• An Giang
  • Bình Dương
  • Bình Phước
  • Bình Thuận
  • Bình Định
  • Bạc Liêu
  • Bắc Giang
  • Bắc Kạn
  • Bắc Ninh
  • Bến Tre
  • Cao Bằng
  • Cà Mau
  • Cần Thơ
  • Điện Biên
  • Đà Nẵng
  • Đà Lạt
  • Đắk Lắk
  • Đắk Nông
  • Đồng Nai
  • Đồng Tháp
  • Gia Lai
  • Hà Nội
  • Hồ Chí Minh
  • Hà Giang
  • Hà Nam
  • Hà Tây
  • Hà Tĩnh
  • Hòa Bình
  • Hưng Yên
  • Hải Dương
  • Hải Phòng
  • Hậu Giang
  • Khánh Hòa
  • Kiên Giang
  • Kon Tum
  • Lai Châu
  • Long An
  • Lào Cai
  • Lâm Đồng
  • Lạng Sơn
  • Nam Định
  • Nghệ An
  • Ninh Bình
  • Ninh Thuận
  • Phú Thọ
  • Phú Yên
  • Quảng Bình
  • Quảng Nam
  • Quảng Ngãi
  • Quảng Ninh
  • Quảng Trị
  • Sóc Trăng
  • Sơn La
  • Thanh Hóa
  • Thái Bình
  • Thái Nguyên
  • Thừa Thiên Huế
  • Tiền Giang
  • Trà Vinh
  • Tuyên Quang
  • Tây Ninh
  • Vĩnh Long
  • Vĩnh Phúc
  • Vũng Tàu
  • Yên Bái

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/2/2026

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có Thông cáo báo chí chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/2/2026.

27/02/2026 17:17
Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/2/2026- Ảnh 1.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về việc đẩy mạnh việc sản xuất phối trộn, phân phối và sử dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh việc sản xuất phối trộn, phân phối và sử dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam 

Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn ký Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 26/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh việc sản xuất phối trộn, phân phối và sử dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.

Chỉ thị nêu, thực hiện Quyết định số 53/2012/QĐ-TTg ngày 22/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống, thời gian qua các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp đã tích cực triển khai nhiều giải pháp từ công tác quản lý, điều hành đến xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích sản xuất, tiêu thụ nhiên liệu sinh học; đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức xã hội, qua đó góp phần mở rộng sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học, thay thế dần nhiên liệu hóa thạch, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, cải thiện thu nhập cho người nông dân và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy mức tiêu thụ nhiên liệu sinh học hiện nay vẫn còn hạn chế, chưa đạt được các mục tiêu đề ra trong lộ trình.

Đẩy nhanh thực hiện các chương trình, dự án, đề án thí điểm mô hình mới gắn với nhiên liệu sinh học

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế và đẩy mạnh việc sản xuất, phối trộn, phân phối, sử dụng nhiên liệu sinh học theo lộ trình mới được Bộ Công Thương quy định, trên cơ sở quán triệt Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Quyết định số 876/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 phê duyệt Chương trình hành động chuyển đổi năng lượng xanh, giảm phát thải khí các-bon và khí mê-tan trong lĩnh vực giao thông vận tải, cam kết của Việt Nam về đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 tại Hội nghị COP26, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tiếp tục phát huy những kết quả đạt được thời gian qua, tập trung triển khai đồng bộ, thống nhất, kịp thời, hiệu quả các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm sau đây:

Bộ trưởng các bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố kịp thời lồng ghép, tích hợp mục tiêu thúc đẩy tiêu thụ nhiên liệu sinh học vào các chiến lược, đề án, quy hoạch, kế hoạch và các văn bản pháp luật của các ngành, lĩnh vực dự kiến ban hành trong thời gian tới.

Rà soát, đánh giá tiềm năng và hiệu quả của các ngành, lĩnh vực mới liên quan đến phát triển, sản xuất và tiêu thụ nhiên liệu sinh học. Đẩy nhanh thực hiện các chương trình, dự án, đề án thí điểm mô hình mới gắn với nhiên liệu sinh học, đặc biệt là trong giao thông, công nghiệp và nông nghiệp.

Đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục cho người dân, cộng đồng doanh nghiệp về vai trò, ý nghĩa, lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường của nhiên liệu sinh học; tăng cường phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các bộ, ngành, địa phương trong quá trình triển khai các nhiệm vụ thúc đẩy nhiên liệu sinh học.

Xây dựng lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các cơ quan liên quan tổ chức xây dựng kế hoạch chi tiết thực hiện lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống; bảo đảm cung ứng xăng sinh học ổn định, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước.

Đồng thời, chủ trì, phối hợp cùng các bộ, cơ quan liên quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo thẩm quyền của Bộ Công Thương về đầu tư xây dựng các dự án, công trình sản xuất nhiên liệu sinh học, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng phục vụ sản xuất và tiêu thụ nhiên liệu sinh học; kiểm tra, giám sát việc thực hiện theo quy định và thúc đẩy phát triển sản xuất nhiên liệu sinh học trong nước, từng bước bảo đảm tự chủ về nguồn cung E100.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các cơ quan liên quan tổ chức rà soát, xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến sản xuất, tồn trữ, phối trộn, pha chế, vận chuyển, phân phối, kinh doanh nhiên liệu sinh học, xăng sinh học E5, E10; tổ chức hướng dẫn, kiểm tra, giám sát hoạt động nhập khẩu, pha chế, phối trộn, phân phối, kinh doanh nhiên liệu sinh học, xăng sinh học.

Bên cạnh đó, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị các cấp có thẩm quyền ban hành chính sách giá, thuế, phí và các chính sách tài chính khác nhằm khuyến khích sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nhiên liệu sinh học; hướng dẫn phương pháp tính và các yếu tố hình thành giá bán xăng sinh học bảo đảm nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Theo dõi sát sao thị trường trong và ngoài nước, phân tích và dự báo diễn biến cung cầu nhiên liệu sinh học để bảo đảm nguồn cung ổn định, kịp thời đáp ứng nhu cầu tiêu thụ. Đồng thời, xây dựng các kịch bản ứng phó khi xảy ra biến động thị trường nhằm giảm thiểu rủi ro cho người tiêu dùng và doanh nghiệp.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ chỉ đạo đẩy mạnh các chương trình nghiên cứu, nâng cấp công nghệ, thiết bị, kỹ thuật sản xuất nhiên liệu sinh học E100, B100, nhiên liệu sinh học thế hệ thứ 2.

Ngoài ra, chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế để tiếp thu kinh nghiệm, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến về nhiên liệu sinh học, tranh thủ các nguồn lực về kỹ thuật, công nghệ, tài chính và đào tạo nguồn nhân lực để thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.

Chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các đơn vị truyền thông, các địa phương, các cơ quan liên quan xây dựng và triển khai các chương trình truyền thông về nhiên liệu sinh học để đẩy mạnh việc sử dụng nhiên liệu sinh học, xăng sinh học; huy động sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông trong cả nước tham gia truyền thông thực hiện lộ trình.

Trong quá trình triển khai thực hiện lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống, căn cứ tình hình thực tế, Bộ Công Thương tổng hợp, đánh giá tình hình thực tế về kinh tế, xã hội, kỹ thuật, công nghệ, cung, cầu, giá cả và những biến động khác có liên quan, Bộ trưởng Bộ Công Thương theo chức năng, thẩm quyền và quy định của pháp luật quyết định điều chỉnh tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống, bổ sung chủng loại mặt hàng xăng kinh doanh trên thị trường phù hợp để bảo đảm mục tiêu an ninh năng lượng, bảo vệ môi trường và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Nghiên cứu, ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư đối với dự án sản xuất, phối trộn, phân phối nhiên liệu sinh học

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư đối với dự án sản xuất, phối trộn, phân phối nhiên liệu sinh học, bảo đảm phù hợp với lộ trình phát triển.

Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường nghiên cứu, đề xuất chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư phát triển vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học.

Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các chính sách thuế, phí, lệ phí và ưu đãi nhập khẩu thiết bị, phụ tùng trong nước chưa sản xuất được, nhằm hỗ trợ các dự án, công trình sản xuất, phối trộn, phân phối và kinh doanh nhiên liệu sinh học.

Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan rà soát, sửa đổi các chính sách ưu đãi về thuế, phí đối với các nguyên liệu sản xuất nhiên liệu sinh học, sản phẩm nhiên liệu sinh học trong từng giai đoạn của lộ trình.

Đồng thời, rà soát, xây dựng, hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính và tình hình thực hiện các mục tiêu thúc đẩy tiêu thụ nhiên liệu sinh học, gắn với phát triển kinh tế - xã hội và các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính.

Huy động và bố trí nguồn lực tài chính trong và ngoài nước để đầu tư phát triển hạ tầng phục vụ nhiên liệu sinh học; phối hợp với các bộ, ngành liên quan xác định danh mục các dự án thí điểm, dự án trọng điểm cần ưu tiên đầu tư trong từng giai đoạn.

Rà soát, xây dựng, hoàn thiện và trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách ưu đãi tài chính, tín dụng nhằm khuyến khích sản xuất và tiêu thụ nhiên liệu sinh học, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông vận tải.

Ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng sản phẩm nhiên liệu sinh học, nhiên liệu truyền thống, xăng sinh học E10

Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức rà soát, hoàn thiện việc xây dựng và trình ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến chất lượng sản phẩm nhiên liệu sinh học, nhiên liệu truyền thống, xăng sinh học E10. Phối hợp với Bộ Công Thương rà soát, hoàn thiện các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan đến sản xuất, tồn trữ, phối trộn, pha chế, vận chuyển, phân phối, kinh doanh nhiên liệu sinh học, xăng sinh học E10 và chất lượng sản phẩm nhiên liệu sinh học, xăng sinh học E10; tham gia hướng dẫn, kiểm tra, giám sát hoạt động nhập khẩu, pha chế, phối trộn, phân phối, kinh doanh nhiên liệu sinh học, xăng sinh học.

Chủ trì, phối hợp với các bộ, các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức rà soát, cải cách, giảm thiểu thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký cơ sở pha chế xăng dầu; thủ tục về pha chế, phối trộn nhiên liệu sinh học.

Chủ trì, phối hợp với các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ tiên tiến trong sản xuất, bảo quản và sử dụng nhiên liệu sinh học.

Bên cạnh đó, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực nhiên liệu sinh học, hỗ trợ doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo triển khai các dự án nghiên cứu, ứng dụng lĩnh vực nhiên liệu sinh học.

Chỉ đạo việc kiểm tra, kiểm định nghiêm ngặt các thiết bị đo lường trong sản xuất, phân phối nhiên liệu sinh học và việc bảo đảm tỷ lệ phối trộn, chất lượng sản phẩm theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và tiêu chuẩn công bố áp dụng đối với các sản phẩm nhiên liệu sinh học.

Bộ Xây dựng đẩy mạnh sử dụng nhiên liệu sinh học đối với phương tiện, thiết bị giao thông vận tải; phối hợp với Bộ Công Thương xây dựng chính sách khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học đối với phương tiện, thiết bị giao thông vận tải.

Đồng thời, tổ chức nghiên cứu, thử nghiệm đánh giá hiệu quả sử dụng nhiên liệu sinh học trên các loại hình phương tiện, thiết bị giao thông vận tải; đề xuất giải pháp kỹ thuật phù hợp để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nhiên liệu sinh học trong lĩnh vực giao thông vận tải. Tổ chức nghiên cứu và đề xuất cơ quan có thẩm quyền ban hành chính sách về phát triển nhiên liệu hàng không bền vững.

Phát triển, bảo đảm vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học theo hướng bền vững

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành và địa phương liên quan phát triển, bảo đảm vùng nguyên liệu phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học theo hướng bền vững.

Phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan đề xuất cơ chế, chính sách ưu đãi và hỗ trợ sản xuất, thu mua nguyên liệu sinh khối phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học trong nước.

Đẩy mạnh các chương trình nghiên cứu, chọn tạo, nhập khẩu, phát triển giống cây trồng, vật liệu sinh khối có năng suất, chất lượng cao; hướng dẫn kỹ thuật canh tác, thu hoạch và bảo quản phù hợp cho sản xuất nhiên liệu sinh học.

Bên cạnh đó, khuyến khích sản xuất nguyên liệu sinh học từ cây trồng phi lương thực, phụ phẩm nông nghiệp và chất thải hữu cơ; nhân rộng các mô hình nông nghiệp tuần hoàn gắn sản xuất nhiên liệu sinh học với nông nghiệp sạch, kinh tế nông thôn xanh.

Lồng ghép mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính liên quan đến sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học vào các chiến lược, chương trình, kế hoạch về biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và kinh tế tuần hoàn quốc gia.

Tăng cường quản lý, giám sát, đánh giá tác động môi trường trong quá trình sản xuất nhiên liệu sinh học, đặc biệt là trong sản xuất, hướng dẫn việc xử lý chất thải, tái chế, tái sử dụng nhằm giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng chương trình giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao nhận thức cho học sinh, sinh viên về nhiên liệu sinh học, xăng sinh học và vai trò của nhiên liệu sinh học, xăng sinh học đối với phát triển bền vững.

Tổ chức các cuộc thi, dự án nghiên cứu và sáng kiến sinh viên nhằm tìm kiếm giải pháp sáng tạo trong nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng nhiên liệu sinh học.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tăng cường truyền thông về lợi ích của nhiên liệu sinh học thông qua các hoạt động văn hóa, sự kiện thể thao và các chương trình du lịch xanh.

Hỗ trợ xây dựng các mô hình du lịch bền vững sử dụng nhiên liệu sinh học tại các khu du lịch sinh thái và di sản.

Đề xuất chính sách ưu đãi và hỗ trợ xã hội cho các lao động tham gia vào ngành sản xuất nhiên liệu sinh học

Bộ Nội vụ tăng cường đào tạo nguồn nhân lực (cán bộ, công chức, viên chức) có kỹ năng cao để phục vụ ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học.

Đề xuất chính sách ưu đãi và hỗ trợ xã hội cho các lao động tham gia vào ngành sản xuất nhiên liệu sinh học, đặc biệt tại khu vực nông thôn.

Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Công Thương và các bộ, ngành, cơ quan liên quan thúc đẩy hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn hỗ trợ tài chính, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm từ các nước phát triển tiên tiến trong phát triển và tiêu thụ nhiên liệu sinh học.

Thúc đẩy tuyên truyền đối ngoại và tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực về các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nỗ lực, đóng góp, thành tựu của Việt Nam liên quan đến nhiên liệu sinh học.

Đồng thời, tăng cường quảng bá hình ảnh Việt Nam như một quốc gia đi đầu trong sử dụng nhiên liệu sinh học thông qua các diễn đàn và tổ chức quốc tế.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ban hành các văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện lộ trình áp dụng tỷ lệ phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống; xây dựng và ban hành hoặc đề xuất chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất nhiên liệu sinh học, phù hợp với quy định của Nhà nước và đặc thù địa phương.

Tạo điều kiện và hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học, hạ tầng phối trộn, pha chế, phân phối và kinh doanh xăng sinh học phù hợp với điều kiện địa phương; theo dõi, đánh giá thường xuyên việc thực hiện kế hoạch phát triển chuỗi nhiên liệu sinh học.

Bên cạnh đó, chủ trì kiểm tra, giám sát việc thực hiện lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học với nhiên liệu truyền thống trên địa bàn, phân phối và kinh doanh xăng sinh học trên địa bàn; phối hợp với Bộ Công Thương trong công tác kiểm tra, giám sát liên ngành để bảo đảm tuân thủ quy định về chất lượng và nguồn cung nhiên liệu sinh học.

Chủ động triển khai các hoạt động truyền thông, tuyên truyền cộng đồng về nhiên liệu sinh học, xăng E10 trên địa bàn, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với định hướng và nội dung truyền thông quốc gia do Bộ Công Thương chủ trì.

Báo Nhân Dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam và các cơ quan thông tấn, báo chí đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến thông tin về nhiên liệu sinh học và các lợi ích của việc tiêu thụ nhiên liệu sinh học qua các kênh truyền thông chính thống và mạng xã hội.

Tổ chức các chiến dịch truyền thông nhằm thay đổi thói quen tiêu dùng và khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học trong cộng đồng.

Ưu tiên tiêu thụ nguồn xăng không chì và E100 sản xuất trong nước để pha chế xăng sinh học tại Việt Nam

Cộng đồng doanh nghiệp, các hiệp hội ngành nghề có liên quan chủ động tham gia nghiên cứu, sản xuất, phân phối, ứng dụng và quảng bá nhiên liệu sinh học, góp phần thúc đẩy thị trường phát triển ổn định.

Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước xây dựng và thực hiện các giải pháp ứng dụng nhiên liệu sinh học trong sản xuất, kinh doanh theo hướng tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải.

Tuân thủ các quy hoạch phát triển, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và quy định pháp luật về chất lượng sản phẩm nhiên liệu sinh học.

Phối hợp với chính quyền địa phương phát triển vùng nguyên liệu phù hợp, ưu tiên sử dụng nguyên liệu trong nước phục vụ sản xuất và xuất khẩu nhiên liệu sinh học.

Bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm nhiên liệu sinh học sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh; tổ chức nhập khẩu E100 theo quy định để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước. Đảm bảo nguồn cung xăng sinh học trong nước và nhập khẩu để phục vụ sản xuất, kinh doanh, cung ứng đầy đủ theo nhu cầu thị trường trong nước.

Đầu tư, duy trì và vận hành hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ phối trộn, pha chế, vận chuyển và phân phối nhiên liệu sinh học, bảo đảm nguồn cung ổn định, đầy đủ cho thị trường trong nước.

Ưu tiên tiêu thụ nguồn xăng không chì và E100 sản xuất trong nước để pha chế xăng sinh học tại Việt Nam.

Đảm bảo cơ sở hạ tầng hệ thống phân phối đầy đủ, đáp ứng nhu cầu lưu trữ, phối trộn, pha chế, vận chuyển, kinh doanh, phân phối xăng sinh học.

Cung cấp thông tin, số liệu liên quan đến hoạt động sản xuất, phân phối và tiêu thụ nhiên liệu sinh học khi cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu, phục vụ công tác điều hành và dự báo thị trường.

Các viện nghiên cứu, học viện, trường đại học tăng cường nghiên cứu cơ bản và ứng dụng liên quan đến phát triển nhiên liệu sinh học. Hợp tác với các doanh nghiệp và tổ chức quốc tế trong việc thử nghiệm và ứng dụng các công nghệ mới. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành nhiên liệu sinh học, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành thực tế.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về tiến độ và kết quả triển khai đẩy mạnh tiêu thụ nhiên liệu sinh học theo chức năng, nhiệm vụ và phạm vi quản lý; định kỳ hằng năm (trước ngày 10/12) báo cáo tình hình, kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao về Bộ Công Thương để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Thủ tướng Chính phủ phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn trực tiếp chỉ đạo; các Phó Thủ tướng Chính phủ theo lĩnh vực được phân công phụ trách tập trung chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khẩn trương tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao tại Chỉ thị này, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh theo thẩm quyền; kịp thời báo cáo cấp có thẩm quyền đối với những trường hợp vượt thẩm quyền.

Giao Bộ Công Thương theo chức năng, nhiệm vụ được giao theo dõi, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/2/2026- Ảnh 2.

Đề án chuyển đổi số toàn diện lĩnh vực Nội vụ đến năm 2030, định hướng 2045.

Phê duyệt Đề án Chuyển đổi số toàn diện lĩnh vực Nội vụ phục vụ người dân và doanh nghiệp đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng ký Quyết định số 350/QĐ-TTg ngày 26/02/2026 phê duyệt Đề án Chuyển đổi số toàn diện lĩnh vực Nội vụ phục vụ người dân và doanh nghiệp đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 (Đề án).

Mục tiêu của Đề án nhằm thực hiện chuyển đổi số toàn diện, đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước của ngành Nội vụ từ trung ương đến địa phương, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ; xây dựng nền hành chính phục vụ chuyên nghiệp, hiện đại, minh bạch, vận hành dựa trên dữ liệu, có năng lực phân tích, dự báo và thích ứng linh hoạt; phấn đấu ngành Nội vụ trở thành ngành tiêu biểu trong chuyển đổi số thực thi công vụ.

Đến năm 2030, cơ bản hoàn thành hạ tầng số, dữ liệu số, nền tảng số và ứng dụng dùng chung trong toàn ngành; đến năm 2035, hình thành nền hành chính số và mô hình quản trị hiện đại ngành Nội vụ, thống nhất, liên thông, góp phần phát triển Chính phủ số; đến năm 2045, ngành Nội vụ vận hành hoàn toàn trên nền tảng số thông minh, dựa trên dữ liệu và công nghệ số thông minh.

Phấn đấu đến 2030, 100% hoạt động tương tác giữa người dân, doanh nghiệp với cơ quan hành chính Nội vụ được thực hiện thông suốt trên môi trường số

Mục tiêu đến năm 2030, xây dựng, hoàn thiện hạ tầng dữ liệu và nền tảng số ngành Nội vụ. Triển khai 100% cơ sở dữ liệu lĩnh vực Nội vụ theo mô hình thống nhất, tập trung, bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu với Trung tâm Dữ liệu quốc gia theo lộ trình.

Hình thành, phát triển, hoàn thiện kho dữ liệu tập trung lĩnh vực Nội vụ, bảo đảm kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành, giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp.

Hoàn thành xây dựng, vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm phục vụ 100% nhiệm vụ quản lý cán bộ, công chức, viên chức.

Hoàn thành xây dựng, vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội, đáp ứng tối thiểu 80% yêu cầu thực hiện chính sách an sinh xã hội của các cơ quan có thẩm quyền.

Phát triển dịch vụ công trực tuyến toàn trình phục vụ người dân và doanh nghiệp, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Phấn đấu 100% thủ tục hành chính lĩnh vực Nội vụ được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình, kết nối, liên thông với Cổng Dịch vụ công quốc gia; 100% các biểu mẫu điện tử thực hiện dịch vụ công trực tuyến lĩnh vực Nội vụ được ứng dụng trí tuệ nhân tạo và trợ lý ảo để hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính.

Bảo đảm 100% hoạt động tương tác giữa người dân, doanh nghiệp với cơ quan hành chính nhà nước lĩnh vực Nội vụ được thực hiện thông suốt trên môi trường số (trừ nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước), thông qua Cổng/Trang thông tin điện tử, Cổng Dịch vụ công và các hệ thống thông tin theo quy định pháp luật, bảo đảm tiếp nhận, xử lý, phản hồi và trả kết quả kịp thời, an toàn, thuận tiện.

Nâng cao năng lực số của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành Nội vụ, đồng thời nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng của người dân, doanh nghiệp đối với thông tin, dịch vụ công trực tuyến toàn trình, các nền tảng số và hệ thống thông tin lĩnh vực Nội vụ trên môi trường số. Bảo đảm 100% cán bộ, công chức, viên chức trong ngành Nội vụ sử dụng thành thạo các nền tảng số, hệ thống thông tin, ứng dụng dùng chung trong xử lý, giải quyết thủ tục hành chính, thực hiện nghiệp vụ chuyên môn trên môi trường số.

Bảo đảm điều kiện để 100% người dân, doanh nghiệp có khả năng tiếp cận, sử dụng thuận tiện các dịch vụ công trực tuyến toàn trình trong lĩnh vực Nội vụ, bao gồm tra cứu thông tin, nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ và nhận kết quả giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường số.

Mục tiêu 100% dữ liệu mở, dùng chung được chuẩn hóa, cập nhật, bảo đảm truy cập, khai thác và tái sử dụng trên môi trường số

Đẩy mạnh hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực Nội vụ trên môi trường điện tử. Phấn đấu trên 95% hồ sơ công việc tại các cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực Nội vụ được xử lý trên môi trường điện tử (đối với hồ sơ thuộc phạm vi bí mật nhà nước thì thúc đẩy việc xử lý trên hệ thống/mạng phù hợp theo quy định pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước) và sử dụng chữ ký số chuyên dùng chính phủ để giải quyết công việc.

Trên 95% văn bản, hồ sơ công việc tại các cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực Nội vụ được xử lý toàn trình trên môi trường điện tử.

Trên 95% các quy trình nghiệp vụ nền tảng (lõi) tại các cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực Nội vụ được tái cấu trúc, chuẩn hóa, số hóa và được đưa lên môi trường số.

Trên 95% các cơ quan quản lý nhà nước ngành Nội vụ tổ chức thực hiện quản lý, chỉ đạo, điều hành và tác nghiệp trên môi trường điện tử, thông qua các hệ thống thông tin, nền tảng số và quy trình điện tử thống nhất.

Trên 95% các quyết định quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước ngành Nội vụ được đưa ra trên cơ sở phân tích, khai thác dữ liệu, thông qua các hệ thống hỗ trợ chỉ đạo, điều hành, bảo đảm tính khách quan, khoa học và hiệu quả.

Phát triển dữ liệu mở, dữ liệu dùng chung, bảo đảm 100% cơ sở dữ liệu lĩnh vực Nội vụ được rà soát, chuẩn hóa và xác định rõ danh mục dữ liệu dùng chung, dữ liệu mở phục vụ quản lý nhà nước, chỉ đạo, điều hành và giải quyết thủ tục hành chính trong toàn ngành, kết nối, chia sẻ với các bộ, ngành, địa phương.

Tối thiểu 70% dữ liệu đủ điều kiện trong lĩnh vực Nội vụ được công bố dưới dạng dữ liệu mở, phục vụ người dân, doanh nghiệp và xã hội khai thác, sử dụng.

100% dữ liệu dùng chung, dữ liệu mở lĩnh vực Nội vụ được chuẩn hóa, cập nhật định kỳ, bảo đảm khả năng truy cập, khai thác và tái sử dụng thuận tiện trên môi trường số.

Thúc đẩy định danh, xác thực điện tử và số hóa hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức và các nhóm đối tượng chính sách thuộc phạm vi quản lý. Phấn đấu 100% cán bộ, công chức, viên chức được gắn định danh điện tử thống nhất; tối thiểu 70% thông tin, hồ sơ quản lý của cán bộ, công chức, viên chức được số hóa, chuẩn hóa và lưu trữ tập trung trong các cơ sở dữ liệu lĩnh vực Nội vụ.

Tối thiểu 70% các nhóm đối tượng chính sách thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành Nội vụ được gắn định danh điện tử thống nhất; tối thiểu 70% các nhóm đối tượng chính sách thuộc phạm vi quản lý nhà nước được số hóa, chuẩn hóa và lưu trữ tập trung trong các cơ sở dữ liệu lĩnh vực Nội vụ.

Bảo đảm tối thiểu 95% người dân, doanh nghiệp đánh giá ở mức độ hài lòng khi thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến

Đẩy mạnh chi trả không dùng tiền mặt trong an sinh xã hội. Bảo đảm tối thiểu 75% đối tượng hưởng chính sách an sinh xã hội nhận trợ cấp thường xuyên thông qua phương thức chi trả không dùng tiền mặt; đồng thời tiếp tục triển khai các giải pháp hỗ trợ, tạo điều kiện mở rộng phạm vi tiếp cận hình thức chi trả không dùng tiền mặt đối với các nhóm đối tượng khác.

Nâng cao chất lượng phục vụ và mức độ hài lòng. Bảo đảm tối thiểu 95% người dân, doanh nghiệp đánh giá ở mức độ hài lòng trở lên khi thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến lĩnh vực Nội vụ.

Về vấn đề an toàn thông tin, an ninh mạng, bảo đảm 100% hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu thuộc phạm vi quản lý của ngành Nội vụ được xác định, phê duyệt cấp độ an toàn thông tin và triển khai đầy đủ các biện pháp bảo đảm an toàn theo cấp độ, được giám sát, vận hành an toàn, liên tục.

100% hệ thống thông tin trọng yếu của ngành Nội vụ được bảo đảm an toàn, an ninh mạng theo mô hình nhiều lớp, kết nối, chia sẻ thông tin giám sát với hệ thống điều hành an ninh mạng quốc gia; kịp thời phát hiện, cảnh báo và xử lý sự cố.

100% dữ liệu, hồ sơ, văn bản điện tử, bao gồm cả dữ liệu mật và dữ liệu nhạy cảm, được bảo vệ an toàn trong suốt vòng đời xử lý, có biện pháp phòng, chống thất thoát, rò rỉ dữ liệu; định kỳ tổ chức đánh giá tổng thể về an ninh mạng, an toàn dữ liệu trong toàn ngành.

Phấn đấu đến năm 2035, ứng dụng trợ lý ảo, trí tuệ nhân tạo trong quản trị và dự báo nhu cầu giải quyết thủ tục hành chính

Trên cơ sở các chỉ tiêu đã đạt được đến năm 2030, phấn đấu đến năm 2035 các chỉ tiêu chủ yếu của ngành Nội vụ được hoàn thiện ở mức cao, tiệm cận 100%, bảo đảm vận hành ổn định, đồng bộ và bền vững, có tính dự báo với độ chính xác cao.

Thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến lĩnh vực Nội vụ được cung cấp theo phương thức chủ động, tự động, dựa trên dữ liệu số; người dân, doanh nghiệp không phải nộp hồ sơ lập lại; ứng dụng trợ lý ảo, trí tuệ nhân tạo trong quản trị và dự báo nhu cầu giải quyết thủ tục hành chính, nhu cầu nhân lực công, hỗ trợ sắp xếp tổ chức, bộ máy tối ưu.

Dữ liệu lĩnh vực Nội vụ trở thành nguồn lực cốt lõi, tài nguyên số, tài sản số, được quản trị tập trung, chia sẻ hiệu quả, phục vụ quản lý, điều hành và xây dựng chính sách.

Quản lý, chỉ đạo, điều hành chuyển sang mô hình dựa trên dữ liệu, với đa số quyết định quản lý được hỗ trợ bởi phân tích dữ liệu và hệ thống thông minh.

Ngành Nội vụ giữ vai trò tiêu biểu trong chuyển đổi số khu vực công, góp phần phát triển Chính phủ số, Chính phủ thông minh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Tầm nhìn đến năm 2045, chuyển đổi số lĩnh vực Nội vụ đóng góp tích cực để hệ thống chính sách xã hội phát triển toàn diện, bền vững, tiến bộ và công bằng, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước và xây dựng con người Việt Nam toàn diện, giúp người dân tham gia các hoạt động xã hội toàn diện, thụ hưởng chính sách an sinh xã hội thuận lợi hơn, góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia số.

Hoạt động quản lý, chỉ đạo, điều hành của ngành Nội vụ được hỗ trợ bởi các hệ thống phân tích dữ liệu, trợ lý ảo và trí tuệ nhân tạo, nâng cao chất lượng ra quyết định.

Hầu hết các quy trình nghiệp vụ cốt lõi trong ngành Nội vụ được tự động hóa ở mức cao, vận hành thông suốt trên môi trường số, bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu.

Chuyển đổi số lĩnh vực Nội vụ giữ vai trò nòng cốt về thể chế, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực góp phần hiện thực hóa mục tiêu Việt Nam thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chỉ số Chính phủ điện tử, quản trị công và cung cấp dịch vụ công.

Quyết định về nhân sự Bộ Quốc phòng 

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký các quyết định thôi giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam với 5 Thượng tướng quân đội.

Cụ thể, tại các Quyết định 343/QĐ-TTg, 347/QĐ-TTg, 348/QĐ-TTg, 349/QĐ-TTg ngày 26/2/2026, Thủ tướng Chính phủ quyết định 4 đồng chí Thượng tướng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII: Hoàng Xuân Chiến, Lê Huy Vịnh, Võ Minh Lương và Vũ Hải Sản thôi giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nghỉ công tác kể từ ngày 01/3/2026.

Tại Quyết định số 346/QĐ-TTg ngày 26/2/2026, Thủ tướng Chính phủ quyết định đồng chí Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, thôi giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nghỉ công tác kể từ ngày 01/3/2026.

Quyết định về nhân sự Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký các quyết định về nhân sự lãnh đạo Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Cụ thể, theo Quyết định số 344/QĐ-TTg ngày 26/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ, ông Châu Văn Minh, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam thôi giữ chức Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam để bố trí công tác khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

Tại Quyết định số 345/QĐ-TTg ngày 26/2/2026, Thủ tướng Chính phủ giao ông Trần Hồng Thái, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Thường trực Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam điều hành hoạt động của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đến khi cấp có thẩm quyền kiện toàn chức danh Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam theo quy định.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ngày 27/2/2026- Ảnh 3.

Triển khai lộ trình sản xuất, phối trộn và sử dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam

Triển khai lộ trình sản xuất, phối trộn và sử dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam 

Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản số 1723/VPCP-CN ngày 27/2/2026 truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn về triển khai lộ trình sản xuất, phối trộn và sử dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam.

Cụ thể, Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương và các Bộ, ngành, địa phương, cơ quan liên quan tổ chức triển khai lộ trình sản xuất, phối trộn và sử dụng nhiên liệu sinh học tại Việt Nam nghiêm túc, đồng bộ, hiệu quả, không để xảy ra ách tắc, chậm trễ; chủ động rà soát, dự báo và lường trước các vấn đề có thể phát sinh trong quá trình thực hiện để kịp thời có biện pháp xử lý phù hợp.

Đồng thời, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nhằm tạo sự đồng thuận và khuyến khích người tiêu dùng tích cực hưởng ứng, ủng hộ./.