• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/1/2026 (2)

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/1/2026 (2).

26/01/2026 19:26

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản

Chính phủ ban hành Nghị định số 41/2026/NĐ-CP ngày 25/01/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/1/2026 (2)- Ảnh 1.

Điều kiện, trình tự thủ tục cấp phép nuôi trồng thủy sản.

Nghị định gồm 9 chương, 57 điều quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản số 18/2017/QH14 ngày 21/11/2017 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 31/2024/QH15, Luật số 43/2024/QH15, Luật số 146/2025/QH15 về: quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; nuôi trồng thủy sản; khai thác thủy sản; quản lý tàu cá, tàu công vụ; kiểm ngư; mua, bán, sơ chế, chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản, sản phẩm thủy sản; quản lý nhà nước về thủy sản...

Điều kiện cơ sở nuôi trồng thủy sản

Nghị định quy định cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 Luật Thủy sản như sau:

Nơi chứa chất thải phải riêng biệt với nơi chứa, nơi xử lý thủy sản chết và tách biệt với khu vực nuôi, không làm ảnh hưởng đến môi trường.

Trường hợp cơ sở nuôi trồng thủy sản có khu chứa trang thiết bị, dụng cụ, nguyên vật liệu phải bảo đảm yêu cầu bảo quản của nhà sản xuất, nhà cung cấp; cơ sở nuôi trồng thủy sản có khu sinh hoạt, vệ sinh phải bảo đảm nước thải, chất thải sinh hoạt không làm ảnh hưởng đến khu vực nuôi.

Đối với nuôi trồng thủy sản trong ao (đầm/hầm), bể: Bờ ao (đầm/hầm), bể làm bằng vật liệu không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại cho thủy sản nuôi, không rò rỉ nước. Trường hợp cơ sở nuôi trồng thủy sản thâm canh, bán thâm canh phải có hệ thống xử lý nước cấp, nước thải riêng biệt; nơi chứa bùn thải phù hợp.

Đối với nuôi trồng thủy sản bằng lồng bè, đăng quầng (sau đây được gọi là nuôi lồng bè): Khung lồng, phao, lưới, đăng quầng, giá thể phải làm bằng vật liệu không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại cho thủy sản nuôi và không để thủy sản nuôi sổng thoát ra môi trường; có thiết bị cảnh báo cho hoạt động giao thông thủy.

Trang thiết bị sử dụng trong nuôi trồng thủy sản phải làm bằng vật liệu không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại đối với thủy sản nuôi.

Hồ sơ, trình tự cấp, thu hồi Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện nuôi trồng thủy sản theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân

Nghị định quy định cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện nuôi trồng thủy sản khi có yêu cầu của tổ chức, cá nhân.

Hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận bao gồm:

a) Đơn đề nghị theo Mẫu số 20.NT Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;

b) Bản thuyết minh cơ sở vật chất, kỹ thuật của cơ sở nuôi theo Mẫu số 21.NT Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;

c) Sơ đồ vị trí đặt lồng bè/Sơ đồ khu vực nuôi.

Trình tự cấp Giấy chứng nhận:

Cơ sở có nhu cầu cấp Giấy chứng nhận gửi hồ sơ đến cơ quan được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính.

Trong thời hạn 06 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra thực tế tại cơ sở theo Mẫu số 22.NT Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

Trường hợp kết quả kiểm tra đạt yêu cầu, trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo Mẫu số 23.NT Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.

Trường hợp kết quả kiểm tra không đạt yêu cầu, trong thời hạn tối đa 30 ngày cơ sở phải thực hiện khắc phục và gửi báo cáo kết quả khắc phục đến cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận. Nếu thấy cần thiết, cơ quan có thẩm quyền tổ chức kiểm tra nội dung đã khắc phục. Trường hợp cơ sở đáp ứng điều kiện, trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc kiểm tra, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận theo Mẫu số 23.NT Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do.

Giấy chứng nhận có thời hạn 24 tháng.

Phương án, dự án nuôi trồng thủy sản trên biển

Nghị định quy định tổ chức, cá nhân đề nghị giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản lập dự án nuôi trồng thủy sản trên biển, trừ trường hợp cá nhân thuộc đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật Thủy sản thì lập phương án nuôi trồng thủy sản trên biển.

Phương án hoặc dự án nuôi trồng thủy sản trên biển phải đáp ứng các tiêu chí sau:

a) Đáp ứng quy định về điều kiện theo quy định tại Điều 38 Luật Thủy sản và Điều 19 Nghị định này;

b) Sự phù hợp về quy mô sản xuất, loài thủy sản nuôi, trồng và công nghệ nuôi, trồng;

c) Có giải pháp phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường và dịch bệnh trong quá trình nuôi trồng thủy sản;

d) Tính khả thi về kinh tế, kỹ thuật, bảo đảm hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và phát triển bền vững.

Đối tượng được miễn tiền sử dụng khu vực biển để nuôi trồng thủy sản

Ngoài ra, Nghị định cũng quy định các trường hợp được miễn tiền sử dụng khu vực biển theo quy định tại Luật Thủy sản, cụ thể:

1. Trường hợp được miễn tiền sử dụng khu vực biển theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 44 Luật Thủy sản được xác định như sau:

a) Đối tượng là cá nhân Việt Nam thường trú trên địa bàn cấp xã đang hoạt động khai thác thủy sản sử dụng tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 12 mét chuyển đổi nghề sang nuôi trồng thủy sản;

b) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân Việt Nam thường trú căn cứ Giấy đăng ký tàu cá, Giấy phép khai thác thủy sản đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 06 mét đến dưới 12 mét; đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 06 mét, căn cứ tài liệu thống kê, theo dõi tàu cá do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý theo quy định của pháp luật về khai thác thủy sản để xem xét, quyết định.

2. Trường hợp được miễn tiền sử dụng khu vực biển theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 44 Luật Thủy sản được xác định như sau:

a) Đối tượng là cá nhân Việt Nam thường trú trên địa bàn cấp xã, trực tiếp tham gia vào hoạt động nuôi trồng thủy sản trong thời gian tối thiểu 24 tháng liên tục tính đến thời điểm đề nghị giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản và có thu nhập từ hoạt động nuôi trồng thủy sản chiếm trên 50% tổng thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân;

b) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân Việt Nam thường trú trên địa bàn tổ chức xác minh theo quy định của pháp luật để xem xét, quyết định.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký ban hành (25/01/2026). Riêng quy định tại điểm c khoản 4 Điều 26 Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố Sơ đồ nghề cá trên biển.

Quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Chính phủ ban hành Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là về ứng dụng công nghệ trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa. 

Ứng dụng nền tảng công nghệ trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/1/2026 (2)- Ảnh 2.

Khuyến khích tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa

Nghị định quy định cụ thể về xây dựng và ứng dụng nền tảng công nghệ trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Trong đó, về ứng dụng công nghệ số để thu thập, lưu trữ và chia sẻ, Nghị định nêu rõ khuyến khích tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sử dụng mã số, mã vạch bao gồm mã hóa một chiều, mã hóa hai chiều như mã QR, mã hai chiều dạng ma trận dữ liệu (Datamatrix), công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến (RFID), công nghệ giao tiếp trường gần (NFC) và các công nghệ phù hợp khác, ưu tiên kết hợp các công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT) để thu thập, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu về chất lượng sản phẩm, hàng hóa trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành hướng dẫn cung cấp thông tin về chất lượng sản phẩm, hàng hóa để thu thập, lưu trữ và chia sẻ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và hội nhập quốc tế.

Ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa

Bên cạnh đó, Nghị định quy định ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Theo đó, khuyến khích tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quyết định việc ứng dụng mã số, mã vạch trên nền tảng công nghệ như công nghệ chuỗi khối (Blockchain), Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) và các công nghệ mới khác phù hợp với nhu cầu.

Khi đã lựa chọn ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thực hiện theo quy định liên quan tại Nghị định này.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa

Hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa do tổ chức, cá nhân sử dụng phải bảo đảm đầy đủ quá trình truy xuất nguồn gốc theo các quy định trong tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài, tiêu chuẩn cơ sở đáp ứng quy định pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật; được công bố hợp chuẩn theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

Trường hợp có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, tổ chức, cá nhân phải thực hiện công bố hợp quy theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật.

Dữ liệu truy xuất nguồn gốc của sản phẩm, hàng hóa trong hệ thống truy xuất nguồn gốc bao gồm các thông tin như: Tên sản phẩm, hàng hóa; hình ảnh sản phẩm, hàng hóa; tên đơn vị sản xuất, kinh doanh; địa chỉ đơn vị sản xuất, kinh doanh; xuất xứ sản phẩm, hàng hóa; thương hiệu, nhãn hiệu, số lô/mẻ hoặc số sê-ri sản phẩm (nếu có); hạn sử dụng của sản phẩm, hàng hóa (nếu có).

Quản lý nhà nước về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa

Nghị định 37/2026/NĐ-CP cũng quy định về quản lý nhà nước về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Theo đó, Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý nhà nước về hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, cụ thể:

Quy định hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu, xây dựng và công bố tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mã số, mã vạch và truy xuất nguồn gốc.

Hướng dẫn nâng cao năng lực kỹ thuật cho hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa và hỗ trợ phát triển sản phẩm, hàng hóa chủ lực, phát triển kinh tế - xã hội của các bộ có chức năng quản lý ngành, lĩnh vực và địa phương.

Vận hành, duy trì, nâng cấp, quản trị Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia; khai thác nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa phục vụ quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa, cảnh báo rủi ro và hậu kiểm; quản lý sử dụng mã truy xuất nguồn gốc, các loại mã truy vết và vật mang dữ liệu.

Quản lý tổ chức triển khai, thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm, hàng hóa trong phạm vi, lĩnh vực được phân công quản lý; chủ trì, phối hợp với các bộ có chức năng quản lý ngành, lĩnh vực, địa phương thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết các khiếu nại, tố cáo về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trong phạm vi, lĩnh vực được phân công quản lý.

Các bộ quản lý ngành, lĩnh vực chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý tổ chức triển khai thực hiện truy xuất nguồn gốc đối với sản phẩm, hàng hóa trong phạm vi, lĩnh vực được phân công quản lý bảo đảm kết nối với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia, thực hiện quản lý hồ sơ số của sản phẩm trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình; thực hiện kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết các khiếu nại, tố cáo về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chủ trì, phối hợp với các bộ có chức năng quản lý ngành, lĩnh vực tổ chức kiểm tra truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa tại địa phương.

Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các bộ quản lý ngành, lĩnh vực trong việc xây dựng, vận hành, duy trì và nâng cấp nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa.

Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia và nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa được kết nối, chia sẻ dữ liệu, bảo đảm đúng mục đích, phạm vi, thẩm quyền quản lý nhà nước và bảo vệ dữ liệu.

Triển khai hộ chiếu số của sản phẩm

Nghị định cũng quy định cụ thể về ứng dụng công nghệ để triển khai hộ chiếu số của sản phẩm và nhãn điện tử hàng hóa.

1. Nội dung tối thiểu của hộ chiếu số của sản phẩm bao gồm:

a) Tên sản phẩm, mã số định danh sản phẩm toàn cầu (GTIN);

b) Tên, địa chỉ, mã số định danh của tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa;

c) Thông tin về xuất xứ của sản phẩm hoặc nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa;

d) Thông tin về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa;

đ) Các chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy, chứng nhận chất lượng (nếu có);

e) Ngày sản xuất, hạn sử dụng (nếu có);

g) Các cảnh báo an toàn (nếu có);

h) Các thông tin khác phục vụ quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước.

2. Yêu cầu đối với hộ chiếu số sản phẩm:

a) Được thiết lập dưới dạng dữ liệu điện tử, sản phẩm được gắn với mã định danh duy nhất;

b) Thông tin kê khai phải trung thực, đầy đủ, cập nhật kịp thời;

c) Bảo đảm khả năng truy cập và kết nối cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia.

Nghị định nêu rõ: Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có thể sử dụng hộ chiếu số của sản phẩm thay thế cho nhãn điện tử trong trường hợp hộ chiếu số của sản phẩm có đầy đủ các nội dung ghi nhãn bắt buộc trên nhãn điện tử theo quy định tại Nghị định này.

Căn cứ yêu cầu quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa và thông lệ quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ có chức năng quản lý ngành, lĩnh vực trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt lộ trình áp dụng hộ chiếu số của sản phẩm đối với các sản phẩm, hàng hóa cụ thể. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh được khuyến khích sử dụng hộ chiếu số của sản phẩm.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ 23/01/2026.

Sửa đổi một số quy định về hoạt động đo đạc và bản đồ 

Chính phủ ban hành Nghị định số 39/2026/NĐ-CP ngày 25/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 27/2019/NĐ-CP ngày 13/3/2019 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Đo đạc và bản đồ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 136/2021/NĐ-CP và Nghị định số 22/2023/NĐ-CP. 

Giảm thủ tục hành chính trong cấp phép hoạt động đo đạc và bản đồ

Nghị định số 39/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 32 Nghị định số 27/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 7 Điều 1 Nghị định số 136/2021/NĐ-CP) về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ đối với tổ chức trong nước và nước ngoài. Cụ thể như sau:

- Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 32 về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ đối với tổ chức trong nước theo hướng giảm thành phần hồ sơ, tăng cường chuyển đổi số trong thủ tục hành chính (sử dụng bản sao điện tử, hóa đơn điện tử). Ngoài ra, bổ sung thêm khoản e) quy định rõ trường hợp văn bằng, chứng chỉ đã được lưu trữ tại cơ sở dữ liệu về giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và được kết nối, chia sẻ thì tổ chức, cá nhân không phải nộp bản sao. Cụ thể:

Hồ sơ của tổ chức trong nước đề nghị cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ theo Mẫu số 04 Phụ lục IA ban hành kèm theo Nghị định này;

b) Bản sao hoặc tệp tin bản sao điện tử quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ đối với các tổ chức đề nghị cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ không có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp;

c) Bản sao hoặc tệp tin bản sao điện tử văn bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc chuyên ngành về đo đạc và bản đồ, bản khai quá trình công tác của người phụ trách kỹ thuật theo Mẫu số 05 Phụ lục IA ban hành kèm theo Nghị định này hoặc chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ hạng I; hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng; quyết định bổ nhiệm của người phụ trách kỹ thuật;

d) Bản sao hoặc tệp tin bản sao điện tử văn bằng, chứng chỉ chuyên môn về đo đạc và bản đồ kèm theo hợp đồng lao động hoặc quyết định tuyển dụng của các nhân viên kỹ thuật đo đạc và bản đồ; bản khai quá trình công tác của ít nhất 01 nhân viên kỹ thuật có thời gian hoạt động thực tế tối thiểu 05 năm phù hợp với nội dung đề nghị cấp phép theo Mẫu số 05 Phụ lục IA ban hành kèm theo Nghị định này;

đ) Bản sao hoặc tệp tin bản sao điện tử hóa đơn điện tử hoặc giấy tờ chứng minh sở hữu phương tiện đo, thiết bị, chứng minh sở hữu hoặc quyền sử dụng phần mềm, công nghệ đo đạc và bản đồ; giấy kiểm định, hiệu chuẩn phương tiện đo còn hiệu lực. Danh mục phương tiện đo, thiết bị, phần mềm phù hợp với nội dung hoạt động đo đạc và bản đồ của tổ chức đề nghị cấp giấy phép theo Phụ lục IC ban hành kèm theo Nghị định này;

e) Trường hợp văn bằng, chứng chỉ được lưu trữ tại cơ sở dữ liệu về giáo dục đại học, cơ sở dữ liệu về giáo dục nghề nghiệp được kết nối, chia sẻ thì không cần nộp các bản sao văn bằng, chứng chỉ quy định tại khoản này.

- Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 32 về hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ đối với nhà thầu nước ngoài theo hướng giảm yêu cầu nộp hồ sơ giấy thông qua việc khai thác cơ sở dữ liệu đã được kết nối chia sẻ nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát đầy đủ năng lực của nhà thầu. Cụ thể:

Hồ sơ của nhà thầu nước ngoài đề nghị cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ bao gồm:

a) Đơn đề nghị hoặc tệp tin chứa đơn đề nghị cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ theo Mẫu số 11 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này;

b) Bản sao hoặc tệp tin bản sao điện tử quyết định trúng thầu (hoặc quyết định được chọn thầu) của chủ đầu tư, trong đó có nội dung về đo đạc và bản đồ thuộc danh mục hoạt động đo đạc và bản đồ phải có giấy phép;

c) Bản sao hoặc tệp tin bản sao điện tử văn bằng, chứng chỉ chuyên môn về đo đạc và bản đồ, giấy phép lao động do cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam đối với nhân viên kỹ thuật là người nước ngoài; hoặc văn bằng, chứng chỉ chuyên môn về đo đạc và bản đồ, hợp đồng lao động của các nhân viên kỹ thuật đo đạc và bản đồ là người Việt Nam phù hợp với số lượng và trình độ chuyên môn trong hồ sơ dự thầu đã trúng thầu hoặc hồ sơ được chọn thầu. Trường hợp văn bằng, chứng chỉ do cơ sở giáo dục của Việt Nam cấp được lưu trữ tại cơ sở dữ liệu về giáo dục đại học, cơ sở dữ liệu về giáo dục nghề nghiệp được kết nối, chia sẻ thì không cần nộp các bản sao văn bằng, chứng chỉ quy định tại điểm này;

d) Bản sao hoặc tệp tin bản sao điện tử hóa đơn điện tử hoặc giấy tờ chứng minh sở hữu hoặc quyền sử dụng phương tiện đo, thiết bị, phần mềm, công nghệ đo đạc và bản đồ phù hợp với hồ sơ dự thầu đã trúng thầu hoặc hồ sơ được chọn thầu.

Giảm thủ tục hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ

Nghị định số 39/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 46 Nghị định số 27/2019/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi điểm a khoản 16 Điều 1 Nghị định số 136/2021/NĐ-CP) về hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ theo hướng cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số, giảm giấy tờ (không yêu cầu nộp thêm bản sao kết quả sát hạch); chấp nhận hồ sơ điện tử; đồng thời, không yêu cầu nộp lại bản sao văn bằng, chứng chỉ nếu những giấy tờ này đã được lưu trữ tại cơ sở dữ liệu. Cụ thể như sau:

Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ theo Mẫu số 12 Phụ lục IA ban hành kèm theo Nghị định này kèm theo 01 ảnh màu cỡ 4 x 6 cm có nền màu trắng;

b) Bản sao hoặc tệp tin bản sao điện tử văn bằng, chứng chỉ về chuyên môn do cơ sở đào tạo hợp pháp cấp; giấy chứng nhận đủ sức khỏe hành nghề do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định. Trường hợp văn bằng, chứng chỉ được lưu trữ tại cơ sở dữ liệu về giáo dục đại học, cơ sở dữ liệu về giáo dục nghề nghiệp được kết nối, chia sẻ thì không cần nộp các bản sao văn bằng, chứng chỉ quy định tại điểm này;

c) Bản khai kinh nghiệm nghề nghiệp theo Mẫu số 13 Phụ lục IA ban hành kèm theo Nghị định này;

d) Bản sao hoặc tệp tin bản sao điện tử giấy tờ chứng minh là người được miễn sát hạch kinh nghiệm nghề nghiệp, kiến thức pháp luật."

Trách nhiệm của các bộ liên quan trong việc xây dựng, quản lý dữ liệu bản đồ

Đồng thời, Nghị định số 39/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 4 Điều 27 Nghị định số 27/2019/NĐ-CP theo hướng phân định rõ trách nhiệm của các bộ liên quan trong việc xây dựng, quản lý dữ liệu bản đồ. Cụ thể như sau:

"2. Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nội dung sau:

a) Xây dựng dữ liệu khung quy định tại khoản 2 Điều 45 của Luật Đo đạc và bản đồ;

b) Xây dựng dữ liệu bản đồ chuyên ngành quy định tại điểm c, điểm d, điểm đ và điểm e khoản 3 Điều 45 của Luật Đo đạc và bản đồ; dữ liệu bản đồ chuyên ngành về phòng, chống thiên tai, khắc phục sự cố môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu quy định tại điểm k khoản 3 Điều 45 của Luật Đo đạc và bản đồ;

c) Xây dựng dữ liệu bản đồ quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch cấp vùng thuộc phạm vi quản lý;

d) Tích hợp dữ liệu không gian địa lý quốc gia.

4. Bộ Xây dựng có trách nhiệm tổ chức xây dựng:

a) Dữ liệu bản đồ chuyên ngành quy định tại điểm h và điểm 1 khoản 3 Điều 45 của Luật Đo đạc và bản đồ;

b) Dữ liệu hải đồ vùng nước cảng biển và luồng, tuyến hàng hải quy định tại điểm i khoản 3 Điều 45 của Luật Đo đạc và bản đồ;

c) Dữ liệu bản đồ quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn thuộc phạm vi quản lý quy định tại điểm m khoản 3 Điều 45 của Luật Đo đạc và bản đồ;

d) Dữ liệu bản đồ quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng thuộc phạm vi quản lý.".

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/01/2026.

Đối với hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ, chứng chỉ hành nghề đo đạc và bản đồ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận để giải quyết theo thủ tục hành chính về đo đạc và bản đồ trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì được giải quyết theo quy định cũ.

Trường hợp tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo hình thức hợp nhất, sáp nhập mà trong đó một hoặc nhiều đơn vị sự nghiệp công lập đã được cấp giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ thì tổ chức sau hợp nhất, sáp nhập được tiếp tục sử dụng giấy phép để thực hiện quyền và nghĩa vụ trong phạm vi giấy phép theo thời hạn của giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ đã cấp nhưng không quá 01 năm kể từ ngày tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập.

Kết luận của Thường trực Chính phủ về việc ban hành cơ chế tháo gỡ, xử lý vướng mắc đối với dự án BT chuyển tiếp

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 42/TB-VPCP ngày 25/1/2026 kết luận của Thường trực Chính phủ về việc ban hành cơ chế tháo gỡ, xử lý vướng mắc đối với dự án BT chuyển tiếp.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 26/1/2026 (2)- Ảnh 3.

Trước ngày 30/01/2026, trình Chính phủ Nghị quyết về cơ chế tháo gỡ, xử lý vướng mắc đối với dự án BT chuyển tiếp

Thông báo kết luận nêu rõ, Thường trực Chính phủ thống nhất chủ trương ban hành Nghị quyết của Chính phủ về cơ chế tháo gỡ, xử lý vướng mắc đối với dự án BT chuyển tiếp theo quy định của Nghị quyết số 206/2025/QH15 ngày 24/6/2025 của Quốc hội về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật. Nghị quyết có hiệu lực từ thời điểm ban hành đến hết ngày 28/02/2027. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp rà soát cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý để bảo đảm đủ căn cứ ban hành Nghị quyết của Chính phủ.

Về phạm vi, điều kiện áp dụng: Chỉ xem xét áp dụng Nghị quyết này đối với các dự án đã được các địa phương tổng hợp trên Hệ thống cơ sở dữ liệu của Ban Chỉ đạo về giải quyết các dự án tồn đọng (Hệ thống 751) và đã có kết luận thanh tra, kiểm tra hoặc đã có kết luận không phải thanh tra. Giao Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố xem xét, quyết định.

Thời điểm xác định giá đất để tính thu tiền sử dụng đất đối với quỹ đất thanh toán là thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất. Trường hợp Nhà nước chậm giao đất, cho thuê đất để thanh toán Hợp đồng BT, Nhà đầu tư được hỗ trợ lãi suất trả chậm từ thời điểm nghiệm thu hoàn thành công trình dự án BT theo quy định đến thời điểm có quyết định giao đất, cho thuê đất.

Bộ Tài chính tiếp thu kết luận của Thường trực Chính phủ và ý kiến các cơ quan liên quan, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, chống lợi dụng chính sách để trục lợi hoặc hợp thức hóa sai phạm; trình Chính phủ trước ngày 30/01/2026. Văn phòng Chính phủ xin ý kiến Thành viên Chính phủ, trình Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Hòa Bình ký ban hành Nghị quyết trước ngày 05/02/2026.

Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ bảy về rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 44/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Phiên họp lần thứ bảy về rà soát và tổ chức thực hiện việc xử lý vướng mắc trong hệ thống pháp luật (Ban Chỉ đạo). 

Nhiều kết quả nổi bật tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, "điểm nghẽn" do quy định pháp luật

Thông báo kết luận nêu rõ, trong nhiệm kỳ của Chính phủ từ năm 2020 đến năm 2025, đặc biệt là trong năm 2025, nhiệm vụ rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, "điểm nghẽn" về thể chế, pháp luật, cơ chế, chính sách đã đạt nhiều kết quả nổi bật với sự chỉ đạo sát sao, liên tục của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự vào cuộc, tham gia của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương.

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30 tháng 4 năm 2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới của Bộ Chính trị được ban hành đã đề ra các cơ chế, chính sách tạo đột phá cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, được thể chế hóa tại các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ.

Tính công khai, minh bạch trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ngày càng được nâng cao. Việc tham vấn chính sách, lấy ý kiến người dân, doanh nghiệp, các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý trong xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật luôn được chú trọng tăng cường thông qua nhiều phương thức khác nhau, trong đó Cổng Pháp luật quốc gia đóng vai trò là một kênh thông tin, cầu nối quan trọng để Nhân dân, các cơ quan, tổ chức kịp thời đóng góp, bảo đảm các quy định pháp luật bám sát thực tiễn. Các Bộ, cơ quan được giao chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có trách nhiệm tiếp thu, giải trình và công khai việc tiếp thu, giải trình tới các cá nhân, tổ chức liên quan.

Các chế độ, chính sách cho cán bộ, công chức tham gia công tác xây dựng pháp luật được quan tâm thỏa đáng, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện pháp luật, thể chế.

Sự phối hợp giữa Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan có liên quan trong xây dựng pháp luật ngày càng chặt chẽ, có hiệu quả hơn, trong đó Bộ, cơ quan được giao chủ trì soạn thảo dự án luật, nghị quyết có trách nhiệm tham vấn với các cơ quan của Quốc hội từ khâu xây dựng chính sách nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất giữa Chính phủ, Quốc hội ngay từ giai đoạn đầu của quy trình xây dựng, ban hành luật, nghị quyết.

Công tác rà soát, xử lý khó khăn, vướng mắc, "điểm nghẽn" do quy định pháp luật đạt kết quả tích cực với một số lượng lớn các phản ánh, kiến nghị trong giai đoạn từ năm 2020 – 2025 đã được xem xét, xử lý. Kết quả rà soát trở thành cơ sở, nguồn dữ liệu đáng tin cậy cho nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, pháp luật, bảo đảm kịp thời sửa đổi, bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật.

Một số tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, rà soát, xử lý các khó khăn, vướng mắc, "điểm nghẽn" trong năm 2025 và cả nhiệm kỳ vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần tập trung khắc phục: Khối lượng lớn các văn bản quy phạm pháp luật cần được sửa đổi, bổ sung trong khi nguồn lực còn hạn chế nên một số hồ sơ dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa bảo đảm yêu cầu chất lượng, thời hạn.

Các Bộ, cơ quan phải xử lý số lượng lớn các kiến nghị, khó khăn, vướng mắc nên còn xảy ra tình trạng chậm xử lý, chưa bảo đảm kịp thời tháo gỡ các vướng mắc, "điểm nghẽn" trong quy định pháp luật, thời hạn; tình trạng chậm ban hành các văn bản quy định chi tiết các luật, nghị quyết đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua chưa được khắc phục triệt để…

Tập trung 6 mục tiêu trong Quý I và năm 2026

Ban Chỉ đạo yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương khi triển khai thực hiện các nhiệm vụ trong Quý I và năm 2026 phải bảo đảm 06 mục tiêu:

Đề cao trách nhiệm, phát huy vai trò của người đứng đầu, Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực tiếp chỉ đạo tập trung, tổ chức thực hiện công tác xây dựng pháp luật. Các đồng chí Lãnh đạo Chính phủ phụ trách lĩnh vực tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo Bộ trưởng, trưởng ngành trong công tác rà soát, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Tiếp tục xác định thể chế là "đột phá của đột phá" để có cơ chế đầu tư phù hợp, ưu tiên bố trí nguồn lực, cơ sở vật chất và các điều kiện bảo đảm khác tương xứng.

Tập trung cho công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật để "chuyển đổi trạng thái" của thể chế từ "điểm nghẽn của điểm nghẽn" trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia và động lực, nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.

Xoay chuyển tình thế trong huy động các nguồn lực phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và những năm tiếp theo, trong đó lưu ý tập trung huy động các nguồn lực để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới.

Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật từ "không quản được thì cấm" sang "kiến tạo phát triển", bảo đảm chất lượng, hiệu quả hơn, thực hiện "ai làm tốt nhất thì giao", tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, cắt giảm tối đa thủ tục hành chính.

Xác định rõ tinh thần xây dựng thể chế, pháp luật để tạo động lực cho xây dựng, phát triển đất nước là chiến lược, là cơ bản, lâu dài và "phòng, chống là thường xuyên, quan trọng", phục vụ công tác quản lý trên các lĩnh vực.

Không để tình trạng "luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư"

Về triển khai nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo trong Quý I và năm 2026, Ban Chỉ đạo yêu cầu các Bộ, cơ quan, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, các Bộ trưởng, trưởng ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện thể chế của ngành mình, lĩnh vực, địa bàn mình phụ trách; đề cao vai trò, tinh thần chủ động, chịu trách nhiệm toàn diện, tập trung thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ được giao, trong đó bảo đảm thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, không để tình trạng "luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư", tập trung xử lý dứt điểm tình trạng chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết trong tháng 01 năm 2026.

Tiếp tục hoàn thiện kết quả rà soát, bảo đảm xác định chính xác nội dung, thực hiện phương án xử lý và thời gian xử lý đối với những nội dung được xác định là khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật, nhất là nội dung liên quan đến chính quyền địa phương 2 cấp và các vướng mắc, khó khăn trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

Tập trung rà soát kỹ các quy định của pháp luật để phục vụ cho việc xây dựng và hoàn thiện các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết được đưa vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội; đồng thời, chuẩn bị kỹ nội dung các hồ sơ dự án luật, nghị quyết phục vụ các phiên họp Chính phủ về chuyên đề xây dựng pháp luật, bảo đảm chất lượng, thời hạn theo quy định.

Bộ Tư pháp – Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo hoàn thiện, nâng cấp Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm kết nối, liên thông, kịp thời xử lý, giải quyết các kiến nghị của người dân, doanh nghiệp, góp ý của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, bảo đảm dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung".

Kế hoạch triển khai thi hành Luật Xây dựng

Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 160/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Xây dựng.

Luật Xây dựng số 135/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025 (Luật Xây dựng). Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026; riêng khoản 2, khoản 3 Điều 43, Điều 71 và các khoản 3, 4, 5 Điều 95 của Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

Để triển khai thi hành Luật kịp thời, đồng bộ, thống nhất, hiệu lực và hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Xây dựng với mục đích nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân trong việc triển khai thi hành Luật Xây dựng; xác định cụ thể nội dung công việc, tiến độ, thời hạn hoàn thành và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc tổ chức thi hành Luật Xây dựng bảo đảm kịp thời, toàn diện, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả.

Tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nội dung Luật Xây dựng

Theo Kế hoạch, Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và cơ quan, tổ chức có liên quan biên soạn tài liệu giới thiệu Luật và tổ chức hội nghị quán triệt, phổ biến, tập huấn Luật ở trung ương.

Bộ Xây dựng, các bộ, cơ quan ngang bộ; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan thông tin đại chúng khác ở trung ương và địa phương tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung cơ bản và những điểm mới của Luật (thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ). Thời gian thực hiện: quý I, quý II năm 2026.

Rà soát văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quy định của Luật Xây dựng

Kế hoạch cũng phân công Bộ Xây dựng, các bộ, cơ quan ngang bộ; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung rà soát, lập danh mục các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quy định của Luật Xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước được phân công; căn cứ kết quả rà soát chủ động thực hiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm phù hợp với quy định của Luật. Thời gian thực hiện: quý I, quý II 2026.

Xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan xây dựng, trình Chính phủ Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng. Thời hạn trình tháng 4/2026.

Cũng trong tháng 4/2026, Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan xây dựng, trình Chính phủ Nghị định quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng; xây dựng, trình Nghị định quy định chi tiết về quản lý chi phí đầu tư xây dựng; xây dựng, trình Chính phủ Nghị định quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.

Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan có liên quan xây dựng, trình Chính phủ Nghị định quy định chi tiết về hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng, điều kiện năng lực hoạt động xây dựng; xây dựng, trình Chính phủ Nghị định về quản lý vật liệu xây dựng. Thời hạn trình tháng 4/2026.

Kết luận Phiên họp lần thứ nhất Ban Chỉ đạo quốc gia về dữ liệu

Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 43/TB-VPCP ngày 26/1/2026 kết luận Phiên họp lần thứ nhất Ban Chỉ đạo quốc gia về dữ liệu.

Thông báo nêu, năm qua, Ban Chỉ đạo đã trình Quốc hội thông qua 28 dự án luật; các cơ sở dữ liệu (CSDL) quan trọng như dân cư, đăng ký doanh nghiệp, đất đai, tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, hộ tịch điện tử được kết nối, tích hợp, chia sẻ và khai thác hiệu quả; hạ tầng dữ liệu từng bước được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả. Trung tâm dữ liệu quốc gia số 01 đã đi vào hoạt động; cả nước có gần 40 trung tâm dữ liệu và đang nghiên cứu xây dựng siêu trung tâm dữ liệu trí tuệ nhân tạo...

Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại như: Thể chế, cơ chế chính sách về dữ liệu còn thiếu, chưa có cơ sở pháp lý đầy đủ cho phát triển các sản phẩm, dịch vụ dữ liệu cốt lõi; dữ liệu còn phân tán, phân mảnh, chất lượng chưa đồng đều, chuẩn hóa chậm, chia sẻ, liên thông chưa thông suốt, vẫn còn tâm lý "cát cứ dữ liệu", chưa xác định rõ dữ liệu gốc, dữ liệu chủ; tiến độ xây dựng các CSDL quốc gia, chuyên ngành còn chậm; cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu số còn chậm, số hóa và tái cấu trúc quy trình chưa có nhiều chuyển biến, tỷ lệ dịch vụ công toàn trình còn thấp...

Phát triển dữ liệu, kinh tế dữ liệu là động lực quan trọng góp phần tăng trưởng 2 con số

Theo nhận định của Ban Chỉ đạo, thế giới bước vào giai đoạn bùng nổ trí tuệ nhân tạo, chip bán dẫn, dữ liệu trở thành tài nguyên chiến lược và là "vũ khí" cạnh tranh giữa các quốc gia; an ninh mạng, gián điệp mạng diễn biến phức tạp, đe dọa chủ quyền số, trong khi yêu cầu chuyển đổi số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong nước đặt ra cấp bách, đòi hỏi thực chất và hiệu quả hơn.

Chính vì vậy, dữ liệu số là tư liệu sản xuất chủ yếu, đầu vào trọng yếu của kinh tế số. Cần phát triển dữ liệu, kinh tế dữ liệu với những đột phá và cải cách mạnh mẽ, toàn diện hơn nữa để Việt Nam bắt kịp, tiến cùng và vươn lên trên các lĩnh vực, là động lực quan trọng góp phần tăng trưởng 2 con số thời gian tới. Tập trung 05 đột phá dữ liệu số: (i) Đột phá về thể chế dữ liệu; (ii) Đột phá về hạ tầng dữ liệu gắn với trí tuệ nhân tạo tự chủ; (iii) Đột phá về nhân lực dữ liệu; (iv) Đột phá về phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành; (v) Đột phá về phát triển hệ sinh thái dữ liệu và kinh tế dữ liệu; gắn với phương châm: "Quyết liệt trong hành động; kết quả là thước đo; đồng bộ trong triển khai; dữ liệu là tài sản; hạ tầng dữ liệu là nền tảng; kinh tế dữ liệu là mũi nhọn; an ninh dữ liệu là trọng yếu; người dân, doanh nghiệp là trung tâm".

Ban Chỉ đạo đã đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới.

Bộ Công an trình Thủ tướng Chính phủ ban hành: Quy chế tổ chức và hoạt động; Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về dữ liệu, hoàn thành trong tháng 01/2026.

Các bộ, ngành, địa phương thành lập Ban Chỉ đạo về dữ liệu do Bộ trưởng, Trưởng ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố làm Trưởng ban, phân công nhiệm vụ bảo đảm 6 rõ, hoàn thành trong tháng 01/2026.

Hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách đột phá phát triển về dữ liệu

Bộ Công an được giao nhiệm vụ: 1- Nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành các Nghị định sau theo trình tự thủ tục rút gọn gồm Nghị định quy định hoạt động của Sàn dữ liệu, hoàn thành trong Quý II/2026; Nghị định quy định cơ chế đột phá phát triển cho hoạt động sáng tạo, khai thác dữ liệu của Trung tâm sáng tạo, khai thác dữ liệu thuộc Trung tâm dữ liệu quốc gia, hoàn thành trong Quý I/2026; Nghị định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, hoàn thành trong Quý II/2026; 2- Trình Chính phủ ban hành Nghị quyết quy phạm về phát triển Công dân số, hoàn thành trong Quý I/2026; 3- Nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền cơ chế, chính sách phát triển kinh tế dữ liệu, hoàn thành trong Quý II/2026; 4- Chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan ban hành danh mục tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu, hoàn thành trong Quý II/2026.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Công an xây dựng khung pháp lý về định giá dữ liệu, phí, giá khai thác dữ liệu từ Trung tâm dữ liệu quốc gia, chính sách ưu đãi thuế, vốn cho doanh nghiệp có hoạt động liên quan đến dữ liệu, hoàn thành trong Quý II/2026.

Cơ quan quản lý CSDL quốc gia, chuyên ngành chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ đẩy mạnh việc xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn theo danh mục để bảo đảm áp dụng chung, thống nhất trong toàn quốc, hoàn thành trong Quý II/2026.

Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương: 1-Xây dựng quyết định ban hành danh mục dữ liệu gốc, dữ liệu chủ, dữ liệu mở, dữ liệu dùng chung; quy trình, quy chế thực hiện quản trị dữ liệu; quy chuẩn kỹ thuật về cấu trúc thông điệp dữ liệu trao đổi giữa CSDL quốc gia, CSDL chuyên ngành, hệ thống thông tin có kết nối, trao đổi dữ liệu với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia; triển khai xây dựng kiến trúc dữ liệu, hoàn thành trong Quý I/2026; 2- Xác định, công bố, cập nhật bộ dữ liệu chủ chuyên ngành tích hợp vào Hệ thống Từ điển dữ liệu dùng chung, hoàn thành trong Quý II/2026.

Bộ Tư pháp nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách nhằm kiểm soát chặt chẽ việc ban hành thủ tục hành chính, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ từ trung ương đến địa phương; chỉ ban hành thủ tục hành chính mới khi thật sự cần thiết, đáp ứng yêu cầu về tính hợp hiến, hợp pháp, tính hợp lý và có chi phí tuân thủ thủ tục hành chính thấp; đồng thời bảo đảm phù hợp với đặc thù và điều kiện thực tiễn của địa phương, hoàn thành trong Quý III/2026.

Đẩy mạnh xây dựng và phát triển các CSDL quan trọng

Ban Chỉ đạo yêu cầu các Bộ trưởng, Trưởng ngành trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; các CSDL phải bảo đảm "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung"; đồng thời, đẩy mạnh tạo lập, kết nối, chia sẻ dữ liệu.

Bộ Nội vụ đẩy nhanh việc cập nhật, làm sạch và đối soát 100% dữ liệu của CSDL quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức với CSDL quốc gia về dân cư, hoàn thành trong Quý I/2026; khẩn trương xây dựng các CSDL thành phần của CSDL về an sinh xã hội, nâng cấp và tích hợp dữ liệu từ địa phương về Trung ương để chính thức đi vào hoạt động, hoàn thành trong Quý II/2026.

Bộ Công an đẩy nhanh tổ chức triển khai CSDL xử lý vi phạm hành chính, tập trung tháo gỡ vướng mắc theo Nghị quyết số 66.9/2025/NQ-CP của Chính phủ, hoàn thành trong tháng 9/2026; nghiên cứu xây dựng Cơ sở dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo tự chủ tại Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đẩy nhanh hoàn thiện các CSDL thành phần như trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, tài nguyên nước và môi trường…, đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu từ địa phương về Trung ương, hoàn thành trong Quý III/2026.

Bộ Y tế cần sớm hoàn thành các hạng mục CSDL thành phần của CSDL ngành y tế, bảo đảm dữ liệu chính xác, tin cậy, theo thời gian thực; liên thông với CSDL quốc gia về dân cư, hoàn thành trong Quý II/2026.

Thanh tra Chính phủ khẩn trương khắc phục các khó khăn vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các hạng mục chính, đẩy mạnh kết nối, liên thông dữ liệu trên toàn quốc, hoàn thành trong tháng 9/2026.

Các cơ quan chủ quản CSDL quốc gia, chuyên ngành khẩn trương xây dựng, phát triển, đưa vào khai thác các CSDL được giao tại Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/01/2026 và Nghị quyết số 214/NQ-CP ngày 23/7/2025 của Chính phủ; trong quá trình xây dựng CSDL phải gắn với cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, dịch vụ công trực tuyến dựa trên dữ liệu số; đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu, hoàn thành trong Quý III/2026.

Phát triển hạ tầng dữ liệu

Bộ Công an khẩn trương hoàn thành, vận hành hiệu quả Trung tâm dữ liệu quốc gia số 01 theo lộ trình, đề xuất nghiên cứu xây dựng Trung tâm dữ liệu quốc gia số 2 và 3. Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương đăng ký, xây dựng lộ trình và phương án chuyển dịch hạ tầng về Trung tâm dữ liệu quốc gia, hoàn thành trong Quý I/2026.

Phát triển nhân lực chất lượng cao để phát triển kinh tế dữ liệu

Bộ Công an xây dựng và triển khai chương trình đào tạo chuyên sâu, các lớp tập huấn về khoa học dữ liệu cho đội ngũ công chức, viên chức làm công tác quản lý, vận hành CSDL tại các bộ, ngành, địa phương, hoàn thành trong Quý III/2026.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đẩy mạnh đào tạo nhân lực dữ liệu, trí tuệ nhân tạo; mở rộng đào tạo ở nước ngoài, cấp chứng chỉ quốc tế; tăng cường hợp tác với các tập đoàn công nghệ, viện nghiên cứu hàng đầu để phát triển nhân lực dữ liệu trình độ cao.

Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp Bộ Công an thiết lập và mở rộng hợp tác quốc tế với các tổ chức, quốc gia có thế mạnh về quản trị, chủ quyền dữ liệu, AI và hạ tầng dữ liệu quốc gia, hoàn thành trong Quý III/2026.

Bảo đảm an ninh mạng và chủ quyền dữ liệu quốc gia

Các bộ, ngành, địa phương xây dựng phương án bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu trước khi kết nối, đồng bộ dữ liệu về Trung tâm dữ liệu quốc gia.

Bộ Công an khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý, tiêu chuẩn, quy chuẩn về bảo vệ dữ liệu; phối hợp các bộ, ngành, địa phương kiểm tra, rà soát công tác bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu tại nguồn; giám sát luồng dữ liệu xuyên biên giới; rà soát, đánh giá hiện trạng chuyển dữ liệu xuyên biên giới liên quan đến danh mục dữ liệu cốt lõi, quan trọng theo Quyết định số 20/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Đề nghị công nhận Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê là Di sản thế giới 

Tại văn bản số 836/VPCP-KGVX ngày 26/01/2026, Phó Thủ tướng Mai Văn Chính đồng ý gửi Hồ sơ khoa học "Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê, tỉnh An Giang" tới Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên hiệp quốc (UNESCO) để đề nghị công nhận và ghi vào Danh mục Di sản thế giới.

Phó Thủ tướng ủy quyền Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch rà soát kỹ, hoàn thiện và ký Hồ sơ khoa học gửi Trung tâm Di sản Thế giới UNESCO theo quy định, bảo đảm chất lượng, thời hạn quy định.

Bộ Ngoại giao, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện các thủ tục cần thiết để gửi Hồ sơ khoa học Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê, tỉnh An Giang tới Trung tâm Di sản thế giới UNESCO trước ngày 30/1/2026 theo quy định của Công ước Di sản thế giới 1972 và pháp luật về di sản văn hóa; chú trọng phát huy vị trí, vai trò của Việt Nam trong các cơ chế điều hành của UNESCO; tích cực hỗ trợ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang và các cơ quan liên quan trong việc triển khai các biện pháp cần thiết nhằm tạo đồng thuận của quốc tế ủng hộ cho việc công nhận Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê là Di sản thế giới.

Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang rà soát, chịu trách nhiệm toàn diện về nội dung, số liệu, tính chính xác của Hồ sơ khoa học "Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê" theo quy định của Công ước 1972 về Bảo tồn Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới của UNESCO và pháp luật về di sản văn hóa; chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Ngoại giao, Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và các cơ quan liên quan tiếp tục triển khai các biện pháp cần thiết, tạo thuận lợi cho quá trình UNESCO thẩm định, công nhận Khu di tích khảo cổ Óc Eo - Ba Thê là Di sản thế giới; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền theo quy định./.