hoàn thiện các thủ tục nội nghiệp theo quy định để thanh toán các khối lượng đã thực hiện; đồng thời có văn bản đề xuất, báo cáo ACV cụ thể tình trạng của các hồ sơ thanh toán khối lượng đã thực hiện, tuyệt đối không để thiếu lương, tiền công và chế độ của người lao động; các Nhà thầu chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu để xảy ra các vi phạm liên quan đến quyền lợi của người lao động.

Các nhà thầu không có lý do xác đáng để chậm tiến độ dự án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, đền bù thiệt hại khi làm ảnh hưởng tiến độ hoàn thành và hiệu quả khai thác của cả Dự án.

Các bộ, ngành, địa phương là cơ quan chủ quản, chủ đầu tư các dự án thành phần khác của Dự án chủ động rà soát, đôn đốc tiến độ thực hiện, bảo đảm hoàn thành đồng bộ với cả Dự án; hỗ trợ ACV, các nhà thầu để tháo gỡ khó khăn vướng mắc, bảo đảm tiếp tục thực hiện dự án.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 13/2/2026- Ảnh 7.

Đề nghị UNESCO ghi danh "Khối tài liệu lưu trữ về Đông Dương" vào Danh mục di sản tư liệu thế giới

Đề nghị UNESCO ghi danh "Khối tài liệu lưu trữ về Đông Dương" vào Danh mục di sản tư liệu thế giới 

 Tại Văn bản số 1444/VPCP-KGVX, Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đồng ý gửi hồ sơ khoa học di sản tư liệu "Khối tài liệu lưu trữ về Đông Dương bảo quản tại Pháp và Việt Nam (1862 - 1954)" đề nghị UNESCO ghi danh vào Danh mục di sản tư liệu thế giới.

Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ thực hiện các thủ tục cần thiết để phối hợp với phía Pháp gửi hồ sơ khoa học di sản tư liệu "Khối tài liệu lưu trữ về Đông Dương bảo quản tại Pháp và Việt Nam (1862 - 1954)" tới Trung tâm Di sản thế giới UNESCO theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa và Hướng dẫn của UNESCO; trong đó, bảo đảm tuân thủ các điều ước, cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nội dung quy định tại Ý định thư đã ký kết giữa Bộ Nội vụ (Việt Nam) và Bộ Văn hóa (Pháp) và quy định của pháp luật có liên quan.

Bộ Ngoại giao, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam chủ trì, phối hợp hỗ trợ Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các cơ quan liên quan trong việc triển khai các biện pháp cần thiết nhằm tạo đồng thuận của quốc tế ủng hộ cho việc UNESCO ghi danh "Khối tài liệu lưu trữ về Đông Dương bảo quản tại Pháp và Việt Nam (1862 - 1954)" là Di sản tư liệu thế giới; chú trọng phát huy vị trí, vai trò của Việt Nam trong các cơ chế điều hành của UNESCO.

Bộ Nội vụ phối hợp chặt chẽ với phía Pháp trong việc hoàn thiện hồ sơ đề cử và bám sát tiến độ đề cử hồ sơ khoa học về di sản tư liệu nói trên, lưu ý bảo đảm nội dung hồ sơ tuân thủ đúng quy định của pháp luật về an ninh, chủ quyền quốc gia và các quy định của pháp luật về di sản văn hóa, lưu trữ, bảo vệ bí mật nhà nước, tiếp cận thông tin và pháp luật khác có liên quan./.