• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/1/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/1/2026 (2).

20/01/2026 20:04

Nghị quyết về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 

Chính phủ ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/1/2026 (2)- Ảnh 1.

Nghị quyết 01/NQ-CP: Tăng tốc, đột phá, phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% năm 2026.

Nghị quyết nêu: Năm 2025, trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức từ bên ngoài và thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, vượt mức lịch sử, chúng ta đã chủ động, sáng tạo, quyết liệt, kịp thời, hiệu quả trong chỉ đạo, điều hành, thích ứng linh hoạt với tình hình, "xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái".

Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 tiếp tục đạt được nhiều kết quả ấn tượng, rất đáng trân trọng, tự hào, được Nhân dân và cộng đồng quốc tế đánh giá cao; tiếp tục tạo xu thế đổi mới, tạo đà phát triển nhanh, bền vững, bao trùm, toàn diện bước vào kỷ nguyên mới.

Năm 2026 có ý nghĩa quan trọng, khởi đầu một giai đoạn phát triển mới, là năm diễn ra Đại hội lần thứ XIV của Đảng, tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030, phấn đấu tăng trưởng 2 con số.

Trong khi đó, tình hình thế giới dự báo tiếp tục phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Ở trong nước, thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn, nhất là từ bên ngoài; các vấn đề an ninh phi truyền thống, dịch bệnh, thiên tai, biến đổi khí hậu tiếp tục ảnh hưởng nặng nề…

Thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô

Chính phủ yêu cầu các cấp, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn; phát huy sức mạnh đoàn kết, không ngừng đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, tự tin, tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt theo chủ đề "Kỷ cương trách nhiệm; chủ động hiệu quả; đổi mới sáng tạo; tăng tốc đột phá; tăng trưởng bền vững" với 05 quan điểm, trọng tâm chỉ đạo điều hành, gồm:

1. Quán triệt và thực hiện nghiêm các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, nhất là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, với tinh thần "Đảng đã chỉ đạo, Chính phủ đã thống nhất, Quốc hội đồng tình, Nhân dân ủng hộ, Tổ quốc mong đợi, bạn bè giúp đỡ thì chỉ bàn làm, không bàn lùi".

2. Giữ đà, giữ nhịp và tăng tốc, bứt phá; bám sát thực tiễn, nhận diện và phát huy hiệu quả mọi cơ hội, thuận lợi; kịp thời ứng phó với những vấn đề phát sinh.

3. Đổi mới căn bản tư duy phát triển, phương thức quản trị và phân bổ nguồn lực; giải quyết hiệu quả các vấn đề trước mắt để tạo đà tăng trưởng, thực hiện các cải cách chiến lược, dài hạn để chuyển đổi mô hình phát triển, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính. Phát triển các thành phần kinh tế, kết hợp hiệu quả các nguồn lực cho phát triển.

4. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương; tiếp tục đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển đất nước gắn với phân cấp, phân quyền; tăng cường giám sát, kiểm tra, đôn đốc, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

5. Phát triển kinh tế, xã hội, môi trường là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại là trọng yếu, thường xuyên.

Tăng cường phân cấp, phân quyền, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng, chống tham nhũng

Để thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, Chính phủ đưa ra 12 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

1. Tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

2. Tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn, nợ công, bội chi ngân sách nhà nước trong giới hạn quy định; ứng phó kịp thời, hiệu quả với các biến động kinh tế, thương mại thế giới; thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới.

3. Tiếp tục hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy hành chính; tăng cường phân cấp, phân quyền, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi của bộ máy trong điều kiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ.

Tạo đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

4. Chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo; đặt nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vào trung tâm của chiến lược phát triển; cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh, số, tuần hoàn, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tính tự chủ, sức chống chịu của nền kinh tế.

5. Tập trung đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng chiến lược hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia, nhất là các công trình giao thông trọng điểm, hệ thống giao thông trục quốc gia, đường sắt, sân bay quốc tế, cảng biển, năng lượng; thúc đẩy các dự án có tính liên vùng, hạ tầng đô thị lớn, hạ tầng chuyển đổi số; điều chỉnh quy hoạch phù hợp với bối cảnh mới.

6. Tạo đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong lĩnh vực chíp, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo; nâng mặt bằng kỹ năng của toàn xã hội.

Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội

7. Chú trọng phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm an sinh xã hội.

8. Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.

9. Tăng cường liên kết vùng, thực hiện hiệu quả quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh; nâng cao chất lượng đô thị hoá và kinh tế đô thị.

10. Củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; tiếp tục xây dựng và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội.

11. Triển khai đồng bộ, hiệu quả, toàn diện công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi, thu hút các nguồn lực phục vụ phát triển, củng cố và nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam.

12. Chủ động hơn nữa công tác thông tin tuyên truyền, tạo động lực, truyền cảm hứng, khuyến khích đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả công tác dân vận.

Chính phủ giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ được giao, thực hiện quyết liệt, kịp thời, hiệu quả Kết luận số 199-KL/TW ngày 10/10/2025 của Trung ương; Nghị quyết số 244/2025/QH15 ngày 13/11/2025 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, Nghị quyết số 245/2025/QH15 ngày 13/11/2025 về dự toán ngân sách nhà nước năm 2026, các Nghị quyết khác của Đảng, Quốc hội và Nghị quyết này; kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh; chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện.

Trước ngày 20/01/2026, ban hành Chương trình, Kế hoạch hành động, các văn bản của bộ, ngành, địa phương để thực hiện Nghị quyết này; xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, tiến độ, phân công đơn vị chủ trì, gửi Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 01/2026.

Xây dựng kịch bản tăng trưởng của ngành, lĩnh vực hằng quý, cả năm 2026; các địa phương rà soát, xây dựng kịch bản tăng trưởng GRDP năm 2026 theo 03 khu vực kinh tế, 21 ngành cấp 01 và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm theo từng quý, gửi Bộ Tài chính trong tháng 02/2026 để tổng hợp, theo dõi.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo nghiên cứu, rà soát các nguồn lực, động lực, năng lực mới cho tăng trưởng, giải pháp thực hiện, báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp trong tháng 02/2026 để điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng GRDP của địa phương trong trường hợp Hội đồng nhân dân đã quyết nghị mục tiêu tăng trưởng thấp hơn mục tiêu tại Nghị quyết này.

Nghị định quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất 

Chính phủ ban hành Nghị định số 28/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026 quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/1/2026 (2)- Ảnh 2.

Chính phủ ban hành 4 danh mục chất ma túy và tiền chất.

Ban hành kèm theo Nghị định số 28/2026/NĐ-CP là 4 danh mục chất ma túy và tiền chất, cụ thể:

Danh mục I: Các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong nghiên cứu, kiểm nghiệm, giám định, vì mục đích quốc phòng, an ninh theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền gồm 58 chất ma túy, chia thành 2 danh mục IA, IB.

Danh mục II: Các chất ma túy được sử dụng hạn chế trong nghiên cứu, kiểm nghiệm, giám định, vì mục đích quốc phòng, an ninh hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền gồm 476 chất ma túy, chia thành 2 danh mục IIA, IIB.

Danh mục III: Các chất ma túy được sử dụng trong nghiên cứu, kiểm nghiệm, giám định, vì mục đích quốc phòng, an ninh hoặc trong lĩnh vực y tế, thú y theo quy định của cơ quan có thẩm quyền gồm 81 chất ma túy.

Danh mục IV: Các tiền chất gồm 79 tiền chất, chia thành 3 danh mục:

IVA: Các tiền chất thiết yếu, tham gia vào cấu trúc chất ma túy, không có ứng dụng hợp pháp trong y học và đời sống xã hội, được sử dụng hạn chế trong nghiên cứu, kiểm nghiệm, giám định, vì mục đích quốc phòng, an ninh theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền gồm 31 tiền chất.

IVB: Các tiền chất thiết yếu, tham gia vào cấu trúc chất ma túy, có ứng dụng hợp pháp trong y học và đời sống xã hội gồm 30 tiền chất.

IVC: Các tiền chất là hóa chất, dung môi, chất xúc tác dùng trong quá trình sản xuất chất ma túy gồm 18 tiền chất.

Trách nhiệm quản lý các chất ma túy, tiền chất

Nghị định quy định rõ trách nhiệm quản lý của một số bộ, ngành về các chất ma túy, tiền chất cụ thể như sau:

Bộ Công an có trách nhiệm quản lý nhà nước các chất ma túy, tiền chất phục vụ nghiên cứu, kiểm nghiệm, giám định (trừ các chất ma túy, tiền chất được sử dụng trong lĩnh vực y tế, nông nghiệp và môi trường thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; các tiền chất được sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp, quốc phòng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, Bộ Quốc phòng) và vì mục đích quốc phòng, an ninh.

Bộ Công Thương có trách nhiệm quản lý nhà nước về các tiền chất sử dụng trong lĩnh vực công nghiệp.

Bộ Y tế có trách nhiệm ban hành danh mục và quản lý nhà nước về các chất ma túy, tiền chất được sử dụng trong lĩnh vực y tế.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm ban hành danh mục và quản lý nhà nước các chất ma túy, tiền chất được sử dụng trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.

Bộ Quốc phòng có trách nhiệm quản lý nhà nước về các tiền chất được sử dụng trong lĩnh vực quốc phòng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 19/01/2026; bãi bỏ Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Nghị định số 90/2024/NĐ-CP ngày 17/7/2024 sửa đổi, bổ sung danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP.

Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hợp pháp Carisoprodol, Etomidate thực hiện các quy định về quản lý chất ma túy theo Nghị định này và các văn bản có liên quan kể từ ngày 01/6/2026.

Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hợp pháp 1,4-Butanediol thực hiện các quy định về quản lý tiền chất theo Nghị định này và các văn bản có liên quan trước ngày 31/12/2026.

Khi phát hiện chất mới chưa có trong các danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định này liên quan đến mục đích bất hợp pháp hoặc theo quy định tại Ba Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống ma túy thì Bộ Công an có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Quốc phòng và các cơ quan có liên quan xem xét, trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung và công bố các danh mục đó.

Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Dân số

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long vừa ký Quyết định số 153/QĐ-TTg ngày 20/01/2026 ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Dân số số 113/2025/QH15 (Kế hoạch).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/1/2026 (2)- Ảnh 3.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Dân số.

Mục tiêu của Kế hoạch nhằm triển khai thi hành Luật Dân số kịp thời, đồng bộ, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước.

Xác định cụ thể nội dung công việc, tiến độ, thời hạn hoàn thành, phân công và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức thi hành Luật Dân số bảo đảm kịp thời, toàn diện, thống nhất, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả.

Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc thực hiện các hoạt động triển khai thi hành Luật Dân số trên phạm vi cả nước.

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và Nhân dân trong việc triển khai, thi hành Luật Dân số và các văn bản quy định chi tiết một số điều của Luật.

Tuyên truyền, phổ biến nội dung Luật Dân số bằng nhiều hình thức đa dạng

Kế hoạch đưa ra 05 nội dung nhiệm vụ cụ thể để Bộ Y tế và các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức có liên quan triển khai thực hiện như sau:

1. Bộ Y tế, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình khác tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung của Luật Dân số bằng các hình thức đa dạng, phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế, tổ chức thực hiện các chuyên mục, chương trình, tin, bài phổ biến Luật Dân số, các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Luật này trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo đảm phù hợp với pháp luật về công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng và quản lý nội dung số.

2. Bộ Y tế và các bộ, ngành, địa phương có liên quan xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thực hiện theo quy định của Luật Dân số và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hành các luật, nghị quyết được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10.

Bộ Tư pháp, các bộ, ngành có liên quan chịu trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế trong việc soạn thảo các văn bản do Bộ Y tế chủ trì soạn thảo, bảo đảm chất lượng, tiến độ theo Kế hoạch.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm xây dựng và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết các nội dung được giao trong Luật Dân số.

3. Bộ Y tế tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước; bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật thuộc phạm vi, lĩnh vực, địa bàn quản lý nhà nước được phân công. Thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm phù hợp với quy định của Luật và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành có liên quan.

Các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi kết quả rà soát, tình hình xử lý văn bản thuộc thẩm quyền và đề xuất, kiến nghị (nếu có) về Bộ Y tế trước ngày 01/02/2026 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật liên quan đến Luật Dân số trước ngày 01/4/2026

4. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ thực hiện pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Dân số thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công trước ngày 01/4/2026.

5. Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Y tế, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các cơ quan, tổ chức liên quan tổ chức kiểm tra việc thi hành Luật Dân số và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Kinh phí thực hiện Kế hoạch này được bố trí từ ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.

Các cơ quan được phân công chủ trì thực hiện các nhiệm vụ theo Kế hoạch này có trách nhiệm lập dự toán, quyết toán, quản lý sử dụng và báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan.

Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện và báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc thực hiện Kế hoạch này theo quy định.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm thực hiện Kế hoạch này. Căn cứ nội dung Kế hoạch này và tình hình thực tiễn, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng kế hoạch triển khai thi hành Luật trong phạm vi quản lý; hằng năm hoặc đột xuất báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Y tế để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Phê duyệt Đề án Thông tin, tuyên truyền về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn đến năm 2035 

Phó Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 119/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Thông tin, tuyên truyền về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử phục vụ phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn đến năm 2035 (Đề án).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/1/2026 (2)- Ảnh 4.

Đề án phấn đấu đến năm 2035 có ít nhất 30% cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức các bộ, ngành liên quan được tiếp cận thông tin về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân.

Mục tiêu của Đề án là đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết về lợi ích, hiệu quả, đóng góp của năng lượng nguyên tử, đặc biệt là điện hạt nhân phục vụ hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội. Qua đó, góp phần nâng cao sự ủng hộ, đồng thuận của các cấp, các ngành, nhân dân; thúc đẩy văn hóa an toàn, văn hóa an ninh và thực hiện thành công các chương trình, dự án phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân trong kỷ nguyên mới của đất nước.

Vận hành kho dữ liệu nguồn phục vụ thông tin, tuyên truyền về năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân

Đề án phấn đấu đến năm 2035 có ít nhất 80% cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị có liên quan của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương và ít nhất 30% cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức các bộ, ngành liên quan được tiếp cận thông tin về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân.

Ít nhất 70% người dân tại các xã nơi có dự án điện hạt nhân, lò phản ứng nghiên cứu có hiểu biết cơ bản về vai trò, lợi ích của năng lượng nguyên tử, điện hạt nhân, an toàn, an ninh và ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân.

90% học sinh trung học, sinh viên tại tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Đồng Nai được phổ biến kiến thức ngoại khóa về năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân. Các tỉnh, thành phố còn lại tăng cường phổ biến kiến thức ngoại khóa về năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân tùy theo điều kiện, tình hình.

Vận hành phần mềm kho dữ liệu nguồn phục vụ thông tin, tuyên truyền về năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân với 100 - 150 tệp dữ liệu số được cập nhật thường xuyên mỗi năm...

Nội dung, đối tượng và phương thức thông tin, tuyên truyền

Nội dung thông tin, tuyên truyền gồm: Thông tin, tuyên truyền về chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách; thông tin, tuyên truyền về phát triển điện hạt nhân và lò phản ứng nghiên cứu; thông tin, tuyên truyền về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ; thông tin, tuyên truyền về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân, ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân; thông tin, tuyên truyền về hợp tác quốc tế.

Đối tượng thông tin, tuyên truyền: 1- Các cấp quản lý, cán bộ, công chức, viên chức; 2- Các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng năng lượng nguyên tử, các doanh nghiệp có nhu cầu ứng dụng năng lượng nguyên tử phục vụ sản xuất, kinh doanh; 3- Nhân dân, đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt tại địa phương có dự án nhà máy điện hạt nhân và lò phản ứng nghiên cứu; 4- Các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, tôn giáo; tầng lớp trí thức, nhà khoa học, nhà chuyên môn; 5- Giới trẻ, học sinh, sinh viên; 6- Các tổ chức quốc tế và các nước có liên quan; 7- Các đơn vị, tổ chức khác có liên quan.

Về phương thức thông tin, tuyên truyền, Quyết định nêu rõ phương thức thông tin, tuyên truyền được triển khai linh hoạt, đa dạng ngôn ngữ và cách thể hiện, phù hợp với từng nhóm đối tượng và mục tiêu cụ thể. Phương thức thực hiện bao gồm:

- Tuyên truyền trực tiếp thông qua hội nghị, hội thảo, tọa đàm, triển lãm, đối thoại chuyên đề...

- Tuyên truyền gián tiếp thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các chương trình, chuyên mục trên báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản phẩm in và điện tử... đồng thời ứng dụng nền tảng số, mạng xã hội, Trang (Cổng) thông tin điện tử, công cụ hỏi - đáp trực tuyến, các phương tiện truyền thông số hiện đại.

- Các phương thức thông tin, tuyên truyền khác nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động thông tin, tuyên truyền, mở rộng khả năng tiếp cận, tương tác với người dân và các bên liên quan.

Ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phòng, chống ma tuý năm 2025 

Phó Thủ tướng Lê Thành Long ký Quyết định số 152/QĐ-TTg ngày 20/1/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phòng, chống ma tuý năm 2025 (Kế hoạch).

Luật Phòng, chống ma tuý số 120/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10 tháng 12 năm 2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 (Luật). Để bảo đảm triển khai thi hành Luật, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phòng, chống ma tuý năm 2025.

Mục tiêu của Kế hoạch là xác định cụ thể nội dung công việc, thời hạn, tiến độ hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan nhằm bảo đảm triển khai thi hành Luật đồng bộ, thống nhất, hiệu lực, hiệu quả; xác định rõ trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương trong việc tiến hành các hoạt động triển khai thi hành Luật trên phạm vi toàn quốc; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và người dân trong việc triển khai thi hành Luật.

Nội dung của Kế hoạch

Kế hoạch đưa ra 3 nội dung chính thực hiện:

Rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống ma tuý: Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tổ chức rà soát văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến Luật Phòng, chống ma tuý năm 2021 thuộc thẩm quyền quản lý Nhà nước được phân công; thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới, bảo đảm sự thống nhất, phù hợp với quy định của Luật Phòng, chống ma tuý năm 2025...

Xây dựng văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống ma tuý năm 2025: Các bộ, ngành liên quan xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống ma tuý; tuyên truyền, phổ biến Luật Phòng, chống ma tuý năm 2025 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật...

Tuyên truyền, phổ biến Luật Phòng, chống ma tuý năm 2025 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật: Các bộ, ngành liên quan tổ chức tập huấn Luật Phòng, chống ma tuý năm 2025 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật nhằm nâng cao trách nhiệm, thống nhất nhận thức cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý, cán bộ trực tiếp làm công tác phòng, chống ma tuý; tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về phòng, chống ma tuý bằng các hình thức cụ thể, phong phú, đa dạng; tích cực ứng dụng chuyển đổi số trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống ma tuý; phối hợp với các cơ quan báo chí tổ chức thực hiện các chuyên mục, chương trình, tin, bài phổ biến và các hình thức khác theo quy định của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với từng đối tượng cụ thể...

Phê duyệt Đề án "Tăng cường năng lực hệ thống giám định pháp y, pháp y tâm thần và bắt buộc chữa bệnh tâm thần giai đoạn 2026-2030" 

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long ký Quyết định số 118/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Tăng cường năng lực hệ thống giám định pháp y, pháp y tâm thần và bắt buộc chữa bệnh tâm thần giai đoạn 2026-2030" (Đề án).

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/1/2026 (2)- Ảnh 5.

Nâng cao năng lực, hiệu quả hệ thống giám định pháp y và chữa bệnh tâm thần.

Mục tiêu chung của Đề án nhằm tăng cường năng lực, hiệu quả hệ thống giám định pháp y, pháp y tâm thần và bắt buộc chữa bệnh tâm thần để đáp ứng nhu cầu giám định trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần và nhu cầu quản lý, điều trị người chấp hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh tâm thần, bảo đảm công bằng, khách quan, khoa học, góp phần đảm bảo an ninh, an toàn xã hội, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội.

Mục tiêu đến năm 2030, 100% cơ sở khám, chữa bệnh triển khai thực hiện điều trị tư pháp bắt buộc chữa bệnh tâm thần

Đề án đặt mục tiêu từ nay đến năm 2030, hoàn thiện mô hình tổ chức hệ thống pháp y, pháp y tâm thần, bắt buộc chữa bệnh tâm thần theo hướng tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với hệ thống tổ chức cơ quan nhà nước hiện nay và đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ. Đồng thời, bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, bắt buộc chữa bệnh tâm thần cụ thể như sau:

100% các tổ chức pháp y, pháp y tâm thần có trụ sở làm việc độc lập, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ được giao;

90% tổ chức pháp y, pháp y tâm thần, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có triển khai thực hiện điều trị tư pháp bắt buộc chữa bệnh tâm thần được đầu tư đủ thiết bị, phương tiện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; tổ chức pháp y, pháp y tâm thần, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có triển khai thực hiện điều trị tư pháp bắt buộc chữa bệnh tâm thần được cơ quan công an hỗ trợ bảo đảm an ninh, an toàn khi thực hiện nhiệm vụ trong trường hợp cần thiết;

85% tổ chức pháp y có ít nhất 07 giám định viên trở lên; đến năm 2030, toàn quốc có ít nhất 100 giám định viên pháp y tâm thần;

100% cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có triển khai thực hiện điều trị tư pháp bắt buộc chữa bệnh tâm thần bố trí bộ phận, nhân lực riêng cho việc tiếp nhận, quản lý và điều trị bắt buộc chữa bệnh tâm thần.

Xây dựng cơ sở dữ liệu về công tác pháp y, pháp y tâm thần và bắt buộc chữa bệnh tâm thần; đồng bộ với cơ sở dữ liệu dân cư

Ngoài ra, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, bắt buộc chữa bệnh tâm thần, trong đó:

100% tổ chức pháp y, pháp y tâm thần, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có triển khai thực hiện điều trị tư pháp bắt buộc chữa bệnh tâm thần ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong công tác pháp y, pháp y tâm thần và bắt buộc chữa bệnh tâm thần.

Xây dựng cơ sở dữ liệu về công tác pháp y, pháp y tâm thần và bắt buộc chữa bệnh tâm thần; kết nối giữa các cơ quan, đơn vị và đồng bộ với cơ sở dữ liệu dân cư và các cơ sở dữ liệu khác theo yêu cầu, bảo đảm thống nhất, khai thác, sử dụng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, Đề án đưa ra 6 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau: Hoàn thiện thể chế, quy định pháp luật, mô hình tổ chức pháp y, pháp y tâm thần, bắt buộc chữa bệnh tâm thần theo hướng tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với hệ thống tổ chức cơ quan nhà nước; bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực cho công tác pháp y, pháp y tâm thần, bắt buộc chữa bệnh tâm thần; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, đẩy mạnh chuyển đổi số; đẩy mạnh công tác truyền thông; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm; thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, bắt buộc chữa bệnh tâm thần.

Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch triển khai Đề án theo tinh thần 06 rõ

Trên cơ sở Đề án được phê duyệt, các bộ, cơ quan liên quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch triển khai Đề án theo tinh thần 06 rõ: "rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả".

Các bộ, cơ quan: Y tế, Quốc phòng, Công an và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tập trung triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao trong Đề án, bảo đảm chất lượng, thời hạn theo quy định; căn cứ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền chủ động cân đối, bố trí kinh phí, nguồn lực và tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao theo thẩm quyền; báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền; tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức triển khai thực hiện Đề án, định kỳ hằng năm báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Y tế trước ngày 01/12 để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và các bộ, cơ quan liên quan tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao trong Đề án, bảo đảm chất lượng, thời hạn theo quy định.

Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện Đề án, kịp thời báo cáo và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ các biện pháp cần thiết để bảo đảm thực hiện đồng bộ, hiệu quả Đề án trên cơ sở bám sát các chủ trương, chính sách và tinh thần chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Định kỳ hằng năm, tổng hợp kết quả triển khai thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Hội nghị tổng kết "Chiến dịch Quang Trung" thần tốc xây dựng lại, sửa chữa nhà ở cho các gia đình có nhà bị thiệt hại do thiên tai, bão lũ vừa qua tại miền Trung

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 36/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Hội nghị tổng kết "Chiến dịch Quang Trung" thần tốc xây dựng lại, sửa chữa nhà ở cho các gia đình có nhà bị thiệt hại do thiên tai, bão lũ vừa qua tại miền Trung.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/1/2026 (2)- Ảnh 6.

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị tổng kết "Chiến dịch Quang Trung" ngày 16/1/2026.

Năm 2025, nước ta liên tiếp bị thiên tai, bão lũ, sạt lở gây thiệt hại hết sức nặng nề về người và tài sản. Trong đó, miền Trung là nơi chịu thiệt hại nặng nhất, "bão chồng bão, lũ chồng lũ" liên tiếp trong tháng 10 và 11; chỉ tính riêng bão số 13 và đợt mưa lũ kéo dài đã làm 220 người chết và mất tích, 338 người bị thương, nhiều nhà cửa bị sập đổ, hư hỏng, sản xuất, kinh doanh bị đình trệ, tê liệt, đời sống Nhân dân bị đảo lộn, thiệt hại về kinh tế ước tính gần 40 nghìn tỷ đồng.

Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị vào cuộc triển khai "Chiến dịch Quang Trung"

Ngày 29/11/2025, ngay tại "rốn lũ" xã Hòa Thịnh, tỉnh Đắk Lắk, Thủ tướng Chính phủ đã phát động "Chiến dịch Quang Trung" với "mệnh lệnh từ trái tim" và mục tiêu hoàn thành việc sửa chữa 34.759 nhà bị hư hỏng trước ngày 31/12/2025; xây dựng lại 1.597 nhà dân bị sập, cuốn trôi trước ngày 31/01/2026, để "mọi người đều có nhà, mọi gia đình đều có Tết", "không để ai bị bỏ lại phía sau"; "Chiến dịch Quang Trung" được triển khai với "quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt"; huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, cùng với sự chung tay, giúp sức của Nhân dân, doanh nghiệp, sự hỗ trợ từ mọi lực lượng, nhất là quân đội, công an, thanh niên, phụ nữ, cụ thể:

Thủ tướng Chính phủ đã thường xuyên báo cáo đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, đã ban hành theo thẩm quyền 08 công điện và văn bản chỉ đạo, chủ trì 05 cuộc họp vào 07 giờ sáng thứ Tư hằng tuần với các địa phương kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và yêu cầu các địa phương phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện trước 15 giờ ngày Chủ Nhật hằng tuần; phân công các Phó Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc; huy động hàng nghìn tỷ đồng, 26 nghìn tấn gạo hỗ trợ các địa phương khắc phục thiên tai, bão lũ.

Bộ Quốc phòng đã điều động hơn 300 nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ, hơn 10.500 lượt phương tiện, hỗ trợ xây dựng mới 619 căn nhà, sửa chữa nhiều nhà bị hư hỏng, trao tặng nhiều vật dụng sinh hoạt thiết yếu cho người dân.

Bộ Công an huy động hơn 126 nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ hỗ trợ Nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai; chủ trì xây dựng mới 419 căn nhà bị sập, đổ và sửa chữa nhiều nhà bị hư hỏng.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã hướng dẫn địa phương xử lý thủ tục đất đai tái định cư; vận động tổ chức quốc tế viện trợ trị giá gần 11,5 triệu USD.

Theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư và Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội đã phát huy tốt vai trò kết nối cộng đồng, vận động ủng hộ, phân bổ hơn 450 tỷ đồng để các địa phương thực hiện Chiến dịch và 512 tỷ đồng để hỗ trợ Nhân dân khôi phục sản xuất và trang bị đồ dùng thiết yếu.

Cấp ủy đảng, chính quyền các địa phương đã trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, huy động tối đa nguồn lực, cùng các lực lượng xây dựng lại nhà bị sập, đổ, sửa chữa nhà bị hư hỏng với tinh thẩn khẩn trương, "3 ca, 4 kíp", "vượt nắng, thắng mưa, không thua bão gió", "làm ngày, làm đêm, làm thêm ngày nghỉ", "làm xuyên lễ tết", "ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương", "chỉ bàn làm, không bàn lùi" nỗ lực hoàn thành mục tiêu của "Chiến dịch Quang Trung".

Các cơ quan truyền thông, báo chí đã tích cực vào cuộc, kịp thời cập nhật, đưa tin về Chiến dịch, tạo động lực, truyền cảm hứng, khích lệ, động viên các địa phương hăng hái thi đua hoàn thành Chiến dịch.

1.597 nhà bị sập, đổ, lũ cuốn trôi đã được xây dựng lại và hoàn thành trước ngày 15/01/2026

Sau 1,5 tháng triển khai, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức (thiếu nguyên vật liệu, thiếu nhân công, quỹ đất, thời tiết không thuận lợi), "Chiến dịch Quang Trung" tuy không có tiếng súng nhưng đã "tốc chiến, tốc thắng", "chiến thắng rất giòn giã", vượt tiến độ 2 tuần, 34.759 nhà bị hư hỏng đã hoàn thành sửa chữa để người dân trở về ở trước ngày 31/12/2025, toàn bộ 1.597 nhà bị sập, đổ, lũ cuốn trôi đã được xây dựng lại và hoàn thành trước ngày 15/01/2026 để người dân có mái nhà kiên cố, đón chào Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và chuẩn bị đón xuân mới.

"Chiến dịch Quang Trung" thể hiện rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất, quyết liệt của Đảng, Nhà nước mà trực tiếp là Thủ tướng Chính phủ trong ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai. Chiến dịch trở thành biểu tượng sinh động của tinh thần "lấy dân làm gốc", đặt đời sống, chỗ ở và hạnh phúc của Nhân dân lên trên hết, trước hết; mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Đây không chỉ là nhiệm vụ chính trị đơn thuần mà là nghĩa vụ, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành với Nhân dân vùng thiên tai, bão lũ; là "mệnh lệnh hành chính" cũng là "mệnh lệnh từ trái tim", lương tri, trách nhiệm với cộng đồng.

"Chiến dịch Quang Trung" không chỉ xây dựng lại nhà ở mà còn mang ý nghĩa an sinh, ổn định tâm lý, giúp người dân sớm "an cư lạc nghiệp", có điều kiện đón Tết Nguyên đán ấm áp, phấn khởi, hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Mỗi căn nhà mới được xây dựng là một mái ấm tình thương, một dấu mốc của sự hồi sinh, không chỉ được xây bằng bê tông cốt thép, gạch, ngói, cát, sỏi… mà còn bằng tình thương yêu, đùm bọc và sẻ chia của toàn xã hội với những người dân gặp khó khăn. Đây là minh chứng sống động khẳng định bản chất tốt đẹp, ưu việt của chế độ ta, "tình dân tộc, nghĩa đồng bào", tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách, tình làng - nghĩa xóm, nghĩa tình quân - dân, không để ai bị bỏ lại phía sau...

Những bài học kinh nghiệm qua "Chiến dịch Quang Trung"

Những bài học kinh nghiệp được rút ra qua "Chiến dịch Quang Trung" gồm:

Các địa phương, bộ, ngành bám sát và thực hiện đúng chủ trương, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ; cụ thể hoá thành chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể, tập trung triển khai quyết liệt với tinh thần "thần tốc, táo bạo", "chỉ bàn làm, không bàn lùi", "quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt"; thi công "vượt nắng, thắng mưa, không thua bão gió", "3 ca, 4 kíp", "làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm", "làm ngày, làm đêm, làm thêm ngày nghỉ"…

Cần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; đa dạng hóa các nguồn lực thực hiện theo hướng toàn dân, toàn diện, rộng khắp, "ai có gì giúp nấy, ai có công giúp công, ai có của giúp của, ai có ít giúp ít, ai có nhiều giúp nhiều, ai ở đâu thì giúp ở đấy"; huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, hỗ trợ từ mọi lực lượng trong xã hội; khuyến khích sự tự lực, tự cường, vượt khó vươn lên của Nhân dân và các địa phương.

Quân đội, công an luôn là lực lượng nòng cốt, chủ lực trong phòng, chống, khắc phục thiên tai, bão lũ; cần phát huy tinh thần "Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu", là "đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất" và tinh thần "đâu cần, đâu khó có công an", "vì Nhân dân quên mình, vì Nhân dân hi sinh", "vì Nhân dân phục vụ".

Cấp ủy đảng, chính quyền cần lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời, sát tình hình, phân công theo tinh thần "6 rõ", thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện, chủ động tháo gỡ ngay các khó khăn, vướng mắc phát sinh theo thẩm quyền.

Chủ động làm tốt công tác truyền thông, vận động, tạo sự đồng thuận xã hội và huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, tạo động lực, truyền cảm hứng, tạo ra phong trào và nhân dân tham gia rộng rãi.

"Chiến dịch Quang Trung" là kinh nghiệm quý báu về chỉ đạo, điều hành, phối hợp liên ngành, huy động nguồn lực xã hội và tổ chức thực hiện, có thể tổng kết, vận dụng tạo tiền đề, mô hình mẫu cho công tác phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, nhất là trong các tình huống khẩn cấp.

Tiếp tục quan tâm xử lý vấn đề môi trường, khắc phục cơ sở hạ tầng thiết yếu

Về nhiệm vụ trong thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các địa phương tiếp tục quan tâm xử lý vấn đề môi trường, khắc phục cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhất là giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục. Hỗ trợ tạo việc làm, sinh kế, hỗ trợ Nhân dân khôi phục sản xuất kinh doanh, nhất là sản xuất nông nghiệp từ nhiều nguồn lực khác nhau theo đúng quy định. Triển khai nhanh nhất việc hỗ trợ các hộ dân có nhà bị hư hỏng, sập, đổ từ nguồn đóng góp tự nguyện được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phân bổ, bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng, công khai, minh bạch, không để xảy ra tham nhũng, tiêu cực. Tiếp tục rà soát, chăm lo đời sống cho người dân, nhất là những hộ nghèo, hộ khó khăn, gia đình chính sách bị ảnh hưởng, thiệt hại do thiên tai, bão lũ vừa qua; tuyệt đối không để người dân "thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu sự quan tâm", nhất là trong dịp Tết Nguyên đán.

Các bộ, ngành, địa phương từ những kinh nghiệm trong thực hiện Chiến dịch Quang Trung, cần làm tốt hơn nữa công tác thi đua, khen thưởng, tạo dựng nhiều phong trào thi đua huy động sự vào cuộc, chung tay của toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ tổng hợp các đề xuất, kiến nghị của các địa phương, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong tháng 01 năm 2026.

Ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TPHCM 

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính - Trưởng Ban Chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh vừa ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo này tại Quyết định số 03/QĐ-BCĐNQTPHCM ngày 19/1/2026.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 20/1/2026 (2)- Ảnh 7.

Thủ tướng ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TPHCM.

Quy chế này quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc và quan hệ phối hợp công tác của Ban Chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (Ban Chỉ đạo).

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

Ban Chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những công việc quan trọng, liên ngành trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hồ Chí Minh và Nghị quyết số 260/2025/QH15 ngày 11 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 98/2023/QH15.

Ban Chỉ đạo hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao trách nhiệm người đứng đầu và phát huy trí tuệ tập thể của các thành viên; bảo đảm yêu cầu phối hợp chặt chẽ, thống nhất trong chỉ đạo, điều hành và trao đổi thông tin giải quyết công việc theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thành viên được pháp luật quy định.

Các thành viên Ban Chỉ đạo đề cao trách nhiệm cá nhân, chủ động trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công; giải quyết công việc theo đúng thẩm quyền và trách nhiệm được giao, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và quy định của Quy chế này.

Các thành viên Ban Chỉ đạo có trách nhiệm tham gia đầy đủ các hoạt động của Ban Chỉ đạo; thực hiện và chịu trách nhiệm trước Trưởng Ban Chỉ đạo về những nhiệm vụ được phân công. Ý kiến tham gia của thành viên Ban Chỉ đạo là ý kiến chính thức của cơ quan, tổ chức nơi công tác.

Trách nhiệm, quyền hạn của các thành viên Ban Chỉ đạo

Trưởng Ban Chỉ đạo có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thống nhất, toàn diện các hoạt động của Ban Chỉ đạo; phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên Ban Chỉ đạo. Trong trường hợp cần thiết, Trưởng Ban Chỉ đạo có thể ủy quyền cho Phó Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì các cuộc họp để thảo luận, quyết định một số vấn đề cụ thể thuộc thẩm quyền của mình.

Triệu tập, chủ trì, kết luận các cuộc họp, làm việc định kỳ, đột xuất của Ban Chỉ đạo, quyết định những vấn đề thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo.

Đối với những vấn đề vượt thẩm quyền, Trưởng Ban Chỉ đạo chỉ đạo các bộ, cơ quan nghiên cứu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Phó Trưởng Ban thường trực Ban Chỉ đạo giúp Trưởng Ban Chỉ đạo điều phối các hoạt động của Ban Chỉ đạo; thay mặt Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì các cuộc họp của Ban Chỉ đạo và điều phối hoạt động chung của Ban Chỉ đạo khi được Trưởng Ban Chỉ đạo ủy quyền.

Chỉ đạo công tác xây dựng chương trình, kế hoạch công tác phối hợp giải quyết những công việc quan trọng, liên ngành; đề xuất Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì các cuộc họp đột xuất để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện.

Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả các nội dung, nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của Thành phố Hồ Chí Minh; đề xuất, kiến nghị giải pháp để thực hiện nhiệm vụ, xử lý các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 98, Nghị quyết số 260 và các chương trình, kế hoạch công tác, kết luận của Ban Chỉ đạo báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo, cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo để quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Thực hiện nhiệm vụ khác theo phân công của Trưởng Ban Chỉ đạo.

Phó Trưởng Ban Chỉ đạo giúp Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành, giải quyết một số nhiệm vụ cụ thể liên quan đến tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo theo phân công, ủy quyền của Trưởng Ban Chỉ đạo; chủ trì các cuộc họp của Ban Chỉ đạo theo ủy quyền của Trưởng Ban Chỉ đạo.

Kiểm tra, đánh giá, báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo về việc triển khai thực hiện những công việc quan trọng, liên ngành của Nghị quyết số 98, Nghị quyết số 260, Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công nhiệm vụ triển khai thực hiện Nghị quyết số 98, các quyết định khác của Ban Chỉ đạo và sự phối hợp giữa các Bộ, cơ quan và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao. Thực hiện nhiệm vụ khác theo phân công của Trưởng Ban Chỉ đạo.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, thành viên Ban Chỉ đạo đề xuất kế hoạch, chương trình công tác hằng năm, gửi cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo để tổng hợp, báo cáo. Chịu trách nhiệm tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 98, Nghị quyết số 260 và các chương trình, kế hoạch công tác, kết luận của Ban Chỉ đạo theo chức năng nhiệm vụ, lĩnh vực phụ trách, bảo đảm tiến độ và chất lượng.

Chuẩn bị nội dung, tài liệu báo cáo tổng hợp chung về tình hình thực hiện các cơ chế, chính sách, các nhiệm vụ quy định tại Nghị quyết số 98 và Nghị quyết số 260 phục vụ các cuộc họp của Ban Chỉ đạo; nắm bắt những khó khăn, vướng mắc trong quá trình phối hợp triển khai thực hiện, báo cáo Trưởng Ban Chỉ đạo xem xét, chỉ đạo xử lý. Thực hiện nhiệm vụ khác theo phân công của Trưởng Ban Chỉ đạo và Phó trưởng Ban Chỉ đạo.

Các thành viên Ban Chỉ đạo là đại diện các bộ, cơ quan trung ương chịu trách nhiệm tham mưu, chủ động trong tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức nơi công tác và các chương trình, kế hoạch công tác, kết luận của Ban Chỉ đạo theo chức năng nhiệm vụ, lĩnh vực phụ trách, bảo đảm tiến độ và chất lượng.

Đề xuất, kiến nghị với Ban Chỉ đạo các chủ trương, giải pháp, cơ chế, chính sách để triển khai thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo đối với các lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của bộ, cơ quan.

Báo cáo tiến độ, kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao, các khó khăn, vướng mắc (nếu có) và đề xuất các giải pháp, kiến nghị gửi Trưởng Ban Chỉ đạo, cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo theo quy định; chuẩn bị báo cáo phục vụ các cuộc họp định kỳ, đột xuất của Ban chỉ đạo theo phân công của Trưởng Ban Chỉ đạo và Phó trưởng Ban Chỉ đạo. Thực hiện nhiệm vụ khác theo phân công của Trưởng Ban Chỉ đạo và Phó trưởng Ban Chỉ đạo./.