• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 17/6/2026 (1)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 17/6/2026 (1).

17/06/2026 17:24
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 17/6/2026 (1)- Ảnh 1.

Phạt đến 15 triệu đồng đối với hành vi sử dụng nguyên liệu không có trong Danh mục được phép sử dụng làm thức ăn chăn nuôi.

Quy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi

Chính phủ ban hành Nghị định số 211/2026/NĐ-CP ngày 16/6/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính về chăn nuôi.

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt, việc thi hành các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính về chăn nuôi.

Các hành vi vi phạm hành chính khác về chăn nuôi không được quy định tại Nghị định này thì áp dụng quy định tại các nghị định khác của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan để xử phạt.

Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính về chăn nuôi trên lãnh thổ Việt Nam.

Tổ chức là đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định này bao gồm:

a) Cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao;

b) Tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp;

c) Tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác được thành lập theo quy định của Luật Hợp tác xã;

d) Tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định của Luật Đầu tư;

đ) Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;

e) Các tổ chức khác được thành lập theo quy định pháp luật.

Hộ gia đình, hộ kinh doanh đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này bị xử phạt như đối với cá nhân.

Phạt đến 100 triệu đồng với hành vi sản xuất, mua bán sản phẩm thức ăn chăn nuôi chứa hóa chất cấm

Về các hành vi vi phạm quy định về sản xuất, mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh, chứa hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi, Nghị định quy định:

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất, mua bán, nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi có hàm lượng kháng sinh khác với hàm lượng ghi trên nhãn hàng hóa hoặc tài liệu kèm theo từ 10% đến dưới 30%.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sản xuất, mua bán, nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh nhằm mục đích trị bệnh cho vật nuôi hoặc thuốc thú y không phải kê đơn để trị bệnh cho vật nuôi không ghi đủ các thông tin theo quy định;

b) Sản xuất, mua bán, nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi có hàm lượng kháng sinh khác với hàm lượng theo quy định hoặc trên nhãn hàng hóa hoặc tài liệu kèm theo từ 30% trở lên;

c) Sản xuất mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh nhằm mục đích trị bệnh cho vật nuôi không có đơn của người có chứng chỉ hành nghề hoặc có đơn nhưng không đầy đủ thông tin theo quy định của pháp luật về thú y.

3. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sản xuất, mua bán, nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh nhằm mục đích phòng bệnh cho vật nuôi;

b) Sản xuất, mua bán, nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh nhằm mục đích kích thích sinh trưởng.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất, mua bán, nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chứa thuốc thú y chưa được phép lưu hành tại Việt Nam hoặc chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép có giá trị dưới 200.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính dưới 100.000.000 đồng.

5. Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất, mua bán, nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chứa thuốc thú y chưa được phép lưu hành tại Việt Nam hoặc chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép có giá trị từ 200.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án.

6. Hành vi sản xuất, mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có chứa hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi bị xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm sản xuất, mua bán, nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chứa hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi mà tổng giá trị của sản phẩm thức ăn chăn nuôi vi phạm dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính dưới 50.000.000 đồng;

b) Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm sản xuất, mua bán, nhập khẩu mỗi sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chứa hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi mà tổng giá trị các sản phẩm thức ăn chăn nuôi vi phạm từ 100.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án.

7. Hình thức xử phạt bổ sung:

a) Đình chỉ hoạt động sản xuất, mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi từ 01 tháng đến 03 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này;

b) Đình chỉ hoạt động sản xuất, mua bán, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 6 Điều này.

8. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc sửa đổi thông tin trên nhãn hàng hóa hoặc tài liệu kèm theo lô thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh, thuốc thú y không phải kê đơn đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này; trường hợp không thể sửa đổi thông tin thì buộc chuyển đổi mục đích sử dụng; trường hợp không thể chuyển đổi mục đích sử dụng thì buộc tiêu hủy;

b) Buộc tái chế lô sản phẩm thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh trong sản xuất, mua bán đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều này; trường hợp không thể tái chế thì buộc chuyển đổi mục đích sử dụng; trường hợp không thể chuyển đổi mục đích sử dụng thì buộc tiêu hủy;

c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất sản phẩm thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh trong nhập khẩu đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2, khoản 3, 4 và 5 Điều này; trường hợp không thể đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất thì buộc chuyển đổi mục đích sử dụng; trường hợp không thể chuyển đổi mục đích sử dụng thì buộc tiêu hủy;

d) Buộc chuyển đổi mục đích sử dụng sản phẩm thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh trong sản xuất, mua bán đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 2, khoản 3, 4 và 5 Điều này; trường hợp không thể chuyển đổi mục đích sử dụng thì buộc tiêu hủy;

đ) Buộc tiêu hủy sản phẩm thức ăn chăn nuôi chứa hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi trong sản xuất, mua bán đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 6 Điều này;

e) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất sản phẩm thức ăn chăn nuôi chứa hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi trong nhập khẩu đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 6 Điều này; trường hợp không thể đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất thì buộc tiêu hủy;

g) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này.

Phạt đến 15 triệu đồng đối với hành vi sử dụng nguyên liệu không có trong Danh mục được phép sử dụng làm thức ăn chăn nuôi

Đối với các hành vi vi phạm quy định trong chăn nuôi sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh; sử dụng nguyên liệu không có trong Danh mục nguyên liệu được phép sử dụng làm thức ăn chăn nuôi; sử dụng hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật không có trong Danh mục được phép sử dụng trong sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi tại Việt Nam; sử dụng hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi, Nghị định quy định như sau:

1. Hành vi sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh không tuân thủ hướng dẫn của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc cung cấp thức ăn chăn nuôi bị xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ;

b) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với chăn nuôi trang trại quy mô vừa;

c) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với chăn nuôi trang trại quy mô lớn.

2. Hành vi không ghi nhật ký sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh nhằm mục đích trị bệnh cho vật nuôi bị xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ;

b) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với chăn nuôi trang trại quy mô vừa;

c) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với chăn nuôi trang trại quy mô lớn.

3. Hành vi sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh nhằm mục đích phòng bệnh cho vật nuôi, sử dụng kháng sinh nhằm mục đích kích thích sinh trưởng bị xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với chăn nuôi nông hộ;

b) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ;

c) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với chăn nuôi trang trại quy mô vừa;

d) Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với chăn nuôi trang trại quy mô lớn.

4. Hành vi sử dụng nguyên liệu không có trong Danh mục nguyên liệu được phép sử dụng làm thức ăn chăn nuôi; sử dụng hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật không có trong Danh mục được phép sử dụng trong sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi tại Việt Nam bị xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với chăn nuôi nông hộ;

b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ;

c) Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với chăn nuôi trang trại quy mô vừa;

d) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với chăn nuôi trang trại quy mô lớn.

5. Hành vi sử dụng hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi bị xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng mỗi hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự;

b) Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng mỗi hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm hình sự theo bản án.

6. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc chuyển đổi mục đích sử dụng thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này; trường hợp không thể chuyển đổi được mục đích sử dụng thì buộc tiêu hủy;

b) Buộc tiêu hủy hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu không có trong Danh mục nguyên liệu được phép sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật không có trong Danh mục được phép sử dụng trong sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi tại Việt Nam đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều này;

c) Buộc cơ sở chăn nuôi nuôi giữ vật nuôi đã sử dụng hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu không có trong Danh mục nguyên liệu được phép sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật không có trong Danh mục được phép sử dụng trong sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi tại Việt Nam đến khi kiểm tra không còn tồn dư mới được phép xuất bán hoặc giết mổ đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều này.

Trường hợp không thể nuôi giữ đến khi không còn tồn dư hoặc tái phạm sử dụng hóa chất, sản phẩm sinh học, vi sinh vật cấm sử dụng trong thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu không có trong Danh mục nguyên liệu được phép sử dụng làm thức ăn chăn nuôi; hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật không có trong Danh mục được phép sử dụng trong sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi tại Việt Nam thì buộc tiêu hủy vật nuôi.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 05/8/2026.

Một số Nghị định về giáo dục tiếp tục có hiệu lực từ ngày 1/1/2026

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30/2026/NQ-CP ngày 16/6/2026 về việc tiếp tục hiệu lực của một số Nghị định quy định chi tiết và biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành các luật đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ ngày 1/1/2026.

Nghị quyết số 30/2026/NQ-CP quy định về việc tiếp tục hiệu lực của một số Nghị định quy định chi tiết và biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành các luật đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo từ ngày 1/1/2026 cho đến khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ.

Trong đó, 4 Nghị định sau tiếp tục có hiệu lực toàn bộ gồm:

1- Nghị định số 143/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 của Chính phủ quy định về bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 51/2026/NĐ-CP;

2- Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người;

3- Nghị định số 86/2021/NĐ-CP ngày 15/9/2021 của Chính phủ quy định việc công dân Việt Nam ra nước ngoài học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và trao đổi học thuật;

4- Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 03/9/2025 của Chính phủ quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.

Bên cạnh đó, 5 Nghị định sau tiếp tục có hiệu lực một phần:

1- Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo và cơ sở giáo dục có trẻ em nhà trẻ, học sinh hưởng chính sách;

2- Nghị định số 143/2016/NĐ-CP ngày 14/10/2016 của Chính phủ quy định điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp đã được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều tại Nghị định số 140/2018/NĐ-CP và Nghị định số 24/2022/NĐ-CP;

3- Nghị định số 24/2022/NĐ-CP ngày 06/4/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung các Nghị định quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp;

4- Nghị định số 86/2018/NĐ-CP ngày 06/6/2018 của Chính phủ quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2024/NĐ-CP;

5- Nghị định số 124/2024/NĐ-CP ngày 5/10/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 86/2018/NĐ-CP.

(Điều, khoản, điểm tiếp tục có hiệu lực đối với từng nghị định được quy định cụ thể tại Mục II phụ lục đính kèm Nghị quyết số 30/2026/NQ-CP).

Nguyên tắc áp dụng pháp luật

Nghị quyết nêu rõ việc áp dụng các Nghị định quy định ở trên phải bảo đảm phù hợp với quy định của luật sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế đã có hiệu lực; bảo đảm hoạt động quản lý nhà nước không bị gián đoạn; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong thời gian chưa có văn bản quy định chi tiết, quy định cụ thể biện pháp thi hành để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế.

Các quyết định, hành vi áp dụng pháp luật đã được cơ quan, người có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở áp dụng các văn bản nêu trên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành.

Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị quyết này; đồng thời, chủ trì xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành văn bản quy phạm pháp luật để sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ các văn bản trong Danh mục ban hành kèm theo Nghị quyết trong trường hợp cần thiết.

Trong quá trình thực hiện, trường hợp có khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, đơn vị liên quan gửi thông tin, báo cáo, đề xuất, kiến nghị tới Bộ Giáo dục và Đào tạo để tổng hợp, chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan hướng dẫn, xử lý các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền. Trường hợp vượt thẩm quyền, Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/6/2026.

Phê duyệt Đề án hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước để phát triển hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng giai đoạn 2026 – 2030

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1091/QĐ-TTg ngày 17/6/2026 phê duyệt Đề án hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước để phát triển hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng giai đoạn 2026 – 2030 (Đề án).

Đến năm 2030 hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước

Đề án đặt ra các mục tiêu đến năm 2030 hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước để phát triển hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng đáp ứng đồng thời các yêu cầu:

Tổng doanh thu của năm đạt từ 1 tỷ USD (Đô la Mỹ) trở lên; số lượng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm đạt từ 5.000 người trở lên;

Có tối thiểu 01 tổ chức khoa học và công nghệ được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thuộc doanh nghiệp công nghệ số;

Tỷ lệ chi cho R&D (nghiên cứu và phát triển) trên tổng doanh thu của doanh nghiệp đạt từ 3% trở lên;

Doanh nghiệp có tối thiểu 01 bằng sáng chế được cấp bởi một trong năm cơ quan sở hữu trí tuệ uy tín trên thế giới là: USPTO, EPO, JPO, KIPO, CNIPA.

Đưa vào hoạt động tối thiểu 06 tuyến cáp quang biển mới; phấn đấu phủ sóng mạng 5G tới 99% dân số

Các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn sẽ đóng vai trò quan trọng để Việt Nam có hệ thống hạ tầng số quốc gia đồng bộ, hiện đại, xanh, liên thông, kết nối trong nước và quốc tế với dung lượng lớn, tốc độ cao, đủ năng lực tin cậy và khả dụng cao để phục vụ chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số và bảo vệ chủ quyền số. Cụ thể:

Triển khai và đưa vào hoạt động thêm tối thiểu 06 tuyến cáp quang biển mới, kết nối quốc tế dung lượng lớn, tốc độ cao, trong đó có tối thiểu 01 tuyến cáp quang biển do Việt Nam làm chủ đầu tư.

Phát triển nhanh mạng 5G, phấn đấu phủ sóng 99% dân số.

Phát triển và hoàn thiện các nền tảng số, cơ sở dữ liệu dùng chung đáp ứng nhu cầu của các bộ, ngành, địa phương để cung cấp dịch vụ trên phạm vi toàn quốc, đóng vai trò hạ tầng số quan trọng để phát triển kinh tế, xã hội.

Phát triển mới tối thiểu 05 trung tâm dữ liệu quy mô lớn, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn xanh, góp phần đưa Việt Nam trở thành trung tâm dữ liệu của khu vực.

Các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn sẽ xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số quốc gia mở, liên thông, an toàn, đáng tin cậy, bảo đảm dữ liệu được chuẩn hóa, chia sẻ và khai thác có trách nhiệm để thúc đẩy chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và bảo vệ chủ quyền dữ liệu.

Phát triển thị trường dữ liệu có sự giám sát đảm bảo an toàn, tuân thủ quy định của pháp luật; phát triển các dịch vụ dữ liệu (tổng hợp, phân tích, dán nhãn dữ liệu,...).

Các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn góp phần phát triển nhân lực số quy mô lớn, chất lượng cao, đạt chuẩn kỹ năng quốc tế ở các lĩnh vực trọng điểm, thông qua phương thức đào tạo lại, đào tạo nâng cao theo mô hình kết hợp giữa "Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp": Đào tạo, phổ cập, nâng cao kỹ năng số cho cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân thông qua các nền tảng học tập trực tuyến ứng dụng các công nghệ hiện đại như AI, VR, AR,... để giảng dạy, mô phỏng, cập nhật theo tiêu chuẩn quốc tế; Có chính sách thu hút và trọng dụng chuyên gia trong/ngoài nước về làm việc tại các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn, tham gia các dự án phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Việt Nam phấn đấu vào nhóm 3 quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI

Các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn sẽ làm chủ, phát triển và thương mại hóa một số công nghệ chiến lược then chốt, đủ năng lực giải quyết các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, bảo đảm chủ quyền công nghệ. Cụ thể:

Làm chủ, nghiên cứu và phát triển, ứng dụng các công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược; thúc đẩy doanh nghiệp của Việt Nam làm chủ tối thiểu 70% công nghệ chiến lược trong danh mục công nghệ chiến lược đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Việt Nam vào nhóm 3 quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI.

Phát triển tối thiểu 06 hệ thống trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu của Việt Nam phục vụ các bài toán thiết yếu của người dân và xã hội: tư pháp; tài chính; nông nghiệp và môi trường; văn hóa, thể thao, du lịch; giáo dục; y tế.

Xây dựng bản sao số cho một số tỉnh, thành phố: Bao gồm phát triển bản đồ số quốc gia 3D, hạ tầng kỹ thuật đô thị, môi trường, giao thông, logistic, giáo dục, y tế, công thương, bản đồ dịch bệnh, công trình ngầm, không gian mặt đất, không gian vệ tinh.

Xây dựng tối thiểu 01 nền tảng chuỗi khối hỗ trợ cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong việc ứng dụng công nghệ chuỗi khối vào hoạt động quản trị, điều hành, sản xuất, kinh doanh.

Xây dựng năng lực an ninh mạng quốc gia mang tính chủ động để bảo vệ hạ tầng số quan trọng và dữ liệu cá nhân, phát hiện, ngăn chặn, ứng phó, phục hồi sự cố nhanh, bảo đảm an toàn và giữ vững chủ quyền số. Cụ thể:

Phát triển và hoàn thiện mạng lưới kết nối, chia sẻ thông tin giữa các Trung tâm An ninh mạng của tỉnh, thành phố với Trung tâm An ninh mạng quốc gia của Bộ Công an và Bộ Quốc phòng nhằm bảo đảm khả năng giám sát, phát hiện và phản ứng sớm các cuộc tấn công mạng trên toàn quốc.

Phát triển các sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng trọng điểm, chiếm lĩnh thị trường trong nước, có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Hỗ trợ nghiên cứu, phát triển thị trường cho doanh nghiệp

Để thực hiện các mục tiêu trên, Đề án đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp sau: Hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật; triển khai nhiệm vụ trọng điểm quốc gia, bài toán lớn về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; hỗ trợ nghiên cứu, phát triển thị trường cho doanh nghiệp; đo lường, đánh giá kết quả triển khai Đề án.

Đối với nhiệm vụ hỗ trợ nghiên cứu, phát triển thị trường cho doanh nghiệp, Đề án nêu rõ: Căn cứ điều kiện, nhu cầu và lợi thế đặc thù trong các lĩnh vực hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng, các địa phương nghiên cứu, xem xét triển khai khu thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) phù hợp để hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ công nghệ số trước khi triển khai trên quy mô lớn.

Hỗ trợ kêu gọi các quỹ đầu tư trong nước, quỹ đầu tư nước ngoài đầu tư cho hoạt động triển khai các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng theo quy định của pháp luật.

Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn đặt hàng, chia sẻ tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình, dữ liệu, hỗ trợ chuyển giao công nghệ đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các viện, trường thông qua các dự án đồng nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ.

Hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số thông qua việc hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thông qua Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia theo quy định của pháp luật.

Triển khai việc ưu tiên các doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tham gia chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại nhằm hỗ trợ quảng bá sản phẩm, dịch vụ, kết nối mở rộng thị trường trong và ngoài nước.

Triển khai đào tạo, phổ cập, nâng cao kỹ năng số cho cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân thông qua các nền tảng học tập trực tuyến ứng dụng các công nghệ hiện đại để giảng dạy, mô phỏng, cập nhật theo tiêu chuẩn quốc tế.

Nâng cấp hoàn thiện các tuyến đường bộ cao tốc đã đầu tư theo quy mô phân kỳ

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 308/TB-VPCP ngày 17/6/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc tại cuộc họp về đầu tư nâng cấp hoàn thiện các tuyến đường bộ cao tốc đã đầu tư theo quy mô phân kỳ.

Thông báo nêu: Trong thời gian qua, ngành giao thông vận tải đã rất nỗ lực triển khai đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đạt kết quả rất quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh của đất nước. Đến nay, cả nước đã đưa vào khai thác 3.345 km đường bộ cao tốc, tuy nhiên có khoảng 2.801 km đường cao tốc đang khai thác theo quy mô phân kỳ (trong đó có 653 km đường cao tốc 02 làn xe; 2.148 km đường cao tốc 4 làn xe), chưa bảo đảm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đường bộ cao tốc, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông, ùn tắc giao thông. Vì vậy, việc nghiên cứu đầu tư nâng cấp hoàn thiện các tuyến đường bộ cao tốc đã đầu tư theo quy mô phân kỳ là cần thiết, đã được Lãnh đạo Chính phủ chỉ đạo từ nhiệm kỳ trước.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục xác định 3 đột phá chiến lược về phát triển hạ tầng, thể chế, nguồn nhân lực, trong đó mục tiêu đến năm 2030 đưa vào sử dụng trên 5.000 km đường bộ cao tốc. Tại Thông báo số 225/TB-VPCP ngày 30 tháng 4 năm 2026 của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã chỉ đạo "tập trung đầu tư các tuyến cao tốc, đến năm 2030 có trên 5.000 km đường bộ cao tốc, ưu tiên mở rộng các tuyến cao tốc 02 làn xe, từng bước mở rộng cao tốc 4 làn xe hạn chế (ưu tiên tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông) theo quy hoạch".

Do đó, Bộ Xây dựng làm việc cụ thể với Bộ Tài chính để thực hiện đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, xác định thứ tự ưu tiên trên cơ sở cân đối nguồn lực, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư, trong đó cần nghiên cứu cơ chế, chính sách phù hợp để huy động vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước theo ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ tại văn bản số 4853/VPCP-CN ngày 27 tháng 5 năm 2026.

Phó Thủ tướng lưu ý trong quá trình nghiên cứu cần: (i) Tính toán, đánh giá đầy đủ hiệu quả đầu tư, hạch toán kinh tế xã hội, chỉ đầu tư khi dự án có hiệu quả cụ thể và phải xác định được khả năng thu hồi vốn. Các cơ quan tư vấn, cơ quan thẩm định và cơ quan quyết định đầu tư phải chịu trách nhiệm về nội dung này; (ii) Rà soát kỹ đơn giá, định mức kinh tế kỹ thuật để xác định tổng mức đầu tư, dự toán chi phí xây dựng công trình phù hợp, hiệu quả, tránh lãng phí, thất thoát trong đầu tư; (iii) Rà soát, xác định các giải pháp kỹ thuật, đánh giá kỹ các dự án đầu tư như cầu cạn, hầm… để bảo đảm hạn chế tối đa tác động xấu đến môi trường, ảnh hưởng đến sinh kế của người dân, gây sạt lở, lũ lụt mùa mưa bão; đồng thời bảo đảm tính toán hiệu quả của cả vòng đời dự án; (iv) Việc bố trí vốn ngân sách nhà nước thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 27/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 và Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 23 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gắn với hạch toán kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư; đẩy nhanh tiến độ xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030.

Bộ Xây dựng đôn đốc các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Phú Thọ, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đồng Nai, Đồng Tháp, An Giang khẩn trương có ý kiến gửi Bộ Xây dựng để tổng hợp, thực hiện báo cáo, đề xuất phương án đầu tư cụ thể, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 22 tháng 6 năm 2026./.