Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ

Doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ khi đăng ký cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ đánh giá công nghệ thì phải có ít nhất 02 chuyên gia có trình độ đại học trở lên chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực công nghệ cần đánh giá, có kinh nghiệm làm việc từ 02 năm (quy định cũ là 3 năm) trở lên trong lĩnh vực công nghệ cần đánh giá.
Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2026/NĐ-CP ngày 14/1/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của 7 nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Nghị định số 15/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của 7 Nghị định: 76/2018/NĐ-CP; 65/2023/NĐ-CP; 63/2023/NĐ-CP; 115/2025/NĐ-CP; 163/2024/NĐ-CP; 23/2025/NĐ-CP; 133/2025/NĐ-CP.
Nghị định số 15/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các Nghị định trên nhằm cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, giảm thời gian giải quyết của các thủ tục hành chính (giảm yêu cầu số năm kinh nghiệm làm việc trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Khoa học và Công nghệ; cắt giảm thành phần hồ sơ không cần thiết; bỏ các quy định yêu cầu nộp bản sao; chỉnh sửa các biểu mẫu; thực hiện nộp hồ sơ trực tuyến)...
Giảm yêu cầu số năm kinh nghiệm làm việc
Trong đó, Nghị định số 15/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 18, 20 Nghị định 76/2018/NĐ-CP. Theo quy định mới, tổ chức, cá nhân đề nghị công nhận kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ do tổ chức, cá nhân tự nghiên cứu; đề nghị Nhà nước hỗ trợ kinh phí, mua kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có thể nộp hồ sơ trực tuyến trên cổng dịch vụ công quốc gia, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính đến cơ quan có thẩm quyền.
Đồng thời, Nghị định số 15/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi điều kiện cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ đánh giá công nghệ tại khoản 2 Điều 33 Nghị định 76/2018/NĐ-CP.
Theo quy định mới, doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ khi đăng ký cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ đánh giá công nghệ thì phải có ít nhất 02 chuyên gia có trình độ đại học trở lên chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực công nghệ cần đánh giá, có kinh nghiệm làm việc từ 02 năm (quy định cũ là 3 năm) trở lên trong lĩnh vực công nghệ cần đánh giá.
Cũng theo quy định mới, doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ khi đăng ký cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ giám định công nghệ thì phải có ít nhất 02 giám định viên chính thức trong lĩnh vực công nghệ giám định của tổ chức (viên chức hoặc lao động ký hợp đồng có thời hạn từ 12 tháng trở lên hoặc lao động ký hợp đồng không xác định thời hạn) có kinh nghiệm làm việc từ 02 năm (quy định cũ là 3 năm) trở lên trong lĩnh vực công nghệ cần giám định.
Giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính
Nghị định số 15/2026/NĐ-CP sửa đổi Điều 17 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP theo hướng thực hiện phương án giảm thời gian xử lý thủ tục rút đơn đăng ký sở hữu công nghiệp từ 2 tháng xuống còn 30 ngày.
Nghị định số 15/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi Điều 42 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP theo hướng giảm thời gian xử lý thủ tục đền bù cho chủ sở hữu sáng chế vì sự chậm trễ trong việc cấp phép lưu hành dược phẩm từ 3 tháng xuống còn 2 tháng.
Đồng thời, thực hiện phương án giảm thời gian xử lý thủ tục đăng ký dự kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp quy định tại Điều 63 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP từ 20 ngày xuống còn 15 ngày.
Bãi bỏ một số thủ tục hành chính
Ngoài ra, Nghị định số 15/2026/NĐ-CP cũng bãi bỏ Điều 42, 47 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP tương ứng với bãi bỏ thủ tục: Giao quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước cho tổ chức, cá nhân khác và thủ tục cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.
Quy định mới về thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính
Nghị định số 15/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 28, 29 Nghị định số 133/2025/NĐ-CP quy định về thẩm quyền thực hiện thủ tục: Cấp, cấp đổi, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện, xử lý đề nghị ngừng sử dụng tần số vô tuyến điện đối với đài vô tuyến điện đặt trên phương tiện nghề cá và cấp, cấp đổi, gia hạn, sửa đổi bổ sung, thu hồi giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện, xử lý đề nghị ngừng sử dụng tần số vô tuyến điện đối với đài vô tuyến điện nghiệp dư.
Theo quy định mới, việc cấp, cấp đổi, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện, xử lý đề nghị ngừng sử dụng tần số vô tuyến điện đối với đài vô tuyến điện đặt trên phương tiện nghề cá quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 63/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 09/2022/QH15 (Nghị định số 63/2023/NĐ-CP) thực hiện như sau:
a) Việc cấp giấy phép do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (tỉnh) bất kỳ thực hiện;
b) Việc cấp đổi, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện, xử lý đề nghị ngừng sử dụng tần số vô tuyến điện do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã cấp giấy phép thực hiện.
Việc cấp, cấp đổi, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện, xử lý đề nghị ngừng sử dụng tần số vô tuyến điện đối với đài vô tuyến điện nghiệp dư quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 63/2023/NĐ-CP thực hiện như sau:
a) Việc cấp giấy phép do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của tỉnh bất kỳ thực hiện;
b) Việc cấp đổi, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép sử dụng tần số và thiết bị vô tuyến điện, xử lý đề nghị ngừng sử dụng tần số vô tuyến điện do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã cấp giấy phép thực hiện.
Chính phủ ban hành Nghị định số 17/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 162/2018/NĐ-CP ngày 30/11/2018 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải; giao thông đường bộ, đường sắt; hàng không dân dụng và Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính).
Bổ sung một số chức danh Thanh tra có thẩm quyền xử phạt
Trong đó, Nghị định số 17/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 31 của Nghị định số 162/2018/NĐ-CP theo hướng bổ sung một số chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng trong quy định thẩm quyền của lực lượng thanh tra (Chánh Thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thanh tra viên Thanh tra Bộ Công an; Chánh Thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Chánh Thanh tra Công an cấp tỉnh...).
Theo quy định mới, Thanh tra viên Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Hàng không Việt Nam trong thời hạn thanh tra có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 10.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt trên.
Trưởng đoàn thanh tra của Thanh tra Hàng không Việt Nam, Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an cấp tỉnh trong thời hạn thanh tra có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định số 162/2018/NĐ-CP.
Chánh Thanh tra Hàng không Việt Nam; Chánh Thanh tra Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Chánh Thanh tra Công an cấp tỉnh có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 80.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định số 162/2018/NĐ-CP.
Chánh Thanh tra Bộ Công an; Trưởng đoàn thanh tra do Chánh Thanh tra Bộ Công an thành lập trong thời hạn thanh tra có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định số 162/2018/NĐ-CP.
Bổ sung thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước
Nghị định số 17/2026/NĐ-CP cũng bổ sung thêm Điều 31a vào sau Điều 31 quy định thẩm quyền xử phạt của Thủ trưởng cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước gồm: Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam; Trưởng đoàn kiểm tra do Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam thành lập; Trưởng đoàn kiểm tra do Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ Công an thành lập. Cụ thể:
Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam; Trưởng đoàn kiểm tra do Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Bộ Công an thành lập trong thời hạn kiểm tra có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 162/2018/NĐ-CP.
Trưởng đoàn kiểm tra do Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam thành lập trong thời hạn kiểm tra có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 80.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 162/2018/NĐ-CP.
Điều chỉnh hình thức, mức xử phạt thuộc thẩm quyền của Cảng vụ hàng không; Chủ tịch UBND, Công an nhân dân
Đồng thời, Nghị định số 17/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi Điều 32, 33, 34 Nghị định 162/2018/NĐ-CP theo hướng điều chỉnh hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả thuộc thẩm quyền của: Cảng vụ hàng không; Chủ tịch UBND, Công an nhân dân.
Theo quy định, Trưởng đại diện Cảng vụ hàng không có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 25.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn...
Giám đốc Cảng vụ hàng không có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...
Chủ tịch UBND cấp xã có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...
Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 10.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt trên...
Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động cấp đại đội có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 20.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt trên...
Trưởng đồn Công an, Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động cấp tiểu đoàn, Trưởng trạm, Đội trưởng có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 30.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá 02 lần mức tiền phạt trên...
Trưởng Công an cấp xã có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...
Trưởng Công an cửa khẩu Cảng hàng không quốc tế; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát giao thông; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Quản lý xuất nhập cảnh; Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động cấp trung đoàn; Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm: Trưởng phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng Cảnh sát cơ động, Trưởng phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường, Trưởng phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Trưởng phòng Cảnh sát cơ động, Chánh Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh và Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh thuộc Công an cấp tỉnh có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 80.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...
Giám đốc Công an cấp tỉnh có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...
Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Cục trưởng Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường, Cục trưởng Cục An ninh nội địa, Tư lệnh Cảnh sát cơ động, Chánh Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 100.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...
Quy định mới về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính
Bên cạnh đó, Nghị định số 17/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi Điều 37 Nghị định 162/2018/NĐ-CP về thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính như sau:
Những người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng bao gồm:
- Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý, phạm vi và nội dung cuộc thanh tra, kiểm tra;
- Thành viên đoàn kiểm tra khi tiến hành thanh tra có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính thuộc phạm vi và nội dung cuộc kiểm tra;
- Người thuộc lực lượng Công an nhân dân đang thi hành công vụ, nhiệm vụ;
- Công chức, viên chức thuộc cơ quan mà người đứng đầu có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm hoặc thi hành nhiệm vụ công vụ;
- Người chỉ huy tàu bay, thành viên tổ bay được người chỉ huy tàu bay giao lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính xảy ra trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam khi tàu bay đang bay.
Nghị định nêu rõ, người chỉ huy tàu bay trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam có trách nhiệm tổ chức lập biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính xảy ra trên tàu bay đang bay.
Người chỉ huy tàu bay bàn giao các vụ việc vi phạm hành chính trên tàu bay cho các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền như sau:
- Đối với vụ việc vi phạm về bảo đảm trật tự, an ninh hàng không bàn giao cho cơ quan an ninh hàng không tại cảng hàng không, sân bay nơi tàu bay hạ cánh.
- Các vụ việc vi phạm khác ngoài vụ việc ở trên bàn giao cho Cảng vụ hàng không nơi tàu bay hạ cánh.
Nghị định số 17/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/3/2026.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Quyết định số 81/QĐ-TTg ngày 14/01/2026 về việc kiện toàn nhân sự Ban Chỉ đạo Trung ương Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" (Ban Chỉ đạo).
Theo Quyết định, Phó Thủ tướng Chính phủ Mai Văn Chính làm Trưởng Ban Chỉ đạo.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng là Phó Trưởng ban.
03 Ủy viên Thường trực gồm:
1. Ông Nguyễn Quang Đức, Phó Trưởng ban Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương;
2. Bà Hà Thị Nga, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
3. Bà Trịnh Thị Thủy, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
17 Ủy viên gồm:
1. Thượng tướng Lê Văn Tuyến, Thứ trưởng Bộ Công an;
2. Thượng tướng Trương Thiên Tô, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam;
3. Ông Đỗ Ngọc Huỳnh, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ;
4. Bà Nguyễn Thị Hà, Thứ trưởng Bộ Nội vụ;
5. Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tài chính;
6. Ông Nguyễn Tường Văn, Thứ trưởng Bộ Xây dựng;
7. Ông Lê Quân, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;
8. Bà Nguyễn Thị Liên Hương, Thứ trưởng Bộ Y tế;
9. Ông Nguyễn Hoàng Hiệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
10. Ông Y Thông, Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo;
11. Ông Đinh Đắc Vĩnh, Phó Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam;
12. Ông Ngô Minh Hiển, Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam;
13. Ông Nguyễn Đức Minh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam;
14. Trung tướng Khuất Việt Dũng, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam;
15. Ông Vương Duy Biên, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam;
16. Ông Phan Văn Hùng, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam;
17. Bà Phạm Thị Hòe, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký; thay thế Quyết định số 530/QĐ-TTg ngày 19/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn nhân sự Ban Chỉ đạo Trung ương Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 30/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà tại cuộc họp về việc giao cơ quan chủ quản thực hiện Dự án đầu tư đoạn tuyến cao tốc Sơn La - Điện Biên - Cửa khẩu Tây Trang và sửa đổi Nghị định số 165/2024/NĐ-CP.
Cụ thể, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà đồng ý chủ trương giao Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La làm cơ quan chủ quản đầu tư xây dựng đoạn tuyến cao tốc Hòa Bình - Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên - Cửa khẩu Tây Trang (CT.03) trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật về đầu tư công và các quy định của pháp luật có liên quan.
Đồng thời, giao Bộ Xây dựng khẩn trương rà soát kỹ lưỡng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 165/2024/NĐ-CP theo đúng ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại văn bản số 166/VPCP-CN ngày 07/01/2026 của Văn phòng Chính phủ, bảo đảm chặt chẽ, logic, nhất quán, quy định đầy đủ, rõ ràng, chính xác, dễ hiểu, tránh đa nghĩa dẫn đến hiểu sai, áp dụng tùy tiện nhất là về phân cấp, phân quyền, làm căn cứ giao địa phương là cơ quan chủ quản đầu tư các tuyến, đoạn tuyến đường bộ cao tốc trên địa bàn một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, báo cáo Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 84/QĐ-TTg ngày 14/1/2026 phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh giai đoạn 2026 – 2030 (Chương trình).
Chương trình được triển khai thực hiện trong phạm vi toàn quốc trong giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2030.
Đối tượng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh được thành lập, đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật.
Mục tiêu của Chương trình nhằm triển khai kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng tại các nghị quyết: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân; Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nghị định của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế tư nhân, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao.
Trong đó, (i) hoàn thiện chính sách, pháp luật để tạo cơ chế hỗ trợ pháp lý đột phá; (ii) xây dựng, tổ chức triển khai kịp thời, hiệu quả, toàn diện các giải pháp, nhiệm vụ nhằm tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh theo hướng chuyên nghiệp, bám sát nhu cầu của doanh nghiệp và hộ kinh doanh lấy đối tượng thụ hưởng làm trung tâm, phục vụ hiệu quả nhu cầu pháp lý của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh; (iii) tiếp tục nâng cao hiểu biết, ý thức, thói quen, văn hóa tuân thủ pháp luật, phát huy tính chủ động của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và vai trò của các tổ chức hiệp hội đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp trong việc giải quyết các vấn đề, khó khăn, vướng mắc pháp lý phát sinh trong quá trình hoạt động đầu tư, kinh doanh bên cạnh sự đồng hành của cơ quan nhà nước; (iv) tăng cường trách nhiệm, nhận thức của bộ, ngành, địa phương, gắn kết chặt chẽ giữa công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh với các hoạt động quản lý nhà nước của bộ, ngành, địa phương, thể hiện vai trò đồng hành của Chính phủ trong quá trình phát triển bền vững của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh.
100% doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận thông tin pháp lý cơ bản về hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh
Chương trình phấn đấu hoàn thành 100% việc rà soát, đề xuất và hoàn thiện chính sách, thể chế liên quan đến các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, hiệu quả, khả thi, phù hợp với từng giai đoạn, thời kỳ phát triển của đất nước.
Về hoạt động cung cấp thông tin pháp luật: (i) Bảo đảm 100% cơ sở dữ liệu pháp luật được xây dựng, tích hợp trên Cổng Pháp luật quốc gia và Trang thông tin điện tử hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp để doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh được khai thác và sử dụng miễn phí; (ii) Bảo đảm 100% doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh có khả năng tiếp cận thông tin pháp lý cơ bản về hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, trong đó tối thiểu 80% tiếp cận qua các nền tảng số; (iii) Bảo đảm 100% nhu cầu cung cấp thông tin pháp luật của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh được cung cấp khi có yêu cầu bằng các hình thức phù hợp, thiết thực, hiệu quả.
Tối thiểu 80% đề nghị tư vấn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh được giải quyết
Về hoạt động bồi dưỡng kiến thức pháp luật: (i) Tối thiểu 80% công chức, viên chức, người làm công tác pháp chế, tham mưu, triển khai công tác hỗ trợ pháp lý được trang bị kỹ năng, kiến thức pháp luật về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và các nội dung pháp luật liên quan nhằm nâng cao năng lực hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh; (ii) Tối thiểu 80% doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh tham gia học tập, khai thác thông tin pháp luật trên các nền tảng trực tuyến, nền tảng số (như nền tảng đào tạo, giáo dục trực tuyến đại chúng mở (MOOC)...); (iii) Tối thiểu 90% đối tượng tham gia thụ hưởng hài lòng về chất lượng của các hoạt động.
Về hoạt động tư vấn pháp luật: Bảo đảm tối thiểu 80% đề nghị tư vấn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh thông qua Chương trình được giải quyết hoặc kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của Chương trình
Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình đưa ra 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp thực hiện: Nhóm nhiệm vụ, giải pháp tạo nền tảng thúc đẩy thực hiện hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh; Nhóm nhiệm vụ, giải pháp tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp tạo nền tảng thúc đẩy thực hiện hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh gồm: Hoàn thiện thể chế, chính sách về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh; ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong hoạt động hỗ trợ pháp lý doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh; hoàn thiện cơ chế hoạt động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực triển khai công tác hỗ trợ pháp lý.
Nhóm nhiệm vụ, giải pháp tổ chức thực hiện các hoạt động hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh gồm: Tổ chức các hoạt động cung cấp thông tin pháp lý; tổ chức các hoạt động bồi dưỡng kiến thức pháp luật; tổ chức các hoạt động tư vấn pháp luật.
Xây dựng các chương trình truyền thông chính sách nhằm nâng cao kiến thức pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh
Theo nhiệm vụ, Bộ Tài chính sẽ chủ trì sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy định của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách, bố trí nguồn lực phù hợp để triển khai mô hình hỗ trợ miễn phí dịch vụ tư vấn pháp lý cho doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh...
Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 55/2019/NĐ-CP ngày 24/6/2019 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số để sàng lọc, phân loại các phản ánh, kiến nghị theo lĩnh vực pháp luật để cung cấp thông tin pháp lý và trả lời trực tiếp doanh nghiệp nhỏ và vừa, đại diện hộ kinh doanh hoặc chuyển cơ quan khác có thẩm quyền xử lý; phân tích các vướng mắc, kiến nghị của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh trên toàn quốc để nhận diện xu hướng và triển khai các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý...
Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan, địa phương, các cơ quan thông tin đại chúng xây dựng các chương trình truyền thông chính sách, chuyên mục nâng cao kiến thức pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh trên đài truyền hình, đài phát thanh và các phương tiện, nền tảng thông tin, truyền thông khác, ưu tiên sử dụng công nghệ số...
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình ký Quyết định số 86/QĐ-TTg ngày 14/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2021 – 2026.
Cụ thể, tại Quyết định số 86/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn kết quả bầu chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình nhiệm kỳ 2021 - 2026 đối với ông Đặng Thanh Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Ninh Bình./.