Tải ứng dụng:
BÁO ĐIỆN TỬ CHÍNH PHỦ
Chính phủ ban hành Nghị định số 42/2026/NĐ-CP ngày 26/01/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định trong lĩnh vực lâm nghiệp và kiểm lâm. Trong đó, đáng chú ý là các sửa đổi liên quan đến chính sách đầu tư đối với rừng đặc dụng.

Mở rộng chính sách đầu tư bảo vệ rừng đặc dụng.
Nghị định số 42/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định sau:
1- Nghị định số 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, được được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 91/2024/NĐ CP, Nghị định số 183/2025/NĐ-CP và Nghị định số 227/2025/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định số 156/2018/NĐ-CP).
2- Nghị định số 58/2024/NĐ-CP ngày 24/5/2024 của Chính phủ về một số chính sách đầu tư trong lâm nghiệp.
3- Nghị định số 102/2020/NĐ-CP ngày 01/9/2020 của Chính phủ quy định Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 120/2024/NĐ-CP.
4- Nghị định số 01/2019/NĐ-CP ngày 01/01/2019 về Kiểm lâm và lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 159/2024/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định số 01/2019/NĐ-CP).
Nghị định số 42/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2024/NĐ-CP về một số chính sách đầu tư trong lâm nghiệp. Trong đó, đáng chú ý là các quy định liên quan đến chính sách đối với rừng đặc dụng. Cụ thể như sau:
- Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5 về mức kinh phí bảo vệ rừng đặc dụng theo hướng tăng mức hỗ trợ và mở rộng phạm vi áp dụng. Mức kinh phí bình quân/ha/năm được nâng lên, đặc biệt đối với rừng đặc dụng. Bên cạnh đó, chi phí lập hồ sơ lần đầu tăng từ 50.000 đồng/ha lên 150.000 đồng/ha, trong khi tỷ lệ kinh phí quản lý, kiểm tra, nghiệm thu vẫn giữ ở mức 7%. Cụ thể:
"2. Mức kinh phí:
a) Đối tượng quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều này được Nhà nước cấp kinh phí bảo vệ rừng bình quân 500.000 đồng/ha/năm trên tổng diện tích được giao ngoài kinh phí sự nghiệp thường xuyên của các đơn vị.
b) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, được Nhà nước cấp kinh phí bảo vệ rừng bình quân 1.000.000 đồng/ha/năm trên tổng diện tích rừng đặc dụng được giao.
c) Đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này được Nhà nước cấp kinh phí bảo vệ rừng bình quân 300.000 đồng/ha/năm trên tổng diện tích rừng được giao quản lý.
d) Kinh phí bảo vệ rừng đối với khu vực II, III bằng 1,2 lần mức bình quân, vùng đất ven biển bằng 1,5 lần mức bình quân quy định tại các điểm a, b và c khoản này.
đ) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều này, chi phí lập hồ sơ lần đầu về bảo vệ rừng là 150.000 đồng/ha và kinh phí quản lý, kiểm tra, nghiệm thu bảo vệ rừng là 7% trên tổng kinh phí chi cho bảo vệ rừng hằng năm.".
- Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 5 theo hướng mở rộng phạm vi các nội dung chi cho công tác bảo vệ rừng đặc dụng như chi về hạ tầng bảo vệ rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, phòng trừ sinh vật gây hại và bảo vệ, phát triển động thực vật rừng. Đồng thời, còn bổ sung nội dung chi cho lực lượng quần chúng bảo vệ rừng và công tác quản lý, giám sát ở cơ sở, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng. Cụ thể:
"3. Nội dung chi:
a) Đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thực hiện các nội dung sau:
Khoán bảo vệ rừng đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại địa phương theo quy định tại Điều 19 Nghị định này.
Chi phí tiền công cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng, thuộc đối tượng không được hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp; thuê lao động bảo vệ rừng.
Mua sắm, sửa chữa phương tiện, trang thiết bị phục vụ bảo vệ rừng và các công cụ hỗ trợ, bảo hộ lao động cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng.
Bảo trì, bảo dưỡng, cải tạo công trình phòng cháy và chữa cháy rừng, trạm bảo vệ rừng, biển báo, biển cảnh báo, cọc mốc ranh giới rừng và công trình cứu hộ, bảo vệ, phát triển động vật rừng, thực vật rừng.
Theo dõi, thống kê, điều tra, giám sát diễn biến tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng.
Hỗ trợ các lực lượng tham gia truy quét, tuần tra, kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ rừng; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng; tổ chức ký quy ước, cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng; hỗ trợ đào tạo nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng; tuyên truyền giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư.
Chi xây dựng phương án phòng cháy và chữa cháy rừng; diễn tập chữa cháy rừng; giảm vật liệu cháy; trực ngoài giờ phòng cháy và chữa cháy rừng trong các tháng mùa khô và chi các hội nghị phục vụ công tác bảo vệ rừng.
Hỗ trợ chi phí đi lại, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, họp với cộng đồng dân cư để triển khai hoạt động quy định tại Điều 8 Nghị định này.
Thực hiện các hoạt động bảo vệ rừng khác theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.
b) Đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thực hiện khoán bảo vệ rừng đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại địa phương theo quy định tại Điều 19 Nghị định này và chi cho các nội dung sau:
Thuê lao động bảo vệ rừng; chi tiền công cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng thuộc đối tượng không được hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp.
Mua sắm, sửa chữa phương tiện, trang thiết bị phục vụ bảo vệ rừng và các công cụ hỗ trợ, bảo hộ lao động cho lực lượng bảo vệ rừng.
Bảo trì, bảo dưỡng, cải tạo công trình phòng cháy và chữa cháy rừng, trạm bảo vệ rừng, biển báo, biển cảnh báo, cọc mốc ranh giới rừng và công trình cứu hộ, bảo vệ, phát triển động vật rừng, thực vật rừng.
Theo dõi, thống kê, điều tra, giám sát diễn biến tài nguyên rừng và đa dạng sinh học; phòng, trừ sinh vật gây hại rừng.
Hỗ trợ các lực lượng tham gia truy quét, tuần tra, kiểm tra, giám sát công tác bảo vệ rừng; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng; tổ chức ký quy ước, cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng; hỗ trợ đào tạo nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng; tuyên truyền giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư.
Chi xây dựng phương án phòng cháy và chữa cháy rừng; giảm vật liệu cháy; diễn tập chữa cháy rừng; trực ngoài giờ phòng cháy và chữa cháy rừng trong các tháng mùa khô và chi các hội nghị phục vụ công tác bảo vệ rừng.
Thực hiện các hoạt động bảo vệ rừng khác theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.
c) Đối tượng quy định tại điểm c khoản 1 Điều này thực hiện các hoạt động bảo vệ rừng do chủ rừng quyết định theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.
d) Đối tượng quy định tại điểm d khoản 1 Điều này: đối với doanh nghiệp nhà nước thực hiện khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư tại địa phương theo quy định tại Điều 19 Nghị định này và các hoạt động bảo vệ rừng khác do chủ rừng quyết định theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp. Đối với các tổ chức khác thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng theo phương án quản lý rừng bền vững và do chủ rừng quyết định theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.
đ) Đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này thực hiện các nội dung sau:
Duy trì hoạt động thường xuyên của tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng.
Hợp đồng lao động bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng và các hoạt động khác trong công tác quản lý, bảo vệ rừng; tổ chức thực hiện các hoạt động chống chặt phá rừng.
Chi xây dựng phương án phòng cháy và chữa cháy rừng, diễn tập chữa cháy rừng; trực ngoài giờ phòng cháy và chữa cháy rừng trong các tháng mùa khô và chi các hội nghị phục vụ công tác bảo vệ rừng.
Chi công tác quản lý, kiểm tra, giám sát về bảo vệ rừng; chi lập và nhận hồ sơ đề nghị giao rừng, cho thuê rừng và giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp đối với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư theo thẩm quyền.
e) Căn cứ vào ngân sách nhà nước được phân bổ hàng năm, đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này ưu tiên thực hiện các nội dung chi bảo vệ rừng cho khu vực có nguy cơ cao về xâm hại tài nguyên rừng; khu rừng có giá trị đa dạng sinh học cao cần được bảo vệ.".
Ngoài ra, Nghị định số 42/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 6 Nghị định số 58/2024/NĐ-CP về nội dung và mức kinh phí khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung thuộc quy hoạch rừng đặc dụng theo hướng tăng mức kinh phí khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên lên 2.500.000 đồng/ha/năm, thay cho mức 1.000.000 đồng/ha/năm ở quy định cũ, nhưng vẫn giữ thời gian 6 năm và hệ số 1,5 lần cho vùng ven biển. Đối với khoanh nuôi có trồng bổ sung, không ấn định mức kinh phí cố định mà áp dụng theo định mức kinh tế – kỹ thuật và dự toán được duyệt. Đồng thời, bỏ chi phí lập hồ sơ lần đầu 50.000 đồng/ha, nhưng vẫn giữ tỷ lệ 7% cho quản lý, kiểm tra, nghiệm thu. Cụ thể:
"2. Nội dung và mức kinh phí:
a) Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên: mức kinh phí bình quân 2.500.000 đồng/ha/năm trong thời gian 6 năm. Đối với vùng đất ven biển bằng 1,5 lần mức bình quân.
b) Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung: theo định mức kinh tế kỹ thuật, thiết kế, dự toán công trình lâm sinh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
c) Chi phí lập hồ sơ thiết kế, dự toán khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung được xác định bằng dự toán được duyệt; kinh phí quản lý, kiểm tra, nghiệm thu bằng 7% tổng kinh phí chi cho khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung hằng năm.".
Đáng chú ý, Nghị định số 42/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 8 Nghị định số 58/2024/NĐ-CP về đối tượng và mức hỗ trợ kinh phí để phát triển sinh kế, cải thiện đời sống người dân vùng đệm của các khu rừng đặc dụng theo hướng tăng gấp đôi mức hỗ trợ từ 50.000.000 đồng/cộng đồng dân cư/năm lên 100.000.000 đồng/cộng đồng dân cư/năm.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (26/01/2026).
Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình ký Quyết định số 161/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị định quy định về việc miễn thị thực có thời hạn cho người nước ngoài thuộc diện đối tượng đặc biệt cần ưu đãi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (Kế hoạch).

Triển khai miễn thị thực có thời hạn cho người nước ngoài thuộc diện đặc biệt cần ưu đãi.
Mục đích ban hành Kế hoạch nhằm xác định rõ nội dung công việc, tiến độ, thời hạn hoàn thành và phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc triển khai thi hành Nghị định số 221/2025/NĐ-CP quy định về việc miễn thị thực có thời hạn cho người nước ngoài thuộc diện đối tượng đặc biệt cần ưu đãi phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhằm bảo đảm việc tổ chức thực hiện Nghị định được triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả và đúng pháp luật.
Bên cạnh đó, thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình tổ chức thi hành Nghị định, qua đó tăng cường sự lãnh đạo, điều hành tập trung, thống nhất của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời phát huy tính chủ động, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong tổ chức triển khai các nhiệm vụ được giao.
Kế hoạch đưa ra các nội dung nhiệm vụ cụ thể để các bộ, ngành địa phương thực hiện như sau:
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan, tổ chức liên quan thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung của Nghị định số 221/2025/NĐ-CP trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ hoặc bằng các hình thức đa dạng, phù hợp với điều kiện, tình hình thực tế theo quy định của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và cá nhân liên quan trong triển khai thi hành Nghị định số 221/2025/NĐ-CP.
Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan, tổ chức liên quan tuyên truyền, phổ biến nội dung của Nghị định số 221/2025/NĐ-CP đến cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài và người nước ngoài thuộc đối tượng ưu đãi trên các phương tiện truyền thông ngoài nước, nhất là các kênh truyền thông quốc tế và các diễn đàn về du lịch, đầu tư tại nước ngoài.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp Bộ Công an, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình ở trung ương và địa phương tuyên truyền, phổ biến Nghị định số 221/2025/NĐ-CP.
Các bộ, ngành có liên quan, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến Nghị định số 221/2025/NĐ-CP trong cơ quan, đơn vị, địa phương hoặc các cơ quan, tổ chức liên quan.
Bộ Công an chủ trì công bố thủ tục hành chính mới được ban hành tại Nghị định số 221/2025/NĐ-CP bảo đảm phù hợp với quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan về công bố thủ tục hành chính.
Đồng thời, bảo đảm các điều kiện cần thiết về nguồn lực, trang thiết bị kỹ thuật, hệ thống phần mềm và các điều kiện khác để triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị định số 221/2025/NĐ-CP.
Bên cạnh đó, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan, tổ chức liên quan thường xuyên thực hiện tiếp nhận, giải quyết đề nghị cấp thẻ miễn thị thực đặc biệt và hủy giá trị sử dụng thẻ miễn thị thực đặc biệt bảo đảm đúng quy định của Nghị định số 221/2025/NĐ-CP, quy định của pháp luật có liên quan, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện.
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chủ trì thực hiện công tác kiểm soát xuất nhập cảnh đối với người nước ngoài sử dụng thẻ miễn thị thực đặc biệt tại các cửa khẩu thuộc thẩm quyền quản lý bảo đảm đúng quy định tại Nghị định số 221/2025/NĐ-CP và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh Việt Nam.
Các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện đề nghị cấp thẻ miễn thị thực đặc biệt cho người nước ngoài bảo đảm đúng đối tượng, tiêu chí theo quy định của Nghị định số 221/2025/NĐ-CP và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, lĩnh vực hoạt động của cơ quan, tổ chức.
Đồng thời, thường xuyên rà soát, thông báo bằng văn bản cho Bộ Công an về việc người nước ngoài có thẻ miễn thị thực đặc biệt còn giá trị nhưng không còn nhu cầu đề nghị ưu đãi miễn thị thực hoặc người nước ngoài không còn bảo đảm tiêu chí theo quy định của Nghị định số 221/2025/NĐ-CP và phối hợp giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến người nước ngoài đã được đề nghị ưu đãi miễn thị thực.
Trước ngày 01/03/2026, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình tổ chức kiểm tra, rà soát, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để đảm bảo triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị định số 221/2025/NĐ-CP (nếu có).
Năm 2026 và các năm tiếp theo, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì đề xuất tiêu chí xác định, danh sách các viện nghiên cứu, trường đại học, đại học lớn; Bộ Tài chính chủ trì đề xuất tiêu chí xác định, danh sách các doanh nghiệp lớn được mời người nước ngoài thuộc diện đối tượng đặc biệt cần ưu đãi nhập cảnh Việt Nam.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tham gia rà soát, nghiên cứu, đề xuất các tiêu chí và danh sách nêu trên. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính tổng hợp, tiếp thu các ý kiến, gửi Bộ Công an trong vòng 30 ngày sau khi Kế hoạch được ban hành để báo cáo Chính phủ.
Bộ Công an tổng hợp, đề xuất Chính phủ ban hành Nghị quyết thông qua các tiêu chí và danh sách các viện nghiên cứu, trường đại học, đại học, doanh nghiệp lớn được mời người nước ngoài thuộc diện đối tượng đặc biệt cần ưu đãi nhập cảnh Việt Nam, trong đó giao Bộ trưởng Bộ Công an quyết định sửa đổi, bổ sung danh sách trên cơ sở tiêu chí do Chính phủ ban hành trong vòng 30 ngày sau khi nhận được báo cáo, đề xuất của hai Bộ (Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính).
Ngoài ra, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan, tổ chức liên quan tăng cường công tác nắm tình hình người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam bằng thẻ miễn thị thực đặc biệt nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh trong thực tiễn thực hiện Nghị định số 221/2025/NĐ-CP.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong phạm vi quản lý của bộ, ngành và địa phương mình xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị định số 221/2025/NĐ-CP và các nhiệm vụ được phân công theo Kế hoạch này, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm, tránh hình thức, lãng phí.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố báo cáo Thủ tướng Chính phủ (qua Bộ Công an) kết quả triển khai thực hiện Nghị định số 221/2025/NĐ-CP và Kế hoạch này trước ngày 15/8 hằng năm hoặc đột xuất theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.
Văn phòng Chính phủ có Thông báo số 47/TB-VPCP kết luận của Thường trực Chính phủ về Nghị định quy định chi tiết về việc xử lý vướng mắc của dự án BOT giao thông.

Khẩn trương hoàn thiện Nghị định xử lý vướng mắc dự án BOT giao thông trước 10/02/2026.
Tại Thông báo số 270/TB-VPCP ngày 22/6/2024, Thường trực Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo về việc xử lý khó khăn, vướng mắc tại một số dự án BOT giao thông, trong đó chỉ đạo: "Trường hợp đề xuất sử dụng ngân sách nhà nước để thanh toán cho nhà đầu tư khi chấm dứt hợp đồng trước thời hạn phải xác định được giá trị thuộc trách nhiệm nhà nước phải thanh toán, sử dụng nguồn nào và thẩm quyền quyết định; các bên có trách nhiệm chia sẻ tối đa rủi ro theo nguyên tắc "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ".
Bộ Xây dựng đã thực hiện theo quy trình, thủ tục, quy định xây dựng, trình Chính phủ Nghị định quy định chi tiết về việc xử lý vướng mắc của dự án BOT giao thông. Nghị định đã lấy ý kiến Thành viên Chính phủ; tuy nhiên còn có ý kiến khác nhau về lựa chọn phương án xác định chi phí lãi vay giai đoạn vận hành, kinh doanh trong chi phí bồi thường, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn quy định tại Nghị định.
Việc sớm ban hành Nghị định để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để tiếp tục huy động vốn cho các dự án PPP trong thời gian tới là rất cần thiết. Về nguyên tắc, Thường trực Chính phủ chỉ cho chủ trương xử lý theo đúng thẩm quyền, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Xây dựng phải chịu trách nhiệm nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng tác động theo quy định và đề xuất phương án tối ưu theo quy định và đúng thẩm quyền, bảo đảm nguyên tắc "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ".
Thường trực Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Xây dựng chủ trì, làm việc với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Tư pháp, lãnh đạo Bộ Công an rà soát, đánh giá kỹ lưỡng cơ sở pháp lý, thẩm quyền, đối tượng xử lý vướng mắc để làm rõ có phải quy định cụ thể chi phí lãi vay giai đoạn vận hành, kinh doanh đối với các dự án chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong nội dung của Nghị định do việc thu xếp vốn là quan hệ dân sự giữa Nhà đầu tư/Doanh nghiệp dự án, tổ chức tín dụng và đánh giá tác động khi chấm dứt hợp đồng dự án BOT trước thời hạn; hoàn thành trước ngày 30/01/2026.
Bộ Tư pháp rà soát cơ sở chính trị, pháp lý về phạm vi điều chỉnh, thẩm quyền của văn bản, báo cáo Thủ tướng Chính phủ (đồng thời gửi Bộ Xây dựng) trước ngày 30/01/2026.
Trên cơ sở ý kiến các bộ, ngành, cơ quan tại cuộc họp và nội dung rà soát nêu trên, trường hợp phải quy định cụ thể chi phí lãi vay giai đoạn vận hành, kinh doanh đối với các dự án chấm dứt hợp đồng; Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các bộ, cơ quan liên quan xác định và thống nhất cụ thể chi phí lãi vay này bảo đảm nguyên tắc "lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ" hoàn thiện Nghị định theo quy định, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 10/02/2026.
Thường trực Chính phủ giao Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà khẩn trương chỉ đạo trực tiếp Bộ Xây dựng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các bộ, cơ quan liên quan hoàn thiện dự thảo Nghị định theo quy định, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét quyết định./.