• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/6/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/6/2026.

19/06/2026 18:45
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/6/2026- Ảnh 1.

Công tác bảo đảm an ninh hàng không là trách nhiệm của tất cả các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động hàng không dân dụng.

Quy định về an ninh hàng không 

Chính phủ ban hành Nghị định số 215/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 về an ninh hàng không.

Nghị định 215/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15; áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài liên quan đến hoạt động hàng không dân dụng tại Việt Nam.

Nghị định nêu rõ bảo đảm an ninh hàng không là nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước, Chính phủ và ngành hàng không dân dụng Việt Nam nhằm bảo vệ tính mạng của con người, tài sản trong hoạt động hàng không dân dụng; bảo vệ tàu bay và công trình, trang bị, thiết bị tại cảng hàng không; đối phó với các hành vi can thiệp bất hợp pháp, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội tại các địa bàn hoạt động hàng không dân dụng.

Bảo đảm tuyệt đối an ninh đối với chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang.

Các quy trình an ninh hàng không được áp dụng phải bảo đảm an ninh tối đa cho mọi hoạt động hàng không dân dụng, chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận chuyển hàng không và phù hợp với các điều ước quốc tế về hàng không dân dụng mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Công tác bảo đảm an ninh hàng không là trách nhiệm của tất cả các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động hàng không dân dụng, trong đó lực lượng Công an giữ vai trò nòng cốt.

Các sự cố, hành vi vi phạm quy định về an ninh hàng không phải được xử lý, báo cáo kịp thời, đầy đủ và được nghiên cứu, thống kê, phân tích, rút kinh nghiệm, giảng bình để khắc phục những sơ hở, thiếu sót.

Tuân thủ luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế. Trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Hoạt động bảo đảm an ninh hàng không phải gắn với yêu cầu tạo thuận lợi, bảo đảm duy trì hoạt động khai thác hàng không an toàn, liên tục và hiệu quả.

Các đối tượng bị cấm vận chuyển bằng đường hàng không Một trong các nội dung đáng chú ý của Nghị định là quy định về các trường hợp hành khách bị cấm vận chuyển bằng đường hàng không.

1. Cấm vận chuyển có thời hạn từ 03 tháng đến 12 tháng đối với các đối tượng sau đây:

a) Hành khách gây rối;

b) Phát ngôn mang tính đe dọa sử dụng bom, mìn, chất nổ, vật liệu nổ, chất phóng xạ, vũ khí sinh học, hóa học trong khu vực làm thủ tục vận chuyển, khu vực cách ly, sân bay, trên tàu bay;

c) Cố ý tung tin, cung cấp thông tin sai về việc có bom, mìn, vật liệu nổ, chất nổ, chất phóng xạ, vũ khí sinh học, hóa học gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của hoạt động hàng không dân dụng;

d) Sử dụng giấy tờ giả để đi tàu bay;

đ) Có hành vi vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội tại cảng hàng không, trên tàu bay.

2. Cấm vận chuyển có thời hạn trên 12 tháng đến 24 tháng đối với các trường hợp sau đây:

a) Đối tượng đã bị xử lý nhưng vẫn vi phạm một trong những hành vi quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Người có hành vi can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng quy định tại các điểm g và h khoản 1 Điều 94 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15.

3. Cấm vận chuyển có thời hạn cho đến khi đối tượng chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính đối với người không thực hiện các quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng.

4. Cấm vận chuyển vĩnh viễn đối với các trường hợp sau đây:

a) Đối tượng đã bị xử lý nhưng vẫn vi phạm một trong những trường hợp nêu tại khoản 2 Điều này;

b) Người có hành vi can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 1 Điều 94 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15;

c) Người có hành vi chiếm đoạt, gây bạo loạn tại cảng hàng không và cơ sở cung cấp dịch vụ điều hành bay.

Nghị định nêu rõ: Căn cứ tính chất mức độ vi phạm, Cục Quản lý xuất nhập cảnh quyết định cấm vận chuyển có thời hạn hoặc vĩnh viễn đối với các đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 của Điều này. Quyết định cấm vận chuyển được áp dụng đối với các chuyến bay nội địa, chuyến bay quốc tế xuất phát từ Việt Nam của tất cả các hãng hàng không Việt Nam và nước ngoài.

Trẻ em từ 2 - 12 tuổi đi tàu bay được giảm 50% mức phí bảo đảm an ninh hàng không

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định các trường hợp được miễn phí bảo đảm an ninh hàng không như sau:

a) Chuyến bay chuyên cơ, chuyên khoang phục vụ nhiệm vụ chính trị, đối ngoại của Đảng và Nhà nước theo quy định của pháp luật;

b) Túi ngoại giao, túi lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;

c) Trẻ em dưới 02 tuổi đi tàu bay;

d) Các trường hợp khác được miễn phí theo điều ước quốc tế hoặc theo quy định của pháp luật có liên quan.

Trẻ em từ đủ 02 tuổi đến dưới 12 tuổi đi tàu bay được áp dụng mức thu bằng 50% mức thu phí đối với hành khách người lớn theo quy định tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định này.

Việc bù trừ hoặc hoàn trả số tiền phí đã nộp thừa hoặc không còn thuộc đối tượng chịu phí được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật có liên quan.

Danh mục phí và mức thu phí bảo đảm an ninh hàng không

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026./.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/6/2026- Ảnh 2.

Tổ chức vi phạm về sản xuất, buôn bán giống cây trồng phạt đến 100 triệu đồng

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật

Chính phủ ban hành Nghị định số 214/2026/NĐ-CP ngày 18/6/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật.

Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực trồng trọt, bảo vệ và kiểm dịch thực vật.

Nghị định quy định mức phạt tiền tối đa cho một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trồng trọt (trừ phân bón), bảo vệ và kiểm dịch thực vật đối với cá nhân là 50.000.000 đồng.

Vi phạm quy định về sản xuất, buôn bán giống cây trồng bị phạt tới 50 triệu đồng

Cụ thể, đối với các hành vi vi phạm quy định về sản xuất giống cây trồng, Nghị định quy định phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

- Sản xuất mỗi loại giống cây trồng nhằm mục đích buôn bán không đúng nội dung trong Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng hoặc Quyết định công nhận giống cây trồng mới hoặc Quyết định công nhận lưu hành đặc cách giống cây trồng hoặc tự công bố lưu hành giống cây trồng;

- Sản xuất giống cây trồng nhằm mục đích buôn bán khi chưa có hoặc chưa thuê địa điểm, trang thiết bị theo tiêu chuẩn quốc gia về phương pháp sản xuất giống cây trồng hoặc tiêu chuẩn cơ sở trong trường hợp không có tiêu chuẩn quốc gia.

Phạt tiền đối với hành vi sản xuất mỗi loại giống cây ăn quả lâu năm, cây công nghiệp lâu năm bằng phương pháp vô tính nhằm mục đích buôn bán mà không lấy vật liệu nhân giống của cây đầu dòng hoặc vườn cây đầu dòng đã được cấp Quyết định công nhận, cụ thể như sau:

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất lô giống có số lượng dưới 1.000 cây giống;

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất lô giống có số lượng từ 1.000 cây đến dưới 3.000 cây giống;

Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất lô giống có số lượng từ 3.000 cây đến dưới 5.000 cây giống;

Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi sản xuất lô giống có số lượng từ 5.000 cây giống trở lên.

Đối với hành vi vi phạm quy định về buôn bán giống cây trồng, Nghị định quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi buôn bán mỗi loại giống cây trồng không thuộc loài cây trồng chính mà thông tin của giống cây trồng không đúng nội dung trong tự công bố lưu hành giống cây trồng theo quy định của pháp luật về trồng trọt.

Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi buôn bán mỗi loại giống cây trồng thuộc loài cây trồng chính mà thông tin của giống cây trồng không đúng nội dung trong Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng hoặc Quyết định công nhận giống cây trồng mới hoặc Quyết định công nhận lưu hành đặc cách giống cây trồng.

Phạt tiền tới 5.000.000 đồng đối với hành vi buôn bán mỗi loại giống cây trồng nhưng chưa được cấp Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng hoặc chưa được cấp Quyết định công nhận giống cây trồng mới hoặc chưa được cấp Quyết định công nhận lưu hành đặc cách giống cây trồng hoặc chưa tự công bố lưu hành giống cây trồng.

Vi phạm quy định về xuất khẩu giống cây trồng bị phạt tới 40 triệu đồng

Nghị định quy định phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi xuất khẩu mỗi loại giống cây trồng và hạt lai của giống cây trồng chưa được cấp Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng hoặc Quyết định công nhận giống cây trồng mới hoặc Quyết định công nhận lưu hành đặc cách giống cây trồng hoặc tự công bố lưu hành giống cây trồng và không thuộc Danh mục nguồn gen giống cây trồng cấm xuất khẩu để phục vụ nghiên cứu, khảo nghiệm, quảng cáo, triển lãm, trao đổi quốc tế không vì mục đích thương mại, mà không có Giấy phép xuất khẩu giống cây trồng.

Đối với hành vi vi phạm quy định về nhập khẩu giống cây trồng, Nghị định quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi nhập khẩu mỗi loại giống cây trồng chưa được cấp Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng hoặc Quyết định công nhận giống cây trồng mới hoặc Quyết định công nhận lưu hành đặc cách giống cây trồng hoặc tự công bố lưu hành giống cây trồng và đã có Giấy phép nhập khẩu giống cây trồng để phục vụ nghiên cứu, khảo nghiệm, quảng cáo, triển lãm, trao đổi quốc tế mà không báo cáo kết quả nhập khẩu và sử dụng giống về cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi nhập khẩu mỗi loại giống cây trồng chưa được cấp Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng hoặc Quyết định công nhận giống cây trồng mới hoặc Quyết định công nhận lưu hành đặc cách giống cây trồng hoặc tự công bố lưu hành giống cây trồng để phục vụ nghiên cứu, khảo nghiệm, quảng cáo, triển lãm, trao đổi quốc tế không đúng với nội dung trong Giấy phép nhập khẩu giống cây trồng.

Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi nhập khẩu mỗi loại giống cây trồng chưa được cấp Quyết định công nhận lưu hành giống cây trồng hoặc Quyết định công nhận giống cây trồng mới hoặc Quyết định công nhận lưu hành đặc cách giống cây trồng hoặc tự công bố lưu hành giống cây trồng mà không có Giấy phép nhập khẩu giống cây trồng trừ trường hợp nhập khẩu hạt giống bố mẹ để sản xuất hạt lai phục vụ xuất khẩu.

Trên đây là mức phạt tiền đối với cá nhân. Đối với tổ chức có cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Quy định trên có hiệu lực từ ngày 5/8/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/6/2026- Ảnh 3.

Một số cơ chế, chính sách xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật về sử dụng quỹ đất dự kiến lấn biển để thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện công trình, dự án phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 theo hình thức hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao 

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 66.20/2026/NQ-CP quy định một số cơ chế, chính sách xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật về sử dụng quỹ đất dự kiến lấn biển để thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện công trình, dự án phục vụ Hội nghị cấp cao APEC 2027 theo hình thức hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (dự án BT).

Để xử lý khó khăn, vướng mắc trong việc sử dụng quỹ đất lấn biển để thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT, Chính phủ cho phép UBND tỉnh An Giang được sử dụng khu vực định hướng lấn biển thuộc Đặc khu Phú Quốc trong Quy hoạch tỉnh hoặc Quy hoạch chung Đặc khu Phú Quốc để tạo quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện công trình, dự án BT và được thực hiện đồng thời các thủ tục theo quy định sau:

Hoạt động lấn biển tại khu vực biển nhằm tạo quỹ đất thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT được thực hiện như sau:

a- Căn cứ định hướng khu vực lấn biển trong Quy hoạch tỉnh hoặc Quy hoạch chung Đặc khu Phú Quốc, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang lựa chọn một hoặc một số khu vực dự kiến lấn biển theo quy hoạch phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương để xác định phần diện tích dự kiến thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT, bảo đảm vị trí, ranh giới và diện tích khu vực dự kiến lấn biển không ảnh hưởng đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, phương án tác chiến phòng thủ trên địa bàn chiến lược này và đảm bảo tác động không quá lớn tới môi trường, đất đai. Đồng thời xác định giá trị tạm tính của khu vực dự kiến lấn biển được lựa chọn căn cứ giá đất theo mục đích sử dụng mới tại bảng giá đất của khu vực, vị trí đất liền có cùng mục đích sử dụng đất chính, có khoảng cách gần nhất, tương đồng nhất định về các yếu tố ảnh hưởng đến giá đất tại Đặc khu Phú Quốc và hệ số điều chỉnh giá đất được Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành theo quy định của pháp luật về đất đai.

Trường hợp không xác định được khu vực, vị trí đất liền đáp ứng các tiêu chí này hoặc chưa ban hành hệ số điều chỉnh giá đất theo quy định của pháp luật đất đai thì sử dụng giá đất cao nhất tại bảng giá đất được Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang ban hành tại Đặc khu Phú Quốc;

b- Trong quá trình xác định diện tích và giá trị tạm tính của khu vực dự kiến lấn biển trong Quy hoạch tỉnh hoặc Quy hoạch chung Đặc khu Phú Quốc quy định tại điểm a nêu trên, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang được tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch phân khu đối với khu vực dự kiến lấn biển được lựa chọn;

c- Căn cứ giá trị tạm tính của khu vực dự kiến lấn biển trong Quy hoạch tỉnh hoặc Quy hoạch chung Đặc khu Phú Quốc được xác định tại điểm a, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang xác định phần diện tích dự kiến lấn biển để thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT, bảo đảm phần diện tích này có giá trị tương đương với tổng mức đầu tư công trình dự án BT theo quy định tại Điều 6 của Nghị định số 257/2025/NĐ-CP ngày 08 tháng 10 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết về việc thực hiện dự án áp dụng loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (Nghị định số 257/2025/NĐ-CP).

Trường hợp Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đã hoặc dự kiến giao quỹ đất khác để thanh toán cho nhà đầu tư thì xác định phần diện tích dự kiến lấn biển để thanh toán cho nhà đầu tư, bảo đảm tổng giá trị của phần diện tích dự kiến lấn biển và quỹ đất khác tương đương với tổng mức đầu tư công trình dự án BT theo quy định tại Điều 6 của Nghị định số 257/2025/NĐ-CP.

Tổng mức đầu tư công trình dự án BT có các hạng mục phức tạp, yêu cầu cao về thiết kế, mỹ thuật, công nghệ mới hoặc điều kiện thi công khó khăn, cần áp dụng định mức, đơn giá hoặc suất vốn đầu tư đặc biệt được xác định theo quy định của pháp luật về xây dựng;

d- Sau khi xác định phần diện tích dự kiến lấn biển để thanh toán cho nhà đầu tư thực hiện dự án BT theo quy định tại điểm c, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh An Giang xem xét, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư của dự án BT (trường hợp dự án đã được quyết định chủ trương đầu tư) để sử dụng phần diện tích dự kiến lấn biển thanh toán cho nhà đầu tư, làm cơ sở để phê duyệt dự án, thiết kế kỹ thuật, dự toán và ký kết hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng (nếu có).

Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang và nhà đầu tư dự án BT được ký kết hợp đồng trên cơ sở tổng mức đầu tư tại quyết định phê duyệt dự án trong trường hợp thiết kế kỹ thuật, dự toán công trình dự án BT được cấp có thẩm quyền phê duyệt từng công trình, hạng mục công trình, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang và nhà đầu tư dự án BT phải ký kết phụ lục hợp đồng sau khi thiết kế kỹ thuật, dự toán của công trình, hạng mục công trình thuộc dự án BT được phê duyệt theo quy định của pháp luật về xây dựng, bảo đảm không vượt tổng mức đầu tư được duyệt;

đ- Đối với dự án đối ứng triển khai trên phần diện tích dự kiến lấn biển và quỹ đất khác (nếu có), trong quá trình Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang điều chỉnh chủ trương đầu tư (nếu có) và thực hiện các thủ tục khác theo quy định tại điểm d khoản này, nhà đầu tư thực hiện dự án BT được triển khai thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang quyết định theo quy định của pháp luật về đầu tư;

e- Nhà đầu tư dự án BT được thực hiện hoạt động lấn biển đối với phần diện tích dự kiến lấn biển được Hội đồng nhân dân tỉnh An Giang quyết định tại d và được thanh toán diện tích quỹ đất hình thành sau khi lấn biển. Việc thanh toán quỹ đất lấn biển cho nhà đầu tư thực hiện theo tiến độ xây dựng công trình BT, tương ứng với tiến độ của hoạt động lấn biển và được các bên thỏa thuận, thống nhất tiến độ thanh toán tại hợp đồng dự án.

Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang chịu trách nhiệm xác định giá trị công trình BT quyết toán hoàn thành hoặc khối lượng nghiệm thu công trình, hạng mục công trình BT hoàn thành và giá trị quỹ đất thanh toán tại thời điểm thanh toán, quyết toán, làm cơ sở thực hiện cơ chế bù trừ chênh lệch giữa giá trị công trình BT và giá trị quỹ đất thanh toán theo quy định tại Luật PPP và Nghị định số 257/2025/NĐ-CP;

g- Việc tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với quỹ đất hình thành sau khi lấn biển và việc xác định, xử lý chi phí lấn biển thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 18/6/2026 đến hết ngày 28/2/2027.

Các dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết này được áp dụng chính sách của Nghị quyết này đến khi hoàn thành dự án.

Trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới có hiệu lực thi hành sau ngày Nghị quyết này được thông qua và trước ngày 1/3/2027 thì các quy định tương ứng được ban hành trong Nghị quyết này chấm dứt hiệu lực.

Trong thời gian các quy định của Nghị quyết này có hiệu lực, trường hợp quy định về trình tự, thủ tục đầu tư, xây dựng trong Nghị quyết này khác với các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan thì thực hiện theo quy định tại Nghị quyết này.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/6/2026- Ảnh 4.

Chính phủ sửa đổi một số nội dung trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam.

Sửa đổi, bổ sung Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 155/NQ-CP ngày 19/6/2026 sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Cụ thể, Nghị quyết số 155/NQ-CP sửa đổi, điều chỉnh nội dung các nhiệm vụ trong Chương trình hành động tại Nghị quyết số 30/NQ-CP như sau:

Nhiệm vụ: "Rà soát, sửa đổi, bổ sung Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2030" thành "Xây dựng Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045" (tại mục 2 phần II Chương trình hành động).

Nhiệm vụ: "Xây dựng Nghị định về hạ tầng văn hóa số, các nền tảng dữ liệu dùng chung nền tảng dữ liệu chuyên ngành, số hóa, dữ liệu và quản lý không gian văn hóa số" thành "Xây dựng Nghị định quy định về chính sách chuyển đổi số và phát triển hạ tầng văn hóa số" (tại mục 2, phần II Chương trình hành động), đồng thời điều chỉnh thống nhất tên gọi của Nghị định này tại điểm b mục 3 phần II của Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội khóa XVI về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 875/QĐ-TTg ngày 15/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ.

Bên cạnh đó, lồng ghép nội dung nhiệm vụ: "Xây dựng Chiến lược quốc gia phát triển nhân lực văn hóa, nghệ thuật và sáng tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045" (tại mục 7 phần II Chương trình hành động) vào nhiệm vụ "Xây dựng Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045" (tại mục 2 phần II Chương trình hành động).

Điều chỉnh thời hạn hoàn thành đối với 13 nhiệm vụ

Lồng ghép nội dung nhiệm vụ "Xây dựng và triển khai Đề án "Phát triển thương hiệu quốc gia về du lịch trên nền tảng văn hóa trong kỷ nguyên mới"; tái cấu trúc sản phẩm, dịch vụ du lịch dựa trên bản sắc văn hóa của vùng, miền, địa phương gắn với thị hiếu của du khách, đồng bộ với quảng bá, xúc tiến chuyên biệt tại các thị trường trọng điểm của du lịch Việt Nam" (tại mục 2 phần VI Phụ lục Chương trình hành động) vào nhiệm vụ "Rà soát, sửa đổi, bổ sung Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030" (tại mục 4 phần VI Phụ lục Chương trình hành động).

Đồng thời, bổ sung nhiệm vụ: "Xây dựng Bộ Chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW" vào mục 2 phần II Chương trình hành động; thời hạn hoàn thành trong Quý III/2026.

Nghị quyết cũng điều chỉnh thời hạn hoàn thành đối với 13 nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế, xây dựng con người Việt Nam và thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa (tại Phụ lục danh mục ban hành kèm theo Nghị quyết này). Đa số các nhiệm vụ được yêu cầu hoàn thành sớm hơn hoặc xác định mốc thời gian cụ thể.

Các nội dung khác giữ nguyên theo Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/6/2026- Ảnh 5.

Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo xây dựng trường học cho các xã biên giới

Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu - Trưởng Ban Chỉ đạo xây dựng trường học cho các xã biên giới vừa ký Quyết định số 57/QĐ-BCĐ ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo này.

Quy chế này quy định nguyên tắc, chế độ làm việc, trách nhiệm của thành viên Ban Chỉ đạo, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo; chế độ thông tin, báo cáo của Ban Chỉ đạo xây dựng trường học cho các xã biên giới (Ban Chỉ đạo).

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên Ban Chỉ đạo

Quyết định nêu rõ, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của thành viên Ban Chỉ đạo thực hiện theo quy định tại Quyết định số 360/QĐ-TTg ngày 28/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng trường học cho các xã biên giới và Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 27/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo.

Nguyên tắc làm việc của Ban Chỉ đạo

Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các thành viên Ban Chỉ đạo làm việc theo chế độ kiêm nhiệm.

Ban Chỉ đạo làm việc theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, thảo luận công khai, bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất, đề cao trách nhiệm của Trưởng ban.

Trưởng ban là người quyết định cuối cùng đối với các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Ban Chỉ đạo. Phó Trưởng ban được quyết định một số vấn đề cụ thể theo phân công, ủy quyền của Trưởng ban.

Các thành viên Ban Chỉ đạo chịu trách nhiệm thực hiện công việc được phân công và chủ động chỉ đạo cơ quan chức năng triển khai các nhiệm vụ thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước được giao để thực hiện chủ trương đầu tư xây dựng trường học cho các xã biên giới theo kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 81-TB/TW và chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 298/NQ-CP ngày 26/9/2025 ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Thông báo số 81-TB/TW, Nghị quyết số 140/NQ-CP ngày 28/5/2026 tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 298/NQ-CP.

Ban Chỉ đạo họp định kỳ 3 tháng/1 lần và họp bất thường theo quyết định của Trưởng ban. Ngoài việc họp trực tiếp, trực tuyến, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo có thể lấy ý kiến bằng văn bản của thành viên Ban Chỉ đạo, tổng hợp, báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo xem xét, quyết định.

Nội dung cuộc họp định kỳ tập trung đánh giá tổng thể tình hình thực hiện nhiệm vụ xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới; đề xuất, xử lý các vấn đề khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện; báo cáo, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết những vấn đề vượt thẩm quyền của Ban Chỉ đạo.

Trách nhiệm của Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo

Bộ Giáo dục và Đào tạo là Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo, có trách nhiệm giúp Ban Chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo; đầu mối cung cấp thông tin, số liệu, tài liệu liên quan phục vụ công việc của Ban Chỉ đạo.

Cơ quan Thường trực còn có nhiệm vụ chuẩn bị tài liệu, báo cáo, điều kiện cơ sở vật chất (khi được yêu cầu) và dự thảo thông báo kết luận các cuộc họp định kỳ hoặc đột xuất của Ban Chỉ đạo. Tổng hợp, báo cáo các hoạt động chung của Ban Chỉ đạo. Tham gia các cuộc họp và chương trình công tác của Ban Chỉ đạo. Theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các nhiệm vụ do Ban Chỉ đạo, Trưởng Ban Chỉ đạo giao các bộ, ngành, địa phương, các thành viên Ban Chỉ đạo và thực hiện các nhiệm vụ khác do Trưởng Ban Chỉ đạo, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo giao.

Kiện toàn thành viên Ban Chỉ đạo An ninh mạng quốc gia

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã ký Quyết định số 1100/QĐ-TTg ngày 19/6/2026 về việc bổ sung, kiện toàn thành viên Ban Chỉ đạo An ninh mạng quốc gia (Ban Chỉ đạo).

Theo Quyết định, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng là Trưởng Ban Chỉ đạo.

Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang là Phó Trưởng ban thường trực.

Các Phó Trưởng ban gồm: Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết; Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Văn Giang; Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng.

Các Ủy viên gồm: Ông Đặng Xuân Phong, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; ông Võ Thành Hưng, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; ông Ngô Đông Hải, Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; ông Phạm Thế Tùng, Thứ trưởng Bộ Công an; ông Nguyễn Tân Cương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; ông Lê Hoài Trung, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; ông Vũ Hải Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; ông Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Bộ Tài chính; ông Đỗ Thanh Bình, Bộ trưởng Bộ Nội vụ; bà Lâm Thị Phương Thanh, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; ông Trịnh Việt Hùng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; ông Hoàng Thanh Tùng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp; ông Phạm Đức Ấn, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; ông Nguyễn Thanh Lâm, Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam; ông Đỗ Tiến Sỹ, Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam; bà Vũ Việt Trang, Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam.

Quyết định này có hiệu lực từ ngày 19/6/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 19/6/2026- Ảnh 6.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà chủ trì Hội nghị Ban Chỉ đạo triển khai các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ.

Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà tại Hội nghị Ban Chỉ đạo triển khai các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ 

Văn phòng Chính phủ vừa ban hành Thông báo 314/TB-VPCP ngày 19/6/2026 kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà tại Hội nghị Ban Chỉ đạo triển khai các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027).

Ngày 17 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, Trưởng Ban Chỉ đạo triển khai các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027) (sau đây gọi tắt là Ban Chỉ đạo) đã chủ trì Hội nghị của Ban Chỉ đạo.

Tại Thông báo kết luận, Phó Thủ tướng đánh giá các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã tập trung triển khai quyết liệt Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ ban hành kèm theo Quyết định số 692/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ và đã đạt được những kết quả bước đầu rất đáng ghi nhận.

Kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ là sự kiện chính trị, lịch sử, nhân văn đặc biệt quan trọng cấp quốc gia, là dịp tôn vinh sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ và người có công với cách mạng; đồng thời là động lực bồi đắp lòng yêu nước, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Do vậy, Phó Thủ tướng đề nghị các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo cùng với các bộ, cơ quan, địa phương quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc các quan điểm, yêu cầu sau:

Xác định công tác chăm sóc, tri ân người có công là nhiệm vụ chính trị trọng đại, thường xuyên và lâu dài của cả hệ thống chính trị, được thực hiện bằng trách nhiệm chính trị cao nhất, bằng sự tâm huyết, trí tuệ và tình cảm thiêng liêng. Đây là mệnh lệnh từ trái tim và là cuộc chạy đua với thời gian để kịp thời đền đáp công ơn khi thế hệ người có công tuổi ngày càng cao, sức khỏe ngày càng giảm sút.

Các hoạt động tri ân phải bảo đảm trang trọng, thiết thực, ý nghĩa, nhân văn và có sức lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội; tuyệt đối chống phô trương, hình thức, lãng phí.

Phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, kết hợp chặt chẽ giữa nguồn lực ngân sách nhà nước và nguồn lực xã hội hóa hợp pháp.

Tập trung cao độ nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, làm việc nào dứt điểm việc đó, bảo đảm thực chất và hiệu quả, biến lòng biết ơn thành những hành động và công trình cụ thể nhằm đem lại lợi ích thiết thực tốt nhất cho các gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và người có công với nước.

Hoàn thiện hồ sơ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và các Nghị định hướng dẫn thi hành

Phó Thủ tướng yêu cầu các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo trực tiếp chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chức năng thuộc lĩnh vực theo dõi tập trung thực hiện quyết liệt một số nhiệm vụ trọng tâm.

Trong đó, Bộ Nội vụ chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan hoàn thiện hồ sơ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và các Nghị định hướng dẫn thi hành, bảo đảm hoàn thành trong tháng 6 năm 2026; trong đó lưu ý cần bổ sung đầy đủ và báo cáo giải trình rõ việc thể hiện các chính sách: (i) Trợ cấp nuôi dưỡng, hỗ trợ giáo dục đối với con liệt sĩ cho đến năm 18 tuổi; (ii) Nâng mức phụ cấp ưu đãi đối với thương binh nặng; (iii) Mở rộng đối tượng thụ hưởng là người có công cho phù hợp với yêu cầu trong tình hình mới. Văn phòng Chính phủ thực hiện lấy ý kiến Thành viên Chính phủ ngay sau khi nhận được hồ sơ trình Chính phủ của Bộ Nội vụ về Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (sửa đổi), phối hợp với Bộ Nội vụ trong quá trình tiếp thu, giải trình ý kiến thành viên Chính phủ để sớm hoàn thiện hồ sơ, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 6 năm 2026.

Khẩn trương đôn đốc, hướng dẫn các địa phương rà soát, đánh giá trang thiết bị, hạ tầng kỹ thuật, hệ thống phục hồi chức năng tại các Trung tâm nuôi dưỡng và điều dưỡng người có công (gồm 06 cơ sở trực thuộc Bộ và 40 cơ sở do địa phương quản lý) để cải tạo, sửa chữa, mua sắm bổ sung các thiết bị chuyên dụng, hỗ trợ chăm sóc thương binh, bệnh binh. Bộ Nội vụ có trách nhiệm theo dõi, giám sát, đôn đốc việc thực hiện của các địa phương và định kỳ báo cáo kết quả cho Ban Chỉ đạo, bảo đảm nhiệm vụ này hoàn thành trước ngày 30 tháng 4 năm 2027.

Quyết liệt triển khai hỗ trợ sửa chữa, xây dựng mới nhà ở cho con đẻ của người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang sống trong nhà tạm, nhà dột nát

Bộ Quốc phòng tập trung thực hiện quyết liệt, hiệu quả "Chiến dịch 500 ngày đêm"; trong đó đẩy mạnh việc triển khai tìm kiếm, quy tập tại các chiến trường, các địa điểm, địa bàn diễn ra các trận đánh lớn.

Khẩn trương hoàn thành việc rà phá bom mìn tại các vùng lõi trọng điểm, đặc biệt tại Tuyên Quang (Vị Xuyên) và Lào Cai trong năm 2026 để giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện cho việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.

Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan và chính quyền các địa phương quyết liệt triển khai hỗ trợ sửa chữa, xây dựng mới nhà ở cho con đẻ của người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang sống trong nhà tạm, nhà dột nát từ nguồn Quỹ Vì người nghèo của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ngân sách địa phương để bảo đảm mức hỗ trợ xây mới, sửa chữa như Đề án đã báo cáo Ban Bí thư Trung ương Đảng; kết hợp với các nguồn xã hội hóa khác (nếu có) để nâng mức hỗ trợ thực tế đạt khoảng 100 triệu đồng/căn xây mới và 50 triệu đồng/căn sửa chữa; chuẩn bị đầy đủ kỹ lưỡng các điều kiện để tổ chức khởi công đồng loạt một số công trình vào đầu tháng 7 năm 2026 và hoàn thành toàn bộ trước ngày 30 tháng 6 năm 2027.

Phối hợp chặt chẽ với Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao và Trung tâm Việt Nam và Lưu trữ Việt Nam Sam Johnson thuộc Trường Đại học Công nghệ Texas, Hoa Kỳ để tiếp nhận các báo cáo nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến bộ đội Việt Nam hy sinh, mất thông tin, mất tích trong chiến tranh và tổ chức thẩm định, khai thác hiệu quả các thông tin, tài liệu được bàn giao, phục vụ cho công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.

Phát động phong trào sưu tầm kỷ vật, ghi chép câu chuyện thời chiến

Đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp định hướng thông tin truyền thông thống nhất; chủ trì mở đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng lan tỏa đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" trên toàn quốc; bố trí lộ trình truyền thông hợp lý theo hướng tập trung cao điểm cho dịp Kỷ niệm 79 năm (năm 2026) và lan tỏa trọng điểm hướng tới Kỷ niệm 80 năm (năm 2027).

Chỉ đạo triển khai kế hoạch và kịch bản chi tiết cho Cầu truyền hình trực tiếp giao lưu nghệ thuật đặc biệt tại 6 điểm cầu vào tối ngày 26 tháng 7 năm 2027 và chương trình nghệ thuật chính luận "Dáng đứng Việt Nam" tại Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình trong năm 2027.

Chủ trì tiến hành tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19 tháng 7 năm 2017 của Ban Bí thư về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng.

Đề nghị Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục truyền thống trong thế hệ trẻ; chủ trì tổ chức Lễ thắp nến tri ân đồng loạt vào lúc 20h00 ngày 26 tháng 7 hằng năm; đẩy mạnh phong trào thanh niên tình nguyện ra quân làm sạch đẹp nghĩa trang liệt sĩ; phát động phong trào sưu tầm kỷ vật, ghi chép câu chuyện thời chiến từ các nhân chứng lịch sử để xây dựng các cuốn sách về ký ức chiến tranh.

Đề nghị Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam chủ động phát sóng các chuyên mục, phim tài liệu, phóng sự tri ân các anh hùng liệt sĩ, người có công. Đài Truyền hình Việt Nam chủ trì chuẩn bị kịch bản tổ chức Cầu truyền hình "Đi tìm đồng đội" tháng 7 năm 2026 tại 4 điểm cầu Vị Xuyên (Tuyên Quang), Quảng Trị, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Cầu truyền hình trực tiếp đặc biệt tri ân các anh hùng liệt sĩ tại 6 điểm cầu vào tối ngày 26 tháng 7 năm 2027 (Thái Nguyên, Quảng Trị, Điện Biên, An Giang, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh); phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật để truyền hình trực tiếp Chương trình nghệ thuật đặc biệt trên sóng truyền hình quốc gia.

Bố trí ngân sách địa phương và đẩy mạnh xã hội hóa để tu bổ, sửa chữa, chỉnh trang đền thờ, đài tưởng niệm, nghĩa trang liệt sĩ

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chủ động, quyết liệt triển khai các nhiệm vụ tri ân, tìm kiếm quy tập trên địa bàn; bố trí ngân sách địa phương và đẩy mạnh xã hội hóa để tu bổ, sửa chữa, chỉnh trang đền thờ, đài tưởng niệm, nghĩa trang liệt sĩ. Ngân sách trung ương chỉ xem xét hỗ trợ các địa phương khó khăn (đặc biệt ưu tiên đối với các nghĩa trang liệt sĩ cấp quốc gia).

Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tập trung mọi nguồn lực đẩy nhanh các thủ tục đầu tư, sớm khởi công dự án trọng điểm Khu tưởng niệm anh hùng liệt sĩ và người có công; đồng thời bảo đảm an ninh trật tự, cảnh quan đô thị phục vụ Lễ kỷ niệm cấp Nhà nước và Hội nghị tri ân toàn quốc.

Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, Hải Phòng khẩn trương xây dựng kế hoạch, chủ trì tổ chức thành công các chương trình nghệ thuật đặc biệt: Chương trình "Mãi mãi tuổi 20" tại tỉnh Quảng Ninh (ngày 24 tháng 7 năm 2026 với quy mô khoảng 40.000 khán giả) và Chương trình nghệ thuật đặc biệt tại thành phố Đà Nẵng (tháng 5 năm 2027) thành phố Hải Phòng (tháng 6 năm 2027); bảo đảm các chương trình quy mô lớn, mang tính hào hùng, bi tráng và lay động sâu sắc.

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư lệnh Quân khu 7 bám sát tình hình, tổ chức các hội thảo khoa học, rà soát, mở rộng tìm kiếm các khu mộ liệt sĩ tập thể trên địa bàn; khẩn trương hoàn thành việc rà soát, kiểm tra địa hình thực địa tại khu vực Công viên Lê Thị Riêng, có văn bản báo cáo Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ trong tháng 6 năm 2026; xây dựng kế hoạch, chủ trì tổ chức thành công các chương trình nghệ thuật đặc biệt (tháng 5 năm 2027).

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo tu bổ các nghĩa trang liệt sĩ quốc gia tại địa phương mình và chuẩn bị mọi điều kiện tốt nhất phục vụ cho các điểm Cầu truyền hình trực tiếp./.